BÁO CÁO THỰC TẬP Thực trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Techcombank chi nhánh Chợ Bưởi - Pdf 23

BÁO CÁO KIẾN TẬP
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Ký hiệu Diễn giải
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTƯ Ngân hàng Trung ương
NH TMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
TCB Techcombank
TG Tiền gửi
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 1: Cơ cấu nguồn vốn huy động
Bảng 2: Cơ cấu nguồn tiền gửi (thời điểm cuối tháng 12/2010)
Bảng 3: Cơ cấu nguồn tiền gửi (thời điểm 30/6/2011)
Biểu đồ 1: Cơ cấu nguồn vốn huy động cuối năm 2010
Biểu đồ 2: Cơ cấu nguồn vốn huy động cuối tháng 6/2011
Biểu đồ 3: Xu hướng huy động tiền gửi
Biểu đồ 4: Xu hướng huy động nguồn vốn vay
Biểu đồ 5: Nguồn vốn khác
Biểu đồ 6: Cơ cấu nguồn vốn huy động của Techcombank năm 2010
Biểu đồ 7: Xu hướng thay đổi của quy mô vốn huy động
NGUYỄN THANH HIẾU 1
0853030056
BÁO CÁO KIẾN TẬP
LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang trong thời kỳ biến đổi mạnh của nền kinh tế, thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, chúng ta đang đạt được những bước tiến khá nhanh
và bền vững trong công cuộc phát triển nền kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Để có
những bước phát triển như vậy, để nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng ổn định, chúng ta cần làm
tốt hơn nữa công tác huy động vốn cho nền kinh tế, tăng cường hơn nữa hiệu quả huy động
vốn của các tổ chức, nhất là các trung gian tài chính – những định chế ngày càng đóng vai trò
quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Một trong những trung gian tài chính quan trọng
nhất chính là ngân hàng thương mại, với nghiệp vụ chủ yếu là huy động vốn từ nền kinh tế đề

0853030056
BÁO CÁO KIẾN TẬP
GIỚI THIỆU DOANH NGHIỆP:
1.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM
Lịch sử hình thành Techcombank
Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) được thành lập
ngày 27/09/1993 với số vốn ban đầu là 20 tỷ đồng, trải qua hơn 16 năm hoạt động, với mạng
lưới phát triển gần 230 chi nhánh và phòng giao dịch trên hơn 40 tỉnh và thành phố trong cả
nước, đến nay Techcombank đã trở thành một trong những ngân hàng thương mại cổ phần
hàng đầu Việt Nam với vốn điều lệ là 6,932 tỷ đồng, và tổng tài sản đạt trên 150,291 tỷ đồng
(tính đến hết năm 2010).
Techcombank còn là ngân hàng đầu tiên và duy nhất được Financial Insights tặng
danh hiệu Ngân hàng dẫn đầu về giải pháp và ứng dụng công nghệ. Hiện tại, với đội ngũ nhân
viên lên tới trên 5,000 người, Techcombank luôn sẵn sàng đáp ứng mọi yêu cầu về dịch vụ
dành cho khách hàng. Techcombank hiện phục vụ trên 1 triệu khách hàng cá nhân, gần 42,000
khách hàng doanh nghiệp.
SỨ MỆNH - TẦM NHÌN - 5 GIÁ TRỊ CỐT LÕI
• Tầm nhìn
Trở thành Ngân hàng tốt nhất và doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam.
• Sứ mệnh:
− Trở thành đối tác tài chính được lựa chọn và đáng tin cậy nhất của khách hàng
− Tạo dựng cho cán bộ nhân viên một môi trường làm việc tốt nhất
− Mang lại cho cổ đông những lợi ích hấp dẫn, lâu dài
• 5 Giá trị cốt lõi
− Khách hàng là trên hết
− Liên tục cải tiến
− Tinh thần phối hợp
− Phát triển nhân lực
− Cam kết hành động
NGUYỄN THANH HIẾU 4

