LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Đất nước ta hiện nay đang trong tiến trình thực hiện công cuộc công nghiệp hoá và hiện
đại hoá đất nước. Mục tiêu của công nghiệp hoá và hiện đại hoá là xây dựng đất nước ta thành
một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản
xuất tiến bộ, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần
cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn
minh. Để thực hiện được công nghiệp hoá hiện đại hoá là trách nhiệm của nhiều ngành kinh tế
trong đó có ngành Ngân hàng.
Ngành Ngân hàng được coi là huyết mạch của nền kinh tế, là kênh huy động vốn cho
nền kinh tế, có tầm quan trọng đặc biệt góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước. Hiện
nay hệ thống các ngân hàng thương mại ngày càng lớn mạnh kéo theo sự cạnh tranh trong
ngành diễn ra ngày càng gay gắt hơn. Để phát triển đòi hỏi các ngân hàng phải đa dạng hóa và
nâng cao chất lượng dịch vụ để huy động nguồn vốn lớn phục vụ nhu cầu phát triển của nền
kinh tế. Việc mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của hệ thống ngân hàng
thương mại nói riêng và của hệ thống tín dụng nói chung rất được coi trọng và được xem như
là một trong những giải pháp chính nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội của hệ thống tín
dụng.
Nhìn vào tình hình huy động vốn của các tổ chức tín dụng tiểu biểu là của các ngân
hàng thương mại trong những thời gian vừa qua, ta có thể thấy được những kết quả bước đầu
đáng khích lệ. Tuy nhiên nó cũng còn nhiều mặt tồn tại cần giải quyết và nâng cao hơn nữa
hiệu quả của công tác này.
Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn, trên cơ sở lý luận được học tại trường và kinh
nghiệm kiến tập tại Ngân Hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Thái Bình, đây
là một đề tài tốt được lựa chọn: “Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng huy động
vốn tại VietinBank chi nhánh Thái Bình”
2. Mục đích và ý nghĩa nghiên cứu của tiểu luận:
Đi từ cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại (NHTM), đề tài
cố gắng phân tích, đánh giá thực trạng nguồn vốn, hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng
Thương Mại Cổ Phần Công Thương Việt Nam - Chi nhánh Thái Bình (VietinBank Thái Bình)
và đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn để góp phần nâng cao hiệu quả
- Chức năng trung gian tín dụng: đây là chức năng được xem là quan trọng nhất của
NHTM. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa
người thừa vốn và người có nhu cầu về vôn. Với chức năng này, NHTM vừa đóng vai trò
là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh
lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên
tham gia: người gửi tiền và người cho vay.
- Chức năng thanh toán: NHTM thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng
như trích tiền từ tài khoản của họ để thanh toán tiền hàng, dịch vụ hoặc nhập vào tài
khoản của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các
NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như séc, ủy nhiệm
chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng…Tùy theo nhu cầu, khách
hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp. Chức năng này vô hình
chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển
vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế.
- Chức năng “tạo tiền” cho nền kinh tế: tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ
bản chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như một yêu cầu chính cho sự
tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù
của mình đã vô hình chung thực hiện được chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng
tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và
chức năng thanh toán.
3. Nguồn vốn của NHTM
Thành phần nguồn vốn của NHTM
Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sử hữu là điều kiện đầu tiên để ngân hàng được luật pháp cho phép hoạt động và
đây là loại vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà cửa.
Nguồn hình thành nên vốn chủ sở hữu gồm nguồn hình thành ban đầu, nguồn vốn bổ sung
trong quá trình hoạt động, nguồn vay nợ có khả năng chuyển đổi thành cổ phần và các quỹ.
Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ so với vốn nợ, do đặc trưng trong ngân hàng là
huy động để cho vay. Tuy nhiên, vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng: là “chiếc đệm”
chống đỡ ngân hàng khỏi các nguy cơ thanh khoản và vỡ nợ; là nguồn tạo lập tư cách pháp
lâu. Ở Việt Nam, kì hạn của tiền gửi chủ yếu là từ 6-24 tháng do các doanh nghiệp Việt
Nam chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có tốc độ quay vòng vốn cao. Lãi suất ngân
hàng trả cho tiền gửi có kì hạn thường là cao hơn nhiều so với tiền gửi không kì hạn. Do
với loại tiền gửi này, ngân hàng có thể lên kế hoạch ổn định cho việc kinh doanh, thu
nhiều lợi nhuận hơn.
