BÁO CÁO THỰC TẬP Cho vay tiêu dùng tại phòng giao dịch Tôn Đức Thắng, ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu, chi nhánh Hà Nội Thực trạng và giải pháp - Pdf 23

Báo cáo kiến tập
Mục lục
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 1 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
Danh mục các từ viết tắt
ACB: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
NHTM: ngân hàng thương mại
NHNN: ngân hàng nhà nước
PGD: phòng giao dich
CVTD: cho vay tiêu dùng
KHCN: khách hàng cá nhân
KHDN: khách hàng doanh nghiệp
Danh mục các bảng biểu
Bảng 1: tình hình hoạt động chung của phòng giao dịch Tôn Đức Thắng
Bảng 2: tình hình huy động vốn của phòng giao dịch trong thời gian từ 06/2008-
05/2011
Bảng 3: số liệu tổng hợp về hoạt động cho vay của phòng giao dịch
Bảng 4: số liệu về hoạt động dịch vụ của PGD trong thời gian từ cuối năm 2008 đến
30/06/2011
Bảng 5: quy mô hoạt động cho vay tiêu dùng
Bảng 6: dư nợ cho vay tiêu dùng
Bảng 7: tỷ trọng dư nợ cho vay tiêu dùng trong tổng dư nợ
Bảng 8: kết quả hoạt động cho vay tiêu dùng giai đoạn 2008-2010
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 2 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
Lời mở đầu
Trong nền kinh tế cạnh tranh ngày càng gay gắt hiện nay, nhất là sau khi Việt
Nam gia nhập tổ chức Thương mại thế giới (WTO), các ngân hàng thương mại
(NHTM) muốn tồn tại và phát triển thì phải không ngừng tự hoàn thiện và làm mới

Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại phòng giao dịch
Tôn Đức Thắng.
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 3 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
Chương I: Cở sở lý luận về cho vay tiêu dùng tại
các NHTM
I. Khái quát về NHTM
1.1. Khái niệm và đặc điểm NHTM
Hoạt động ngân hàng, với các nghiệp vụ truyền thống là nhận tiền gửi, cho
vay và cung ứng dịch vụ thanh toán cho khách hàng, ra đời khi quan hệ sản xuất và
trao đổi hàng hóa của xã hội đã phát triển ở mức độ cao. Quá trình hoàn thiện các
nghiệp vụ ngân hàng và sự ra đời một ngân hàng hoàn chỉnh kéo dài hàng nghìn
năm, bắt đầu từ hoạt động ngân hàng sơ khai vào khoảng 3.500 năm trước Công
nguyên cùng với sự khởi đầu của các thiết chế tổ chức xã hội. Như vậy NHTM đã
hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế
hàng hóa. Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng
đến quá trình phát triển của nền kinh tế và trở thành những định chế tài chính
không thể thiếu được.
Cho đến thời điểm này có rất nhiều khái niệm về NHTM.
- Ở Mỹ : Ngân hàng thương mại là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp
dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính.
- Đạo luật ngân hàng của Pháp (1941) cũng đã định nghĩa: “Ngân hàng thương
mại là những xí nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền
bạc của công chúng dưới hình thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử
dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và
tài chính”.
- Tại Việt Nam : theo Luật tổ chức tín dụng số 02/ 97/ QH 10 ngày 12/12/1997
định nghĩa NHTM là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt
động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Trong đó, hoạt

hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi
của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của
khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các NHTM
cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm chi,
ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng
có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế
không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán
dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản
thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại
đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng
hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển
kinh tế. Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàng
thông qua việc thu phí thanh toán. Chức năng này cũng chính là cơ sở hình thành chức
năng tạo tiền của NHTM.
1.2.3. Chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát
triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã
vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Khi ngân hàng chỉ thực
hiện chức năng nhận tiền gửi mà chưa cho vay, ngân hàng chưa hề tạo tiền, chỉ khi
thực hiện cho vay, ngân hàng mới bắt đầu tạo tiền. Đó là một phát minh lớn trong hoạt
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 5 -
Mã sinh viên: 0853030051
ủy thác
ngân hàng
Đầu tư
Báo cáo kiến tập
động ngân hàng.Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của
NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung
gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra

và ổn định, đa dạng hóa các hình thức và lãi suất tiền gửi, giấy nợ nhằm thu hút được
nhiều vốn nhất trong giới hạn có thể.
1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn
Là hoạt động mà ngân hàng sử dụng nguồn vốn để đầu tư hoặc cấp tín dụng
( cho vay, cho thuê, ). Hoạt động tín dụng là hoạt động chiếm tỉ trọng lớn nhất trong
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 6 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
tổng tài sản của ngân hàng và là hoạt động màn lại nhiều lợi nhuận nhất cho ngân
hàng. Tuy nhiên hoạt động đầu tư và tín dụng cũng mang lại khá nhiều rủi ro do đó
ngân hàng rất cẩn trọng khi thực hiện các nghiệp vụ này.
1.3.3. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ
Ngân hàng đứng ra mua hoặc bán ngoại tệ và thu lợi nhuận nhờ chênh lệch tỉ
giá và thu phí dịch vụ. Ngày nay, hoạt động này được mở rộng với rất nhiều hình thức
và nghiệp vụ phong phú : mua bán, trao đổi, gửi vay các loại ngoại tệ thông qua các
hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng giao ngay, hợp đồng hoán đổi, hợp đồng quyền chọn, hợp
đồng tương lai.Các NHTM tham gia kinh doanh ngoại hối với hai mục đích chính :
một là ngân hàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng chủ yếu là mua hộ và bán hộ ,
thông qua đó ngân hàng thu một khoản phí dịch vụ ; hai là ngân hàng kinh doanh
ngoại hối nhằm kiếm lời khi tỷ giá trên thị trường biến động.
1.3.4. Các hoạt động khác
Các hoạt động của ngân hàng càng ngày càng được mở rộng và phát triển. Peter
Rose có nói : “NHTM thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.”
Một số các hoạt động khác của ngân hàng có thể kể đến đó là :cung cấp các tài
khoản giao dịch và thực hiện thanh toán, quản lí ngân quỹ, dịch vụ ủy thác và tư vấn,
dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, … Các hoạt động này mang lại thu
nhập cho ngân hàng thông qua việc ngân hàng thu các khoản phí dịch vụ. Có thể nói
các hoạt động này chứa đựng ít rủi ro nên các ngân hàng hiện đại đang ngày càng mở
rộng các hoạt động dịch vụ này.

vốn cho xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc
cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
1.4.2.2. Căn cứ theo tính chất đảm bảo của vốn vay
- Cho vay có đảm bảo không bằng tài sản : nghĩa là cho vay mà không cần tài
sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa vào
phương án vay vốn khả thi, uy tín của bản thân khách hàng hoặc của người bảo lãnh.
- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản : nghĩa là cho vay có tài sản cầm cố, thế
chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, hoặc bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay.
Sự bảo đảm này chính là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu nợ thứ
hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
1.4.2.3. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay
- Cho vay đầu tư kinh doanh : được dùng để cấp vốn cho các nhà doanh nghiệp
và các chủ thể kinh tế khác để tiến hành sản xuất và kinh doanh.
- Cho vay tiêu dùng : là hình thức cấp tín dụng cho các cá nhân để đáp ứng nhu
cầu tiêu dùng như : mua sắm nhà cửa, xe cộ, máy giặt, tủ lạnh và các nhu cầu bình
thường hàng ngày. Đây là loại tín dụng có khả năng sinh lời khá lời, góp phần nâng
cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
- Cho vay nông nghiệp : là hình thức cấp phát tín dụng đáp ứng nhu cầu vay
vốn của nông dân sản xuất nông nghiệp.
1.4.3. Nguyên tắc cho vay
- Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Hoàn trả nợ gốc và lãi vốn vay đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng.
1.4.4. Điều kiện cho vay
- Có đủ năng lực pháp lý
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp.
- Có đủ khả năng tài chính để đảm bảo trả nợ trong thời hạn cảm kết.
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 8 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
- Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi và có hiệu

