609 Mở rộng cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng Thương mại cổ phần á Châu chi nhánh Hà Nội - Pdf 24

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian hơn ba tháng thực tập tại Công ty cho thuê tài chính -
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam, em đã nhận được sự giúp đỡ, tạo
điều kiện của Ban lãnh đạo công ty, đặc biệt là sự hướng dẫn nhiệt tình của các
anh chị cán bộ phòng kinh doanh, chính sự giúp đỡ đó đã giúp em hoàn thiện và
nắm bắt những kiến thức thực tế về nghiệp vụ cho thuê tài chính nói riêng cũng
như nghiệp vụ tín dụng nói chung. Những kiến thức thực tế này sẽ là hành trang
ban đầu cho quá trình công tác, làm việc sau này của em. Vì vậy, em xin bày tỏ
lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban lãnh đạo công ty, tới toàn thể cán bộ công ty
về sự giúp đỡ tận tình của các cô chú, anh chị trong thời gian em thực tập vừa
qua. Qua đây, em xin chúc Công ty cho thuê tài chính- Ngân hàng Đầu tư và
Phát triển Việt Nam ngày càng phát triển, kính chúc các cô chú, các anh chị
luôn thành đạt trên các cương vị công tác của mình.
Em cũng xin đặc biệt cảm ơn tình cảm và sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình
của thầy giáo- TS Phạm Quang Trung. Nhờ sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy, em
đã có được những kiến thức quý báu về cách thức nghiên cứu vấn đề cũng như
nội dung của chuyên đề. Nhờ đó, mà em có thể hoàn thành tốt chuyên đề tốt
nghiệp này.
Cuối cùng, em xin trân trọng cảm ơn tình cảm và sự truyền thụ kiến thức
của tập thể giáo viên khoa Ngân hàng- Tài chính, Đại học Kinh tế quốc dân trong
suốt quá trình em học tập và nghiên cứu.

LỜI NÓI ĐẦU
Khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước thì các doanh nghiệp phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt.
Cộng với sự biến động, ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ khu
vực, các doanh nghiệp ngày càng gặp nhiều khó khăn, vướng mắc mới. Các
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phá sản hàng loạt, những doanh nghiệp ngấp nghé
đứng bên bờ vực phá sản cũng không ít. Con đường để tồn tại lúc này là phải
nhanh chóng đổi mới máy móc thiết bị, đổi mới công nghệ để nâng cao chất
lượng sản phẩm.

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHO THUÊ TÀI CHÍNH
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Lịch sử hình thành của hoạt động cho thuê
Cho thuê tài sản là một công vụ tài chính đã được sáng tạo ra từ rất sớm
trong lịch sử văn minh nhân loại. Theo các thư tịch cổ, các giao dịch thuê tài sản
đã xuất hiện từ năm 2800 trước công nguyên tại thành phố Sumenan của người
UR. Các thầy tu giữ vai trò cùng cho thuê, người thuê là những nồng dân tự do.
Tài sản được đem ra giao dịch bao gồm: công cụ sản xuất nông nghiệp, súc vật
kéo, nhà cửa,đất ruộng, nói chung bao gồm rất nhiều tài sản rất đa rạng.
Trong nền văn minh cổ đại khác như Hy lạp - La mã hay Ai cập cũng đã
xuất hiện các hình thức thuê để tài trợ cho việc sử dụng đất đai, gia súc, công cụ
sản xuất. Có thể nói rằng, rất nhiều vấn đề mà các giao dịch thuê mua ngày nay
gặp phải đã được giải quyết từ nhiều thế kỷ trước.
Tuy nhiên các giao dịch thuê tài sản thời cổ thuộc hình thức thuê mua
kiểu truyền thống (Traditional Lease) Phương thức giao dịch của hình thức này
tương tự như phương thức thuê vận hành ngày nay và trong suốt lịch sử hàng
ngàn năm tồn tại cuả nó, đã không có 1 sự thay đổi lớn về tinh chất giao dịch
Phải cho đến thế kỷ 19, hoạt động cho thuê đã có sự giao tăng đáng kể về
số lượng và chủng loại thiết bị, trài sản cho thuê. Đến đầu thập niên 50 của thế
kỷ 20, giao dịch cho thuê đã có những bước phát triển nhảy vọt, nhất là tại Hoa
kỳ. Nguyên nhân của sự phát triển này là do hoạt động cho thuê đã có những
thay đổi về tính chất của giao dịch. Vào năm 1952, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn
trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, một công ty tư nhân của Mỹ là
Unitedstates Lrasing Conpration đã sáng tạo ra nghiệpvụ cho thuê trung và dài
hạn (Finanial Lease, Capitl Lease). Sau đó nghiệp vụ này đã phát triển sang
Châu âu và với tên gọi "Credit Bail". Cũng năm 1960, hợp đồng cho thuê đầu
tiên được thảo ra ở Anh có giá trị 18000 bảng Anh.
Bước sang thập niên 70, nghiệp vụ cho thuê tài chính đã có những bước
phát triển mạnh mẽ ở Châu á và nhiều khu vực khác trên thế giới. Cho đến nay,
nó đã trở thành hình thức tài trợ vốn trung và dài hạn có tính an toàn cao, tiện