hiện đã liên tục phát triển và khẳng định vị thế quan trọng, không thể thiếu trong nền kinh tế
của mỗi quốc gia.
Theo Ðạo luật ngân hàng của Pháp (1941): “Ngân hàng thương mại là những Xí
nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình
thức ký thác, hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng tài nguyên đó cho chính họ trong các
nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và tài chính”.
Tại Việt Nam, khái niệm ngân hàng được quy định rõ ràng trong Luật các tổ chức tín
dụng được Quốc hội ban hành năm 2010 (Luật số 47/2010/QH12): “Ngân hàng là loại hình tổ
chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật
này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng
thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã”.
Trong đó, các hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một
hoặc một số các nghiệp vụ như:
− Nhận tiền gửi;
− Cấp tín dụng;
− Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.
Tại khoản 3 Điều 4 Luật các này, Ngân hàng thương mại được định nghĩa:
“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động
ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi
nhuận”.
Chúng ta có thể tóm gọn lại khái niệm Ngân hàng thương mại như sau: “Ngân hàng
thương mại là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên
một hoặc một số các nghiệp vụ như nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh
toán qua tài khoản; nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
Qua khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu một các khái quát nhất – thế nào là ngân
hàng thương mại qua việc nhìn nhận bản chất của nó. Có hai điểm cần chú ý:
NGUYỄN THANH HIẾU 7
0853030056
BÁO CÁO KIẾN TẬP
Thứ nhất, ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế, chính xác hơn là một loại hình

được mở rộng, phát triển rất đa dạng, nhưng về bản chất các nghiệp vụ ấy vẫn giữ nguyên
không đổi, xoay quanh hai nghiệp vụ chính yếu là nghiệp vụ tài sản có (hay nghiệp vụ sử
dụng vốn) và nghiệp vụ tài sản nợ (hay nghiệp vụ huy động vốn):
− Nghiệp vụ tài sản nợ:
Nghiệp vụ huy động các nguồn vốn là hoạt động cơ bản, mang tính tiền đề, có ý nghĩa
quan trọng đối với bản thân ngân hàng thương mại cũng như đối với toàn xã hội. Trong
nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần
thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn
để cho vay đối với nền kinh tế. Các trung gian tài chính ngân hàng thương mại sẽ tiến hành
huy động từ dân cư và các tổ chức, tạo tiền đề cho việc xây dựng một cầu nối từ người dư
thừa vốn và các cá nhân, tổ chức đang thiếu vốn.
− Nghiệp vụ tài sản có:
Để hoàn thành vai trò trung gian, cầu nối giữa một bên là người dư thừa vốn và một
bên là người thiếu hụt vốn, các ngân hàng thương mại tiến hành cấp tín dụng cho nền kinh tế
từ nguồn vốn huy động được, tạo nên một chu trình vận động khép kín của nguồn vốn trong
nền kinh tế. Công việc tiếp theo này gọi là nghiệp vụ tài sản có của ngân hàng thương mại, nó
liên quan đến các hoạt động sử dụng nguồn vốn, như hoạt động ngân quỹ, tín dụng, và đầu tư.
Trong đó, nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất. Ðây là các
nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản có của ngân hàng. Thành phần
tài sản có của ngân hàng bao gồm: Dự trữ, cho vay, đầu tư, và tài sản có khác.
− Các hoạt động ngoại bảng:
Các ngân hàng thương mại ngày càng cung cấp nhiều hơn các giao dịch thu phí, một
phần tạo ra nguồn thu mới cho ngân hàng nhằm nâng cao khả năng sinh lời của tài sản, và
một phần giúp tạo ưu thế cạnh tranh trên thị trường. Một số chúng không được ghi chép trên
Bảng cân đối kế toán nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong hoạt động của ngân hàng.
Những hoạt động đó tạo nên các khoản mục ngoài bảng cân đối kế toán, chúng bao gồm:
 Hợp đồng bảo lãnh tín dụng
NGUYỄN THANH HIẾU 9
0853030056
BÁO CÁO KIẾN TẬP