lại có số lượng rất lớn, đa dạng do nhu cầu của con người không bao giờ có giới hạn.
- Lãi suất của các khoản cho vay tiêu dùng hầu như là cao hơn so với những
khoản vay khác trong ngân hàng do độ rủi ro của khoản vay này cao và khó kiểm soát.
Bởi vì nguồn trả nợ là thu nhập thường xuyên của người đi vay nhưng người đi vay có
thể ốm, tai nạn, mất việc,… bất cứ khi nào mà ngân hàng sẽ không dự đoán trước
được. Việc thẩm định khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình khó khăn hơn nhiều
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 9 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
so với các doanh nghiệp bởi vì đối với các doanh nghiệp ngân hàng có thể thẩm định
khả năng trả nợ thông qua các báo cáo tài chính đã được kiểm toán độc lập, còn các cá
nhân và hộ tiêu dùng ngân hàng chỉ có thể dựa vào tài sản cá nhân, lương và các khoản
thu nhập khác.
- Các khoản cho vay tiêu dùng có chi phí khá lớn, việc thẩm định các khoản cho
vay thường tốn nhiều thời gian và tiền bạc. Điều này là do chi phí cho bất kì một
khoản vay nào cũng bao gồm thẩm định khách hàng, chi phí đi lại, chi phí thông tin,

- Thông thường các cá nhân và hộ gia đình khi xin vay tiêu dùng thường chỉ
vay một lần, ít khi có nhu cầu vay lại, điều này không giống như cho vay kinh doanh.
Các doanh nghiệp có nhu cầu về vốn phát sinh theo chu kì sản xuất kinh doanh do đó
hay lặp đi lặp lại. Do đó nếu không có các giải pháp mở rộng cho vay tiêu dùng thì
ngân hàng sẽ dần mất đi nguồn khách hàng tiềm năng này.
- Nhu cầu vay tiêu dùng của khách hàng thường phụ thuộc vào chu kỳ của nền
kinh tế. Nó tăng lên trong thời kỳ nền kinh tế mở rộng, khi mọi người lạc quan về
tương lai. Ngược lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, rất nhiều hộ gia đình cảm thấy
không tin tưởng và đặc biệt khi họ thấy tình trạng thất nghiệp gia tăng thì họ sẽ hạn
chế vay tiền từ ngân hàng.
- Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu
vay tiêu dùng của khách hàng.
- Khi vay tiền, người tiêu dùng dường như kém nhạy cảm với lãi suất. Họ quan

những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hóa hay dịch vụ cho người tiêu dùng.
Cho vay tiêu dùng gián tiếp thường được thực hiện theo sơ đồ sau:
(5)
(1)
(3) (4)
(2)
(1) : ngân hàng ký kết hợp đồng mua bán nợ với công ty bán lẻ
(2) : công ty bán lẻ và người tiêu dùng ký hợp đồng mua bán chịu
hàng hóa. Thông thường người tiêu dùng sẽ trả một phần giá trị
tài sản cần mua. Sau đó công ty bán lẻ giao hàng cho người tiêu
dùng.
(3) : Công ty bán lẻ đem chứng từ bán chịu hàng hóa đến ngân
hàng.
(4) : Ngân hàng thanh toán tiền cho công ty bán lẻ.
(5) : Người tiêu dùng thanh toán tiền trả góp cho ngân hàng
Với hình thức cho vay tiêu dùng gián tiếp này giúp ngân hàng dễ dàng tăng
doanh số cho vay tiêu dùng, giảm được chi phí trong cho vay, mở rộng các mối quan
hệ với khách hàng và các hoạt động khác của ngân hàng. Tuy nhiên, do ngân hàng
không được trực tiếp tiếp xúc với khách hàng nên sẽ khó kiểm soát được họ do đó độ
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 11 -
Mã sinh viên: 0853030051
Ngân hàng
Người tiêu
dùng
Công ty
bán lẻ
Báo cáo kiến tập
rủi ro cao. Vì vậy, để thực hiện cần phải có những cán bộ tín dụng có trình độ chuyên
môn cao.
2.2.3.2. Cho vay tiêu dùng trực tiếp.