thuê.
3. Thời hạn thuê bằng 75% hoặc cao hơn so với đời sống hoạt động ước
tính của tài sản thuê.
5

4. Hiện giá của các khoản thanh toán tiền thuê tối thiểu là 90% hoặc hơn
so với giá trị tài sản thuê.
c. Theo quyết định 1205 - CT/CĐKT ngày 14/12/1994 của Bộ trưởng Bộ Tài
chính.
Ở Việt Nam, theo quyết định này, một giao dịch được gọi là thuê tài chính
phải thoả mãn 1 trong 4 tiêu chuẩn sau:
1. Chuyển sở hữu tài sản thuê cố định thuê được chuyển giao cho bên đi
thuê khi hết hạn hợp đồng.
2. Hợp đồng cho phép bên đi thuê lựa chọn mua tài sản cố định thuê với
giá thấp hơn giá trị của tài sản cố định tại một thời điểm nào đó hoặc vào lúc kết
thúc hợp đồng.
3. Ký hợp đồng ít nhất phải bằng 3/4 thời gian hoạt động của tài sản thuê.
4. Giá trị tài sản cố định hiện tại của các khoản chi theo hợp đồng ít nhất
bằng 90% giá trị của tài sản cố định thuê.
Cần lưu ý rằng, trong tiêu chuẩn bốn sử dụng cụm từ "giá trị tài sản cố
định hiện tại của các khoản chi" là hoàn toàn tối nghĩa mà thông thường người
ta dùng từ giá trị hiện tại và gọi tắt là hiện giá (The present valuc), có nghĩa là 1
khoản tiền trong tương lai được quy đổi về hiện tại được tính theo lãi suất.
Trong trường hợp thuê giá trị tương lai (Future Value) là số tiền mà người
đi thuê phải trả theo hợp đồng. Hiện giá của khoản thanh toán tiền thuê được
tính theo công thức sau:
f f f
P = ---------- + --------- +... ... + -----------
( 1 + i) (1 + i)
1

đồng.
Quốc gia
Tiêu thức
IAS Hoa kỳ Anh Hàn
Quốc
Indonexia Việt nam
- Chuyển giao
quyền sở hữu khi
ký kết thuê hợp
đồng
có có có Không
quy định
cụ thể