vụ ngân hàng, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ khấu hao tài sản cố định,
NGUYỄN THANH HIẾU 10
0853030056
BÁO CÁO KIẾN TẬP
Vốn tự có của ngân hàng thường chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ (5% - 10%) trong cơ cấu nguồn
vốn, nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó phản ánh khả năng tài chính của ngân
hàng, quyết định quy mô hoạt động, Ngoài ra, vốn tự có được coi như chiếc đệm chống đỡ
trước sự sụt giảm giá trị các tài sản, giúp ngân hàng tránh bị rơi vào tình trạng mất khả năng
chi trả và phá sản.
1.2.2. Nguồn tiền gửi
Đây là nguồn vốn quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng chủ yếu (60% đến 80%) trong
nguồn vốn của các ngân hàng thương mại. Có thể chia ra các loại tiền gửi sau:
 Tiền gửi không kỳ hạn:
Là loại tiền gửi mà khách hàng gửi tiền vào tài khoản có thể rút ra bất cứ lúc nào.
Khách hàng gửi tiền dưới dạng tiền gửi không kỳ hạn thường chủ yếu vì mục tiêu thanh
khoản và an toàn, nhằm đáp ứng nhanh các nhu cầu thanh toán trong quá trình sản xuất kinh
doanh. Chính vì đặc điểm có thể gửi vào hoặc rút ra bất cứ lúc nào nên tiền gửi loại này
thường được trả một mức lãi suất rất thấp, hoặc trong một vài trường hợp không được trả lãi.
Hầu hết các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn – tài khoản vãng lai thường ở dạng tài
khoản có khả năng phát séc, ví dụ như: Tài khoản séc, tài khoản NOW, tài khoản tiền gửi thị
trường tiền tệ - MMDAs, tài khoản ATS. Tiền gửi không kỳ hạn là một nguồn vốn quan trọng
của các ngân hàng. Tuy nhiên do người gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào nên đây là một nguồn
vốn biến động thường xuyên, vì vậy ngân hàng chủ yếu dùng nó để cho vay ngắn hạn.
 Tiền gửi có kỳ hạn:
Là loại tiền gửi mà người gửi tiền chỉ được rút ra sau một thời hạn nhất định từ một
vài tháng đến vài năm. Mức lãi suất dành cho tiền gửi loại này do đó cao hơn nhiều so với
tiền gửi không kỳ hạn, nhưng người gửi tiền lại không được hưởng dịch vụ thanh toán qua
ngân hàng. Mục đích chủ yếu của người gửi tiền loại này là lấy lãi chứ không phải lấy tính
thanh khoản và an toàn như với tiền gửi không kỳ hạn.
Tiền gửi không kỳ hạn không được rút ra trước thời hạn, song để cạnh tranh thu hút và

tiền gửi có khả năng chuyển nhượng và các loại trái phiếu ngân hàng.
Với đặc điểm của các nguồn vốn đi vay là không phải trích lập dự trữ bắt buộc nên các
ngân hàng có xu hướng tăng dần tỷ trọng vốn vay trong cơ cấu tổng nguồn vốn, dần đưa vốn
vay trở thành nguồn vốn quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại.
1.2.4. Các nguồn vốn khác
Các nguồn vốn khác, không thuộc các nguồn vốn kể trên của ngân hàng thương mại
bao gồm: Vốn tài trợ, vốn ủy thác đầu tư để cho vay theo các chương trình, dự án, vốn hình
NGUYỄN THANH HIẾU 12
0853030056
BÁO CÁO KIẾN TẬP
thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng như tiền gửi thanh toán hộ của các ngân hàng
khác, tiền ký quỹ L/C,
1.3. Công tác huy động vốn tại các NHTM
1.3.1. Khái quát các công cụ huy động vốn
Để tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại phải đặc biệt quan tâm đến công
tác huy động vốn (chủ yếu là huy động các nguồn tiền gửi) của mình. Công tác huy động vốn
của ngân hàng thương mại liên quan đến việc huy động các nguồn tiền gửi, đi vay và các
nguồn vốn khác ngoài vốn chủ sở hữu cho hoạt động của ngân hàng.
Ngày nay, bên cạnh các công cụ truyền thống, các ngân hàng liên tục cải tiến, sáng tạo
ra các công cụ mới để huy động vốn được hiệu quả hơn. Công cụ phổ biến và truyền thống
nhất là lãi suất và sự đa dạng về các sản phẩm, dịch vụ. Các ngân hàng sẽ dành cho khách
hàng những mức lãi suất cạnh tranh nhất, với danh mục sản phẩm phong phú nhất. Tiếp theo
đó là việc thực hiện các bước đổi mới, hiện đại hoá hoạt động ngân hàng, nâng cao chất lượng
các sản phẩm. Các ngân hàng còn có những giải pháp để huy động khác như: phát hành các kì
phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, gửi tiết kiệm ngắn hạn, trung và dài hạn với nhiều mức
lãi suất hấp dẫn, kèm theo giải pháp về khuyến mại, marketing… Đặc biệt, bộ phận tiếp thị,
chăm sóc khách hàng luôn làm tốt nhiệm vụ tư vấn, tìm hiểu, tiếp thị các sản phẩm dịch vụ.
1.3.2. Một số nhân tố ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại
A, Các nhân tố bên ngoài:
Có nhiều nhân tố nằm bên ngoài ngân hàng nhưng lại tác động trực tiếp đến công tác