dùng
Công ty
bán lẻ
Báo cáo kiến tập
minh nguồn thu nhập nếu có; hộ khẩu, chứng minh nhân dân và các giấy tờ liên quan
khác.
- Bước 2: Thẩm định tín dụng.
Đây là khâu quan trọng trong quy trình cho vay tiêu dùng, bao gồm các nội
dung sau :
+ Thẩm định tư cách đạo đức của khách hàng. Nghĩa là, khách hàng phải có đủ
năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự , đủ tư cách pháp lý vay vốn ngân hàng.
+ Thẩm định mục đích sử dụng tiền vay. Ngân hàng sẽ chỉ cho khách hàng vay
để mua sắm hoặc sửa chữa tài sản, hàng hóa mà pháp luật không cấm và phù hợp với
chính sách tín dụng của từng ngân hàng.
+ Thẩm định tình hình tài chính và khả năng thanh toán.Ngân hàng sẽ xác định
mức thu nhập, việc làm, số dư các tài khoản tiền gửi và nơi cư trú của khách hàng.
+ Thẩm định tài sản đảm bảo. Định gia tài sản đảm bảo cũng là một việc rất
quan trọng trong quá trình thẩm định.Cán bộ tín dụng sẽ kiểm tra quyền sở hữu hoặc
sử dụng tài sản hợp pháp của khách hàng, khả năng chuyển nhượng của tài sản.
+ Lập báo cáo thẩm định. Sau khi thẩm định hồ sơ vay vốn của khách hàng, cán
bộ tín dụng đưa ra những đánh giá về khách hàng và ý kiến cho vay hay không cho
vay đối với khách hàng.
- Bước 3: Xét duyệt và quyết định cho vay.Cán bộ tín dụng sẽ trình báo cáo
thẩm định kèm theo hồ sơ vay vốn liên quan lên Trưởng phòng tín dụng. Nếu có sai
sót hay thiếu thì Trưởng phòng tín dụng sẽ yêu cầu bổ sung và sửa chữa. Cuối cùng,
báo cáo được nộp lên Hội đồng tín dụng- nơi thực hiện và chịu trách nhiệm về cho vay
hay không đôi với khách hàng.
- Bước 4: Hoàn tất các thủ tục pháp lý trước khi giải ngân.
- Bước 5: Kiểm tra sau khi giải ngân và phát hiện nhu cầu mới của khách hàng.
Sau khi giải ngân tiền vay cho khách hàng , cán bộ tín dụng sẽ phải thường xuyên

- Cho vay tiêu dùng giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Như đã
phân tích, cho vay tiêu dùng có chi phí cao, tuy nhiên các khoản cho vay tiêu dùng có
lãi suất cao hơn các khoản cho vay khác vì thế lợi nhuận thu được cũng rất cao.
- Cho vay tiêu dùng là một trong những dịch vụ tài chính giúp các ngân hàng
mở rộng quan hệ với khách hàng, từ đó làm tăng khả năng huy động các loại tiền gửi
cho ngân hàng. Ngoài ra, khách hàng cũng có xu hướng sử dụng kèm các dịch vụ ngân
hàng tài chính cá nhân tại ngân hàng mình đã có quan hệ tín dụng như dịch vụ thẻ,
chuyển tiền…
- Cho vay tiêu dùng phát triển tạo điều kiện mở rộng và đa dạng hóa kinh
doanh, từ đó phân tán rủi ro cho ngân hàng.
Đối với người tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng giúp người tiêu dùng kết hợp nhu cầu
hiện tại với khả năng thanh toán tương lai. Khách hàng sẽ có một khoản tiền lớn ngay
lúc cần thiết để chi tiêu và hoàn trả dần từ thu nhập trong tương lai. Nhờ có cho vay
tiêu dùng mà người tiêu dùng được hưởng những điều kiện sống tốt hơn, được hưởng
những tiện ích trước khi tích lũy đủ tiền và đặc biệt quan trọng hơn nó rất cần thiết cho
những trường hợp khi các cá nhân có chi tiêu đột xuất, cấp bách như nhu cầu chi tiêu
cho giáo dục và y tế. Trong những trường hợp cần gấp thì lãi suất ngân hàng hợp lý
hơn rất nhiều so với các khoản vay “nóng” từ bên ngoài. Thời hạn và phương thức trả
nợ linh hoạt căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng, hơn nữa hiện nay các thủ tục
và điều kiện để vay cũng không quá phức tạp.
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 14 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
Tuy vậy người tiêu dùng cần tính toán việc chi tiêu hợp lý, không vượt quá mức
cho phép và đảm bảo khả năng chi trả.
Đối với nền kinh tế:
-Cho vay tiêu dùng có vai trò quan trọng trong việc kích cầu, góp phần vào việc
xây dựng nền tài chính vững mạnh cho một quốc gia. Thị trường cho vay tiêu dùng đã
góp phần tạo nên sự sôi động của nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo nguồn
vốn cho khu vực sản xuất trong nước, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, từ đó tăng GDP