- Quyền chọn mua có có Không
bắt buộc
Không
bắt buộc
có có
- Quyền huỷ ngang
hợp đồng
Không
được
Không
được
Không
được
Không
được
Không

hoặc lớn
hơn
≥ 90% ≥ 90%
Trả đủ
tiền thuê
≥ 90%
Bảng 1.1: Bảng thống kê tiêu chuẩn để được coi là giao dịch cho thuê tài
chính của một số nước.
1.1.3. Những bên có liên quan trong một giao dịch cho thuê tài chính:
Trong quá trình giao dịch của nghiệp vụ cho thuê trung và dài hạn này
thường có sự tham gia rất nhiều chủ thể. Đồng thời giữa các bên có sự liên đới
trong nhiều lĩnh vực theo những chức năng và vai trò nhất định.
Thông thường, một giao dịch cho thuê tài chính thường có sự tham gia
của các bên sau đây, người cho thuê (công ty Leasing hay nhà chế tạo có trực
tiếp cho thuê sản phẩm của họ người thuê (các doanh nghiệp hay thể nhân),
người cho vay (ngân hàng hay các chế định tài chính khác), người cung cấp (nhà
chế tạo thiết bị hay nhà cung cấp). Sau đây, ta sẽ đi vào xem xét từng đối tượng
trên.
a. Người cho thuê (lessor).
Người cho thuê là nhà tài trợ vốn cho người thuê, là người sẽ thanh toán
toàn bộ giá trị mua bán thiết bị theo thoả thuận giữa người thuê và nhà cung cấp
và là chủ sở hữu tài sản về mặt pháp lý. Trong trường hợp cho thuê tài sản của
chính họ thì người cho thuê cũng đồng thời là nhà cung cấp thiết bị.
Theo điều 2 của quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho
thuê tài chính tại Việt Nam thì bên cho thuê là Công ty cho thuê tài chính có tư
cách pháp nhân, được cấp giấy phép hoạt động theo quy chế này.
Công ty cho thuê tài chính là một loại công ty tài chính, hoạt động chủ
yếu là cho thuê máy móc, thiết bị và các động sản khác.
Công ty cho thuê tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam bao
gồm:

thuê và các hoạt động có liên quan, quy định trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi
của các bên trong hoạt động cho thuê. Những văn bản này tạo ra môi trường
pháp lý để các giao dịch cho thuê hoạt động đem lại hiệu quả kinh tế xã hội.
- Các cơ quan quản lý nhà nước:
Là các cơ quan công quyền như Ngân hàng nhà nước, cơ quan công
chứng, Toà án, cơ quan thuế. Những cơ quan này có trách nhiệm giám sát và
9

kiểm soát việc tuân thủ các quy định của pháp luật. Đồng thời công nhận tính
hợp pháp của giao dịch cho thuê, quyền sở hữu pháp lý đối với tài sản và xét xử,
giải quyết các tranh chấp.
Hoạt động cho thuê cũng như hoạt động tín dụng khác rất nhạy cảm với
những thay đổi của môi trường pháp lý. Do đó, môi trường pháp lý vừa có tác
dụng thúc đẩy hoạt động cho thuê, nhưng đồng thời chính nó cũng có thể là
nguyên nhân ngăn cản sự phát triển của hoạt động này. Do vậy, nó có tính hai
mặt, bởi vậy sau khi công ty tài chính quốc tế (IFC) nghiên cứu cơ sở pháp lý
đưa đến thành công của dịch vụ cho thuê ở một số nước đã rút ra một số vấn đề
cơ bản có tính nguyên tắc sau:
+ Pháp luật về hợp đồng kinh tế và sở hữu tài sản:
Hệ thống luật pháp của nước đó phải định nghĩa rõ ràng về bản chất các
giao dịch cho thuê để bảo vệ lợi ích hợp pháp của người thuê và người cho thuê.
Đưa ra các phương thức cho thuê cũng là điều cần thiết. Hơn nữa, cần phan biệt
rõ ràng giữa cho thuê với các giao dịch thương mại và các hình thức tín dụng
khác để tránh cho hoạt động này phải tuân thủ những điều khoản bất lợi trong
luật pháp điều chỉnh các hoạt động đó.
+ Pháp luật về thuế:
Luật thuế phải có các tham chiểu và các điều khoản cụ thể về nghĩa vụ
thuế và ưu đãi thuế đối với cả người thuê và người cho thuê. Điều này giúp
người thuê xác định được chi phí so với việc vay vốn ngân hàng để mua tài sản.
Về phía người cho thuê, chi phí của họ phải được ưu đãi tương đối mới có thể