Năm 2010 Tháng 1/2011 Tháng 6/2011
Số lượng
(tỷ VND)
Tỷ trọng
Số lượng
(tỷ VND)
Tỷ trọng
Số lượng
(tỷ VND)
Tỷ
trọng
TỔNG NGUỒN VỐN
HUY ĐỘNG
135
100.00
% 165
100.00
% 225
100.00
%
Nguồn tiền gửi 116 85.93% 128 77.58% 200 88.89%
Nguồn vốn vay 18 13.33% 36 21.82% 23 10.22%
Nguồn vốn khác 1 0.74% 1 0.61% 2 0.89%
(Nguồn: Techcombank chi nhánh chợ Bưởi)
Biểu đồ 1: Cơ cấu nguồn vốn huy động cuối năm 2010:
NGUYỄN THANH HIẾU 15
0853030056
BÁO CÁO KIẾN TẬP
Biểu đồ 2: Cơ cấu vốn huy động cuối tháng 6/2011
Qua bảng thống kê và hai biểu đồ trên có thể thấy rõ nét đặc điểm chung trong cơ cấu

111 95.69%
TG thanh toán cá nhân 0 0.00%
TG không kỳ hạn 0 0.00%
TG có kỳ hạn 111 95.69%
Tổng Tiền gửi 116 100.00%
Từ bảng thống kê trên có thể thấy, bộ phận chính trong nguồn tiền gửi của TCB chi
nhánh chợ Bưởi là tiền gửi của dân cư (chiếm 95.69%). Trong bộ phần tiền gửi của dân cư, tại
thời điểm cuối năm 2010, thì tiền gửi có kỳ hạn chiếm tuyệt đối 100%, tiền gửi thanh toán cá
nhân và tiền gửi không kỳ hạn của dân cư không có số dư. Tiền gửi từ dân cư là nguồn tiền
gửi chủ lực cung ứng vốn cho chi nhánh, với số dư tăng trưởng mạnh qua từng thời kỳ hoạt
động. Tuy nhiên bộ phận tiền gửi không kỳ hạn của dân cư có số dư bằng 0. Điều này có thể
giải thích là do trong giai đoạn đầu đi vào hoạt động, Chi nhánh chưa có đủ thâm niên và chưa
được những khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền nhằm mục đích thanh toán. Bộ phận còn
lại trong cơ cấu tiền gửi tại TCB chi nhánh chợ Bưởi là 5 tỷ đồng tiền gửi của các tổ chức
kinh tế (tính theo số dư đến hết 24/12/2010). Tiền gửi của các tổ chức kinh tế tại chi nhánh chỉ
chiếm 4.31% trong tổng tiền gửi, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn (1.72%) và tiền gửi có kỳ
hạn (2.59%).
NGUYỄN THANH HIẾU 17
0853030056
BÁO CÁO KIẾN TẬP
Bảng 3: Cơ cấu nguồn tiền gửi (thời điểm 30/6/2011)
NGUỒN TIỀN GỬI (TG)
từ
Số lượng
(tỷ VND)
Tỷ trọng
(%)
TỔ CHỨC KINH TẾ
4 2.00%
TG không kỳ hạn 3 1.50%