Huy động vốn phi tiền gửi:
• Vay trên thị trường liên ngân hàng: vay của các tổ chức tín dụng khác nhằm đáp ứng nhu
cầu dự trữ và chi trả cấp bách.
• Vay từ ngân hàng nhà nước: Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong
chỉ trả NHTM. NHTM mang các thương phiếu có chất lượng đến để xin NHNN tái chiết
khấu. Ngoài ra, NHNN còn cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín
dụng nhất định.
• Phát hành giấy tờ có giá: thương phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi có thể chuyển
nhượng. Trong huy động vốn dưới hình thức này, NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với
lãi suất huy động. do vậy, vốn này chỉ được huy động trong thời gian nhất định.
2. Mục tiêu
Huy động vốn là điều kiện đầu tiên, là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
mỗi ngân hàng. Do vậy, mục tiêu của nó không nằm ngoài mục tiêu hoạt động và phát triển
của ngân hàng. Huy động vốn tức là khai thác lượng tiền nhàn rỗi trong công chúng, hộ gia
đình, các tổ chức kinh tế dể thực hiện 4 hoạt động cơ bản của NHTM:
- Huy động vốn để đáp ứng dự trữ bắt buộc
- Huy động vốn để cho vay
- Huy động vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản
- Huy động vốn để điều chỉnh kết quả hoạt động kinh doanh
3. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn
Vốn của NHTM khác với nhiều loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu chiếm tỉ trọng
nhỏ trong nguồn vốn của ngân hàng, vốn nợ là nguồn vốn chủ yếu của ngân hàng. Vốn ngày
rất đa dạng và gồm nhiều thành phần, trong số đó có những thành phần không ổn định, đổi lại
khả năng giao dịch lại cao và tỉ lệ lãi suất thấp, một số khác hạn chế khả năng phát hành séc
ổn định nhưng lãi suất cao hơn.
VietinBank có 6 Công ty hạch toán độc lập là Công ty Cho thuê Tài chính, Công
ty Chứng khoán Công thương, Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản, Công ty TNHH
MTV Bảo hiểm, Công ty TNHH MTV Quản lý Quỹ, Công ty TNHH MTV Vàng bạc đá quý
và 3 đơn vị sự nghiệp là Trung tâm Công nghệ Thông tin, Trung tâm Thẻ, Trường Đào tạo và
phát triển nguồn nhân lực.
VietinBank cung cấp các dịch vụ ngân hàng bán buôn và bán lẻ trong và ngoài nước,
cho vay và đầu tư, tài trợ thương mại, bảo lãnh và tái bảo lãnh, kinh doanh ngoại hôi, tiền gửi,
thanh toán, chuyển tiền, dịch vụ thẻ, phát hành và thanh toán thẻ tín dụng trong và ngoài
nước, séc du lịch, kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm, cho thuê tài chính và nhiều dịch vụ tài
chính – ngân hàng khác.
1.2.Lịch sử hình thành và phát triển của VietinBank Thái Bình
Chi nhánh Ngân hàng Công thương Thái Bình được thành lập ngày 01/01/1991 theo quyết
định số 605/QĐ-NHNN ngày 22/12/1990 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trên
cơ sở chuyển đổi thành ngân hàng 2 cấp theo pháp lệnh Ngân hàng, Hợp tác xã, tín dụng và
công ty tài chính; sáp nhập Ngân hàng thị xã Thái Bình với phòng Ngoại hối của Ngân hàng
Nhà nước tỉnh. Trụ sở chính đặt tại số 100- phố Trưng Trắc- thị xã Thái Bình (nay là số 190-
phố Hai Bà Trưng - thành phố Thái Bình).
Ngày 3/7/2009 Chi nhánh Ngân hàng Công thương Thái Bình được đổi tên thành Chi
nhánh Ngân hàng TMCP Công thương Thái Bình.
Từ một Chi nhánh có quy mô hoạt động nhỏ, gần 20 năm xây dựng và phát triển với bao
thử thách, khó khăn, đến nay Chi nhánh VietinBank Thái Bình đã phần nào tự khẳng định
được mình trở thành một trong các Chi nhánh Ngân hàng thương mại lớn hoạt động trên địa
bàn. Bằng những nỗ lực rất lớn của chính bản thân cộng với sự chỉ đạo, hỗ trợ của Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam, hoạt động kinh doanh của Chi nhánh Thái Bình đã có nhiều
khởi sắc và được đánh giá là một Ngân hàng lớn nhất giữ vị trí hàng đầu trên địa bàn về thị
phần, sản phẩm dịch vụ đa dạng, công nghệ ngân hàng hiện đại, đảm bảo chất lượng về cung
cấp các sản phẩm dịch vụ, văn minh giao dịch, góp phần phấn đấu, xây dựng Chi nhánh trở
thành một Chi nhánh hoạt động, kinh doanh đa năng, hiện đại.