Những rủi ro đối với hoạt động cho thuê liên quan đến môi trường kinh tế
thường xuyên xảy ra. Có thể kể tới như:
+ Rủi ro do môi trường kinh doanh đem lại: Do tình hình biến động xấu
của nền kinh tế dẫn tới đình trệ sản xuất và làm giảm nhu cầu thuê thiết bị, máy
móc phục vụ sản xuất.
+ Rủi ro do thay đổi tỷ giá (Exchange rate risk): Do sự thay đổi tỷ giá hối
đoái theo hưởng bất lợi cho người cho thuê (người thuê) đối với loại thiết bị
nhập khẩu hay cho thuê quốc tế.
+ Rủi ro do thay đổi lãi suất (Interest rate risk): Do sự biến động lãi suất
trên thị trường vốn dẫn đến có sự chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất
tài trợ, gây bất lợi cho người cho thuê (hay người thuê).
c. Môi trường kỹ thuật công nghệ:
Một số hình thức giao dịch cho thuê chuyên biệt tương đối nhạy cảm với
những thay đổi trong giá cả và tính năng kỹ thuật của tài sản cho thuê (máy tính,
phương tiện giao thông v.v...). Trong hoạt động cho thuê, tài sản cho thuê
11

thường được cung cấp thông qua nhà chế tạo hay nhà cung cấp. Vì thế, để đảm
bảo cho một giao dịch cho thuê diễn ra thuận lợi, cả người cho thuê và người đi
thuê cần phải có những kiến thức nhất định về đặc điểm kỹ thuật, công nghệ, giá
cả của tài sản cho thuê.
Những rủi ro đối với hoạt động cho thuê liên quan tới môi trường kỹ thuật
- công nghệ có thể kể tới như:
- Tài sản cho thuê được thu hồi không thể cho thuê tiếp hay bán chúng.
+ Tài sản tồn tại những khuyết tật tiềm ẩn.
+ Tài sản đã lỗi thời, không thể tái chế nâng cấp.
+ Tài sản bị hư hỏng, mất phẩm chất.
- Tài sản do nhà cung cấp giao cho người thuê không đúng theo hợp đồng,
là tài sản không được phép kinh doanh.
Nhìn chung, những rủi ro liên quan đến tài sản thuê diễn ra rất đa dạng,

thuê
Người đi thuê

(2a) Người cho thuê lập thủ tục chuyển giao quyền sử dụng cho người đi
thuê.
(2b) Người cho thuê giao tài sản cho người đi thuê.
(3) Theo định kỳ người đi thuê thanh toán tiền thuê cho người cho thuê.
Ngoài những đặc điểm chung của phương thức cho thuê, loại hợp đồng
này còn có những đặc điểm chính như sau:
Ngoài những đặc điểm chung của phương thức cho thuê, loại hợp đồng
này còn có những đặc điểm chính như sau:
Người cho thuê Người thuê
1. Sử dụng các loại máy móc, thiết bị
của chính họ để cho thuê
1. Thuê máy móc, thiết bị từ người có
tài sản đó
2. Đảm nhiệm toàn bộ vốn tài trợ 2. Ký kết với nhà cung cấp 1 phụ kiện
hợp đồng về cung cấp
3. Cung cấp các loại phụ tùng và dịch
vụ bảo tín cùng với thiết bị theo một
hợp đồng phụ.
3. Trả tiền thuê theo định kỳ và trả
tiền phụ tùng và dịch vụ
4. Nhận các khoảng tiền thuê những
khoản tiền dịch vụ thu hợp đồng phụ
4. Bán lại thiết bị khu chúng bị lạc hậu
và nhận thuê thiết bị mới
5. Nhận lại tài sản đã lỗi thời và cung
cấp thiết bị thay thế.
1.2.2. Cho thuê tài chính có sự tham gia của ba bên:

vòng quay của vốn nhanh hơn vì không phải dự trữ hàng tồn kho.
- Việc chuyển giao tài sản được thực hiện trực tiếp giữa người cung cấp
và người đi thuê và giữa họ cũng chịu trách nhiệm trực tiếp về tình trạng hoạt
15
Người cho thuê
( Lessor)
Người cung
cấp
(Supplier)
Người đi thuê
( Lessee)