đạo xuất thân từ nghề giáo như ở NHTMCP ACB.Những năm đầu 1990, nước ta bắt
đầu mở cửa, Pháp lệnh Ngân hàng ra đời, hệ thống ngân hàng được phân thành hai
cấp: ngân hàng nhà nước và ngân hàng thương mại. Là những người có chuyên môn
về lĩnh vực ngân hàng ( phần lớn là giảng viên các ngành ngân hàng ) và các ngành
kinh tế khác, ông Trần Mộng Hùng và những người bạn của mình nhận ra đây là một
cơ hội tốt để đem kiến thức áp dụng vào cuộc sống, xây dựng một ngân hàng phục vụ
các nhu cầu dân sinh như ước vọng từng ấp ủ. Chính từ suy nghĩ đó, ông Hùng, bạn
bè, cộng sự và những nhà giáo đã quyết định rời bục giảng để bước vào thương trường
nhiều gian nan thử thách nhưng cũng không kém phần hào hứng. ACB ra đời từ đó với
định hướng là một ngân hàng bán lẻ và định hướng này được giữ vững và phát huy tác
dụng từ đó đến nay.
Cùng với tầm nhìn, mục tiêu và chiến lược được xác định rõ ràng và cụ thể,
NHTMCP ACB đã gặt hái được những thành công nhất định. Có thể kể đến ở đây, đó
là:
- Huân chương lao động hạng Nhì do Chủ tịch nước trao tặng.
- Cờ thi đua của ngân hàng nhà nước.
- Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2009 do The Asset trao tặng.
- Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2009 do The Banker trao tặng.
- Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2009 do The Global Finance trao tặng.
- Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2009 do Asiamoney trao tặng.
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 16 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
- Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2009 do Euromoney trao tặng.
- Ngân hàng tốt nhất Việt Nam năm 2009 do Asia Finance trao tặng.
Cùng rất nhiều những giải thưởng danh giá khác. Và gần đây nhất, NHTMCP
ACB đã được phong tặng danh hiệu “ Ngân hàng vững mạnh nhất Việt Nam năm 210
do tạp chí “ The Asian Banker” trao tặng.
Hiện nay, NHTMCP ACB đã phát triển và mở rộng với 302 chi nhánh và phòng
giao dịch tại những vùng kinh tế phát triển trên khắp đất nước. Kể từ ngày 31/12/2010

- 05 bảo vệ và 01 tạp vụ.
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 17 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
1.3. Tình hình hoạt động của Phòng giao dịch Tôn Đức Thắng kể từ khi thành lập
đến nay.
1.3.1. Một số chỉ tiêu hoạt động của phòng giao dịch Tôn Đức Thắng kể từ khi đi vào
hoạt động đến nay.
Sau đây là số liệu phản ánh quá trình hoạt động của phòng giao dịch
Bảng 1: tình hình hoạt động chung của phòng giao dịch Tôn Đức Thắng
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 18 -
Mã sinh viên: 0853030051
I. Chỉ tiêu kinh doanh
1. Huy động 94.836.000.000 145.029.000.000 147.478.000.000
2. Dư nợ cho vay 18.867.000.000 47.194.000.000 60.356.000.000
II. Thu nhập 1.736.235.814 3.681.196.462 1.584.389.160
1. Huy động 1.279.322.846 2.134.699.101 867.774.807
2. Cho vay 143.282.689 761.700.218 448.738.714
3. Thu nhập thuần từ
dịch vụ
77.497.403 239.637.476 172.285.225
4. Lợi nhuận từ hoạt
động ngoại hối
15.482.220 24.503.153 0
5 Các khoản thu nhập
khác
220.668.656 520.656.514 95.590.414
III. Chi phí 2.716.987.130 6.144.980.772 2.176.692.477
1. Chi dự phòng( dự
phòng nợ khó đòi)