huy động được hơn 200 tỷ đồng tiền gửi, tức là tăng hơn 70% sau 6 tháng, tăng trưởng trung
bình đạt hơn 9%/tháng. Sau 6 tháng đầu năm 2011, tỷ trọng nguồn tiền gửi trong tổng số vốn
huy động cũng tăng từ 85.93% lên 88.89%. Một thực tế là, ngân hàng càng có tỷ trọng tiền
gửi trong tổng vốn huy động lớn, tức là nguồn vốn tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng
càng có giá rẻ và ổn định thì càng thể hiện khả năng hoạt động hiệu quả, khả năng nâng cao tỷ
suất lợi nhuận của từng đồng vốn. Điều đó càng có ý nghĩa với chi nhánh Techcombank chợ
Bưởi, vì chi nhánh mới thành lập, đang cần những nguồn vốn ổn định, có chi phí không cao,
như tiền gửi.
NGUYỄN THANH HIẾU 19
0853030056
BÁO CÁO KIẾN TẬP
− Nguồn vốn vay:
Biểu đồ 4: Xu hướng huy động nguồn vốn vay
Nhìn vào biểu đồ trên ta có thể thấy được xu hướng huy động vốn vay của chi nhánh
trong thời gian qua. Cuối tháng 6/2011, chi nhánh đã huy động tổng cộng 23 tỷ đồng tiền vốn
vay từ bên ngoài để tài trợ cho các hoạt động, tăng hơn 27% so với thời điểm cuối năm 2010.
Từ biểu đồ ta cũng có thể thấy được, vào thời điểm cuối tháng 1/2011, vốn tiền vay của chi
nhánh tăng mạnh, đạt gấp 2 lần so với 1 tháng trước đó. Đó là thời điểm mà tiền gửi huy động
được không đáp ứng đủ các nhu cầu về vốn của chi nhánh, nên chi nhánh đã tiến hành huy
động thêm bằng cách vay từ thị trường tài chính, chủ yếu là thông qua phát hành giấy tờ có
giá. Ngoài ra, ta cũng có thể thấy tỷ trọng vốn vay trong cơ cấu vốn huy động đang giảm dần
(Bảng 1), một phần do tỷ trọng tiền gửi và vốn khác tăng lên, một phần do hoạt động của chi
nhánh sau khi thành lập đã dần ổn định, không còn cần tài trợ nhiều bằng vốn đi vay.
NGUYỄN THANH HIẾU 20
0853030056
BÁO CÁO KIẾN TẬP
− Nguồn vốn khác:
Biểu đồ 5: Nguồn vốn khác:
Các nguồn vốn khác của chi nhánh nói chung có quy mô nhỏ và tỷ trọng trong tổng
vốn huy động nhỏ, và không có biến động nhiều trong quy mô cũng như tỷ trọng.