động của tài sản, cũng như thực hiện việc bảo hành và bảo dưỡng tài sản. Như
vậy người cho thuê có thể trút bỏ gánh nặng về tình trạng hoạt động của tài sản.
- Người cho thuê không trực tiếp nhận tài sản rồi sau đó chuyển giao cho
người đi thuê và như vậy sẽ hạn chế được rủi ro liên quan đến việc từ chối nhận
hàng của người đi thuê, vì do có sự nhầm lẫn về mặt kỹ thuật.
Xuất phát từ các ưu điểm trên đây mà các ngân hàng và các tổ chức tài
chính đã áp dụng chủ yếu phương thức này để tài trợ cho các doanh nghiệp, đặc
biệt đối với cho thuê thiết bị. Trên thế giới 80% hợp đồng cho thuê tài chính áp
dụng theo phương thức này.
* Các phương thức tài trợ cho thuê tài chính đặc biệt.
1.2.3. Tái cho thuê (lease back):
Tái cho thuê hay còn gọi là bán và thuê lại (Sale and lease back) là một
dạng đặc biệt của phương thức cho thuê có sự tham gia của hai bên. Trong hoạt
động kinh doanh có nhiều doanh nghiệp thiếu vốn lưu động để khai thác tài sản
cố định hiện có, nhưng lại không đủ uy tín để vay vốn lưu động ở các ngân
hàng. Trong trường hợp đó họ buộc phải bán lại một phần tài sản cố định cho
ngân hàng hoặc công ty tài chính, sau đó thuê lại tài sản đó để sử dụng và như
vậy sẽ có thêm nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động. Đôi lúc ngâ

được phép sử dụng tài sản.
2c) Ngân hàng trả tiền mua tài sản cho doanh nghiệp là biện pháp giải
quyết nợ quá hạn thì khoản thanh toán này được thu hồi khoản nợ quá hạn.
3. Theo định kỳ doanh nghiệp thanh toán tiền thuê cho ngân hàng.
1.2.4. Hợp đồng cho thuê thực hiện kết (Syndicate Leases):
Hợp đồng cho thuê liên kết là loại hợp đồng gồm nhiều bên tài trợ cho
một người thuê. Sự liên kết này có thể xảy ra theo chiều ngang hoặc theo chiều
dọc tuỳ theo tính chất của loại tài sản hay khả năng tài chính của các nhà tài trợ.
Trong trường hợp tài sản có giá trị lớn, nhièu định chế tài chính hay các nhà chế
tạo cùng nhau hợp tác để tài trợ cho người thuê tạo thành sự liên kết theo chiều
ngang. Còn đối với trường hợp các định chế tài chính hay các nhà chế tạo lớn
giao tài sản của họ cho chi nhánh của họ thực hiện giao dịch tài trợ cho khách
hàng thì hình thành sự liên kết theo chiều dọc. Các bước và đặc điểm trong giao
dịch với người thuê của loại hợp đồng này không có khác biệt lớn so với phương
thức cho thuê điển hình.
18
Người cho
thuê ( NH hoặc
công ty t ià
chính )
Người đi thuê
( doanh nghiệp)

Sơ đồ 4: Hợp đồng cho thuê liên kết.
Người cho thuê Người thuê
1. Có thể là sự liên kết giữa các định
chế tài chính và các nhà sản xuất hay
giữa công ty mẹ và các chi nhánh
1. Là một doanh nghiệp nhận tài sản
thuê