+ Chi thuê tài sản 1.096.786.363 2.586.120.001 747.583.636
2.4 Chi bảo hiểm tiền gửi 17.073.000 93.408.000 46.112.000
2.5 Chi khác 0 47.796.587 0
IV. Lợi nhuận -982.252.669 -2.466.873.314 -592.303.912
Báo cáo kiến tập
Nhìn vào số liệu trên ta thấy kết quả hoạt động của phòng giao dịch qua hai
năm còn kém hiệu quả. Lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2010 là (-529.303.912 đồng). Tuy
nhiên, tính theo số liệu mới nhất đến hết 30/09/2010 con số này là (-1.753.630.000
đồng). Theo đó, tổng lũy kế kể từ ngày khai trương là (-5.117.610.000 đồng).Một phần
là do phòng giao dịch mới được thành lập, còn non trẻ nên chưa khai thác được hết
khách hàng tiềm năng, chưa vận dụng được địa điểm lợi thế của mình. Một điều đáng
chú ý đó là, qua tìm hiểu em được biết giá thuê phòng của phòng giao dịch hiện nay là
rất cao, cụ thể là 11,700.00 USD. Như vậy, việc chi phí cho thuê văn phòng là quá cao.
Điều này cũng chính là nguyên nhân khiến cho hoạt động của phòng bị lỗ lũy kế với
số tiền nêu trên.
1.3.2. Tình hình huy động vốn
Đây là hoạt động rất quan trọng trong quá trình kinh doanh và phát triển của các
ngân hàng. Sau đây là bảng số liệu về tình hình huy động vốn của phòng giao dịch Tôn
Đức Thắng kể từ khi thành lập đến nay.
Bảng 2: tình hình huy động vốn của PGD trong thời gian từ 6/2008-5/2011
Đơn vị: triệu đồng
Nguồn vốn huy động của phòng giao dịch là chủ yếu từ các khách hàng cá nhân
và doanh nghiệp. Nhìn vào số liệu thu thập được ta thấy, nguồn vốn huy động từ khách
hàng là cá nhân chiếm khoảng 80%-88% tổng nguồn vốn huy động. Điều này là do,
phòng giao dịch mới được thành lập, chưa thể thu hút ngay được lượng tiền dồi dào từ
khách hàng là doanh nghiệp, kèm theo đó là các sản phẩm dịch vụ chưa được sử dụng
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 19 -
Mã sinh viên: 0853030051
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011

được đã tăng 52,93% so với 7 tháng hoạt động năm 2008. Tuy nhiên, đến năm 2010
tăng trưởng giảm xuống còn 12,87%. Đến đầu năm 2011 tổng nguồn vốn huy động
của phòng đã được 203.595 triệu đồng. Như vậy là, hoạt động huy động vốn của ngân
hàng càng ngày càng tăng qua các năm.
1.3.3. Tình hình cho vay.
Song song với hoạt động huy động vốn, PGD cũng thực hiện các hoạt động cho
vay, đây là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận cho ngân hàng cũng như cho PGD.
Các hình thức cho vay hiện nay bao gồm:
Bảng 3: số liệu tổng hợp về hoạt động cho vay của PGD
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2008
Năm 2009 Năm 2010
5/ 2011
Giá trị TT(%) Giá trị TT(%)
Dư nợ đối
với KHCN
12.583 31.094 147,11 74.109 138,34 78.826
Dư nợ đối
với KHDN
6.274 14.100 124,74 26.831 90,29 26.275
Tỷ lệ nợ
quá hạn
- 2,99% 2,84% 2,94%
Tổng dư
nợ
18.857 47.194 150,27 100.940 113,88 105.101
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 20 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
Vì vốn huy động của phòng chủ yếu từ cá nhân và doanh nghiệp, do đó đối

- Dịch vụ chuyển tiền đi nước ngoài
- Dịch vụ hỗ trợ tài chính du học
- Dịch vụ thu hộ tiền điện
- Dịch vụ nhận tiền kiều hối Western Union
- Thẻ tín dụng quốc tế
- Thẻ trả cước quốc tế
- Thẻ ghi nợ ( quốc tế + nội địa)

Tuy nhiên, theo như thống kê thì lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ này chưa
nhiều như các hoạt động khác.
1.3.5. Kết quả kinh doanh
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 21 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
Kể từ khi thành lập đến nay, PGD Tôn Đức Thắng tuy gặp nhiều khó khăn song
cũng đã có được một số thành công. Từ những con số “âm”, bây giờ PGD đã bắt đầu
có những dấu hiệu có lãi mới.
Bảng 4: số liệu về hoạt động dịch vụ của PGD trong thời gian từ cuối năm 2008
đến 30/06/2011
Đơn vị: đồng
Chỉ tiêu
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
Giá trị Giá trị TT(%) Giá trị
TT(%
)
Huy động 1.279.322.846 2.134.699.101 66,87 867.774.807 -59,35
Cho vay 143.282.689 761.700.218 431,61 448.738.714 -41,09
Thu nhập
thuần từ
dịch vụ

Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 22 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
2.1. Các quy định về cho vay tiêu dùng.
2.1.1. Các sản phẩm cho vay tiêu dùng.
Cũng như các ngân hàng thương mại cố phần khác, ngân hàng Á Châu cũng có
các dịch vụ cho vay tiêu dùng rất đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày một cao và đa dạng
của khách hàng. Các sản phẩm tín dụng hiện nay bao gồm:
- Vay trả góp mua nhà ở, nền nhà
- Vay mua nhà Phú Mỹ Hưng
- Vay mua căn hộ thuộc dự án SaiGon Pearl
- Vay mua căn hộ thuộc dự án Hùng Vương Plaza
- Vay trả góp xây dựng, sửa chữa nhà
- Vay trả góp sinh hoạt tiêu dùng
- Vay hỗ trợ tiêu dùng- lẻ
- Vay mua xe ô tô thế chấp bằng chính xe mua
- Vay du học
- Vay cầm cố/ thế chấp sổ tiết kiệm, giấy tờ có giá
2.1.2. Quy trình cho vay tiêu dùng
Quy trình cho vay tiêu dùng tại ACB bao gồm những bước sau:
Bước 1: Tiếp nhận, thu thập hồ sơ, xử lý kết quả
Chuyên viên khách hàng thực hiện:
- Tiếp nhận hồ sơ theo checklist quy định, bao gồm:
+ Đơn đề nghị vay vốn kiêm phương án trả nợ
+ Hồ sơ nhân thân
+ Hồ sơ tài sản bảo đảm
+Hồ sơ chứng minh mục đích sử dụng vốn
+ Hồ sơ chứng minh nguồn trả nợ
- Nhận diện và đánh giá sơ bộ thông tin khách hàng
- Hướng dẫn khách hàng thực hiện theo quy trình định giá của ACB

- Chuyển hồ sơ cho chuyên gia phê duyệt
Bước 4: Phê duyệt hồ sơ
Phê duyệt hồ sơ thông thường
- Nếu khoản vay trong mức phán quyết được ủy quyền, chuyên gia
phê duyệt tiến hành phê duyệt khoản vay
Phê duyệt hồ sơ ngoại lệ
- Chuyên gia phê duyệt cho ý kiến
+ Nếu đồng ý: chuyên gia phê duyệt trình hồ sơ lên chuyên gia phê
duyệt cao hơn theo thẩm quyền
+ Nếu không đồng ý: chuyên viên xử lý hồ sơ gửi hồ sơ về chi nhánh/
phòng giao dịch để chi nhánh/ phòng giao dịch chủ động trình chuyên gia phê
duyệt cao hơn theo thẩm quyền (nếu chi nhánh/ phòng giao dịch không đồng ý
với ý kiến từ chuyên gia phê duyệt tại RCC)
- Chuyên viên xử lý hồ sơ chịu trách nhiệm:
+ Lập thông báo tín dụng theo kết quả phê duyệt và gửi về chi nhánh/
phòng giao dịch
+ Lưu báo cáo thẩm định bản gốc
Bước 5: Ký kết hợp đồng tín dụng
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 24 -
Mã sinh viên: 0853030051
Báo cáo kiến tập
- Chuyên viên khách hàng hoặc chuyên viên phân tích, hỗ trợ kinh
doanh hướng dẫn người vay lập hồ sơ chuẩn bị giải ngân, bao gồm: Hợp đồng
tín dụng, Giấy đề nghị phát tiền vay, và Khế ước nhận nợ.
- Ngân hàng đưa hồ sơ cho khách hàng và giám sát chứng kiến việc
khách hàng ký vào Hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ theo mẫu.
- Chuyên viên khách hàng chuyển Hợp đồng cho Ban giám đốc
Trung tâm giao dịch/Trung tâm thẻ/Giám đốc chi nhánh hoặc người được uỷ
quyền ký hợp đồng tín dụng và Khế ước nhận nợ để giải ngân cho khách hàng.
- Chuyên viên khách hàng, hoặc chuyên viên Ban kiểm soát hỗ trợ

mới và non trẻ, ra đời trong bối cảnh nền kinh tế đang có diến biến khá phức tạp.
Sinh viên: Ngô Hồng Hạnh - 25 -
Mã sinh viên: 0853030051

Trích đoạn Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng Phản hồi từ cơ quan thực tập
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status