tăng liên tục, và rất ổn định, tạo tiền đề cho sự hoạt động hiệu quả, trơn tru của công tác tín
dụng, đầu tư, và các công tác khác của chi nhánh. Đây là một thành tích đáng ghi nhận trong
quá trình hoạt động của Chi nhánh.
Thứ hai, về khả năng đáp ứng các nhu cầu tài trợ cho tài sản từ nguồn vốn huy động:
Chỉ tiêu tổng dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động của Chi nhánh vào theo như thống kê đến
hết tháng 6 năm 2011 là 49.78%, nhỏ hơn 100%. Như vậy, số vốn huy động đã đủ để đáp ứng
toàn bộ nhu cầu tiền cho vay của chi nhánh, thậm chí dư khá nhiều để tài trợ cho các tài sản
có khác của chi nhánh. Ngoài ra, tỷ trọng nguồn vốn có kỳ hạn ngày càng lớn hơn so với
nguồn vốn không kỳ hạn, vốn huy động nói chung phù hợp với yêu cầu sử dụng, và đảm bảo
khả năng thanh toán của chi nhánh.
Thứ ba, về sự đa dạng trong cơ cấu nguồn vốn huy động: Trong cơ cấu nguồn vốn huy
động của TCB chi nhánh chợ Bưởi – một chi nhánh ngân hàng mới thành lập được gần một
năm, đã có mặt khá đầy đủ những bộ phận nguồn vốn thường có. Đó là vốn từ tiền gửi – bao
gồm tiền gửi của tố chức kinh tế và của dân cư, có kỳ hạn và không có kỳ hạn; vốn từ nguồn
đi vay – bao gồm đi vay thông qua hoạt động bán các giấy tờ có giá; các nguồn vốn huy động
khác – bao gồm vốn hình thành trong quá trình hoạt động, từ chi phí đã hạch toán nhưng chưa
đến hạn trả, Đối với một chi nhánh mới đi vào hoạt động chưa lâu, thì đây có thể xem làm
những thành công bước đầu trong công tác huy động vốn nói chung, và trong việc thiết lập
các kênh huy động vốn đa dạng, phong phú với số lượng ổn định.
2.2.2 Những hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được kể trên, công tác huy động vốn của chi nhánh vẫn
còn một số điểm tồn tại, hạn chế. Chẳng hạn như:
− Trong cơ cấu nguồn vốn, tỷ trọng vốn tiền gửi thanh toán nói chung và của bộ phận
khách hàng cá nhân còn rất nhỏ, chưa tương xứng với khả năng huy động vốn loại này
của chi nhánh.
− Vốn huy động chủ yếu đến từ bộ phận dân cư, chưa khai thác được hiệu quả nguồn
vốn tiềm năng rất lớn từ bộ phận các công ty, tổ chức kinh tế,
NGUYỄN THANH HIẾU 22
0853030056
BÁO CÁO KIẾN TẬP

điều kiện tiên quyết cho sự hoạt động hiệu quả của nghiệp vụ sử dụng vốn. Qua phân tích tình
hình thực tế về công tác huy động vốn tại chi nhánh TCB chợ Bưởi, chúng ta thấy được nhiều
kết quả đáng ghi nhận, những thành công ban đầu đó đã góp phần đáp ứng đầy đủ nhu cầu
vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rộng hơn là tài trợ hiệu quả cho nhu cầu vốn
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, các cá nhân, phục cụ đắc lực cho công cuộc phát
triển kinh tế - xã hội. Mục tiêu của chi nhánh trong thời gian tới là tăng trưởng nguồn vốn huy
động và mở rộng tín dụng hơn nữa.
3.1.1 Chính sách của Nhà nước và diễn biến của thị trường thế giới
Kể từ sau thời điểm cuộc khủng hoảng tài chính lan ra phạm vi toàn cầu, cuộc đại suy
thoái lớn chưa từng có trong lịch sử đã kéo chậm lại nền kinh tế thế giới và những mắt xích
của nó, không loại trừ Việt Nam. Có thể nói, những năm trở lại đây là những giai đoạn hết sức
khó khăn, không chỉ khó khăn cho những doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh, trong quá trình
hoạt động, mà còn là những giai đoạn “thử lửa” với nhà điều hành chính sách. Chính vì vậy,
Chính phủ đã ban hành rất nhiều những nghị quyết, chỉ thị để cố gắng ổn định kinh tế vĩ mô,
nhanh chóng vượt qua những giai đoạn khó khăn này. Theo tinh thần và nội dung các Nghị
quyết của Quốc hội, như Nghị quyết số 02/NQ-CP do Chính phủ ban hàng vào ngày 09 tháng
01 năm 2011 về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo, điều hành thực hiện kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2011, và đặc biệt là nghị quyết số
11/2011/NQ-CP của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội: “Để thực hiện mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn
định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội, Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc các tập
đoàn kinh tế, tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước tập trung chỉ đạo, thực hiện một số giải
pháp chủ yếu sau đây”:
− Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng: kết hợp hài hòa hai chính sách tài
khóa – tiền tệ để kiềm chế lạm phát, điều hành, kiểm soát để đảm bảo tăng trưởng tín
NGUYỄN THANH HIẾU 25
0853030056


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status