Tiền thuê
Các mối quan hệ
tương tự thuê
mua t i chínhà
Người
thuê

tiền vay này không được vượt quá 80% tăng giá trị tài sản tài trợ. Vật thế chấp
cho khoản vay này là quyền sở hữu tài sản cho thuê và các khoản tiền thuê mà
người thuê sẽ trả trong tương lai. Hình thức cho thuê này đem lại lợi nhuận và
mở rộng khả năng tài trợ ra khỏi phạm vi nguồn vốn của người cho thuê.
Sơ đồ 5: Thoả thuận cho thuê bắc cầu:
Người cho vay Người cho thuê Người thuê
1. Cấp tín dụng trung và
dài hạn cho người cho
thuê
1. Sở hữu tài sản cho
thuê và nhận được sự
miễn giảm thuế
1. Trả tiền thuê tài sản
cho người cho thuê
2. Nhận tiền trả nợ vay
bằng tiền thuê do người
thuê trả theo yêu cầu của
người cho thuê
2. Mượn đối ứng bằng
phần lớn giá trị tài sản
và bảo đảm khoản nợ
vay bằng cả tài sản cùng
với các khoản tiền cho

nước ngoài. Năm 1989 hãng hàng không Việt Nam đã thuê mua hai máy bay
hành khách ATR 72 với giá 20 triệu USD của Công ty Stook Leasing LTD và
công ty này lại được 4 ngân hàng của Pháp cho vay để thực hiện hợp đồng thuê
này với hãng hàng không Việt Nam.
Cần chú ý rằng trong hình thức cho thuê này, vốn vay thường chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng số tiền tài trợ, người cho thuê vẫn đóng vai trò chủ sở hữu
tài sản cho thuê và thông thường người cho thuê phải thế chấp chính tài sản mà
họ đã cho thuê cho người cho vay. Hình thức thế chấp tài sản cho thuê này sẽ
làm giảm nhẹ rủi ro cho người cho vay.
1.2.6. Cho thuê giáp lưng (Under lease):
Mặc dù phương thức cho thuê có thể tài trợ được cho cả nhưng doanh
nghiệp mà ngân hàng hoặc công ty tài chính chưa có độ tin tưởng cao, nhưng
không có nghĩa là tài trợ cho bất cứ ai. Vì vậy trong nhiều trường hợp người cần
tài sản muốn đi thuê nhưng không thể thực hiện trực tiếp từ những người cho
thuê chuyên nghiệp. Lý do có thể rất nhiều, có thể là người đó đã không thực
hiện những hợp đồng kinh tế trong quá khứ (hợp đồng tín dụng hoặc hợp đồng
thu mua), có thể là hoạt động yếu kém theo cách đánh giá của các tổ chức tài
chính hoặc đơn giản là vì doanh nghiệp đó chưa có được người cho thuê biết
đến, như những công ty cho thuê nước ngoài họ chỉ chấp nhận tài trợ cho những
công ty lớn của Việt Nam. Trong những trường hợp như thế đòi hỏi phải áp
dụng phương thức cho thuê giáp lưng.
Cho thuê giáp lưng là phương thức mà trong đó, thông qua sự đồng ý của
người cho thuê, người đi thuê thứ nhất cho người đi thuê thứ hai thuê lại tài sản
đó. Trên thực tế thực chất người đi thuê thứ nhất chỉ là người trung gian giữa
người cho thuê và người đi thuê thứ hai, nhưng về mặt pháp lý thì người đi thuê
thứ nhất phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện hợp đồng với người cho thuê.
Với phương thức cho thuê này, mặc dù doanh nghiệp không đủ điều kiện để trực
tiếp thuê mua với người cho thuê, vẫn có thể thuê được tài sản để sử dụng cho
sản xuất kinh doanh.
21


- Thời gian cho thuê vận hành thường rất ngắn so với toàn bộ đời sống
hữu ích của tài sản và khi người thuê muốn chấm dứt hợp đồng thuê, họ chỉ cần
báo trước với người cho thuê. Trong khi đó, thời gian cho thuê tài chính chiếm
phần lớn đời sống hữu ích của tài sản thuê đồng thời hợp đồng cho thuê tài
chính là hợp đồng không được huỷ ngang.
- Phí thuê vận hành thường lớn hơn phí thuê tài chính do trong thuê vận
hành người cho thuê phải chịu mọi chi phí vận hành, chi phí về rủi ro liên quan
đến tài sản mà không phải do bên thuê gây ra.
- Đối với cho thuê vận hành thông thường người đi thuê chỉ được lựa chọn
tài sản thuê trên cơ sở những tài sản mà bên cho thuê có sẵn. Nhưng đối với cho
thuê tài chính, người thuê có thể tự ý mình lựa chọn những tài sản thuê theo nhu
cầu của mình rồi sau đó thoả thuận với người cho thuê.
-Theo hình thức cho thuê vận hành, tài sản thuê không được ghi chép vào
sổ sách kế toán của người thuê mà được ghi như một khoản chi phí bình thường
khác. Trong hợp đồng cho thuê vận hành không quy định về chuyển giao quyền
sở hữu tài sản khi kết thúc thời hạn thuê nó không phải là một giải pháp tài trợ
cho việc mua tài sản trong tương lai. Do vậy thuê vận hành không được coi là
hình thức tài trợ tín dụng cho các doanh nghiệp để nâng cao năng lực sản xuất.
Nhưng đối với cho thuê tài chính trong hợp đồng quy định khi kết thúc thời hạn
theo giá trị hợp lý hay giá tượng trưng tuỳ theo sự thoả thuận đủ dự liệu trước
trong hợp đồng hoặc người thuê cũng có thể tiếp tục thuê tài sản hay làm đại lý
bán tài sản đó theo sự uỷ quyền của người cho thuê. Cho nên, cho thuê tài chính
đã trở thành một hình thức tài trợ tín dụng trung và dài hạn cho các doanh
nghiệp. Như vậy, ta có thể thấy cho thuê tài chính giúp cho doanh nghiệp có thể
lựa chọn được công nghệ mà mình mong muốn, để từ đó nâng cao năng lực sản
xuất của doanh nghiệp.
Bảng 1.2: Sự khác nhau giữa cho thuê tài chính và cho thuê vận hành.
Cho thuê tài chính Cho thuê vận hành
1. Thời hạn thuê:

sản:
- Trong hợp đồng cho thuê tài chính
hai bên có thể thoả thuận sẽ chuyển
quyền sở hữu tài sản hoặc bán lại tài
sản sau khi kết thúc hợp đồng.

- Không có thoả thuận chuyển quyền
sở hữu hoặc bán lại tài sản trong hợp
đồng thuê thông thường.
6. Trách nhiệm về rủi ro liên quan đến
tài sản:
- Người đi thuê chịu phần lớn các rủi
ro, kể cả những rủi ro không phải do
mình gây ra.
- Người cho thuê chịu phần lớn rủi ro
chỉ trừ những rủi ro do lỗi của người
đi thuê gây ra.
7. Cung ứng tài sản thuê:
- Tài sản thuê thường do người thuê
đặt hàng, giao nhận và sử dụng.
- Tài sản thuê thường do người cho
thuê cung ứng.
Những điểm khác biệt trên đây thực chất là khác biệt mang tính phổ biến
của hai phương thức cho thuê nói trên. Tuy nhiên, trong đời sống thực tế, người
ra có thể vận dụng hết sức linh hoạt và đa dạng. Điều đó phụ thuộc vào các điều
kiện chủ quan và khách quan của các chủ thể tham gia vào các giao dịch thuê tài
24

sản. Chính vì vậy, đôi lúc cũng khó phân biệt được 1 giao dịch, gọi là thuê thông
thường hay thuê tài chính, hay nói cách khác ranh giới giữa chúng cũng không ít


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status