Tên pháp lý: Ngân hàng TMCP Công thương Thái Bình
Tên tiếng Anh: Vietnam joint stock Commercial Bank for Industry and Trade
$
%&
'()*
'+,
-'
.%)/01
.%)/012
-.%)
Khối tác nghiệp
Ban Giám Đốc
Sơ đồ 8: Sơ dồ bộ máy tổ chức của VietinBank Thái Bình
(Nguồn: Phòng tổ chức hành chính của VietinBank Thái Bình)
1.4. Khái quát nhiệm vụ và chức năng
1.4.1. Khái quát nhiệm vụ và chức năng của VietinBank Thái Bình
• Huy động vốn và cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn của các tổ chức, cá nhân
• Tiếp nhận vốn uỷ thác đầu tư và phát triển của cá tổ chức trong và ngoài nước.
• Thu các khoản nộp NSNN.
• Kinh doanh ngoại tệ.
• Chiết khấu thương phiếu, trái phiếu, giấy tờ có giá.
• Thanh toán ngoại tệ và thực hiện các giao dịch liên quan đến ngoại tệ khác.
• Chuyển tiền trong và ngoài nước dưới mọi hình thức….
1.4.2. Khái quát nhiệm vụ và chức năng của từng phòng ban
Phòng khách hàng doanh nghiệp: Trực tiếp thực hiện nhiệm vụ với khách hàng là doanh
nghiệp tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội để khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ, thực hiện
các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ
thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NH TMCP Công Thương Việt Nam. Tiếp thị giới thiệu
sản phẩm dịch vụ của NH, tiếp nhận các ý kiến phản hồi của khách hàng về dịch vụ, tiếp
thu, đề xuất hướng dẫn cải tiến để không ngừng đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Phòng khách hàng cá nhân: Trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giao dịch với khách hàng là cá
nhân để khai thác vốn bằng VNĐ và ngoại tệ , thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín
Với phương châm: “Phát triển - An toàn - Hiệu quả” chủ đề là “huy động vốn, phát triển và
nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ ngân hàng”, VietinBank Thái Bình tìm mọi biện pháp
thu hút nguồn vốn còn tạm thời nhàn rỗi để cho vay các đơn vị có khả năng kinh doanh nhưng
thiếu vốn hoạt động nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển, tăng trưởng kinh tế địa phương.
Cùng với sự nỗ lực vươn lên của tập thể cán bộ công nhân viên toàn Chi nhánh và
kết hợp với điều kiện kinh tế địa phương đã tạo được môi trường tốt cho hoạt động kinh
doanh của VietinBank Thái Bình.
1.6.1. Công tác huy động vốn:
Hoạt động huy động vốn bao gồm các hoạt động nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ
tiền gửi, trái phiếu, tín phiếu kho bạc và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn; vay vốn của
các cá nhân, tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, Ngân hàng TMCP Công thương và các
hình thức huy động vốn khác.
Có thể nói công tác huy động vốn luôn đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của
bất cứ một ngân hàng thương mại nào, là tiền đề cho các hoạt động kinh doanh tiếp theo, là
yếu tố quyết định mở rộng hay thu hẹp đầu tư tín dụng. Do vậy ngay từ khi thành lập,
VietinBank Thái Bình đã luôn chú trọng tới việc huy động vốn từ các tổ chức kinh tế và trong
dân cư. Nhờ sự linh hoạt trong kinh doanh và đa dạng các hoạt động, VietinBank Thái Bình
nhìn chung đã đạt được những kết quả tốt. Hiện nay tổng vốn của Chi nhánh bao gồm tiền
mặt, trái phiếu và các tài sản khác của ngân hàng. Tuy tình hình huy động vốn của Ngân hàng
qua các năm có nhiều biến động nhưng nguồn vốn huy động nói chung có xu hướng tăng lên
được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.1. Bảng kết qủa huy động vốn trong giai đoạn 2009 – 30/06/2011
Đơn vị: Triệu đồng
CHỈ TIÊU
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
quan tâm đến tác phong, thái độ giao dịch của đội ngũ cán bộ với khách hàng.
Trong năm 2011, Chi nhánh đã triển khai tốt dịch vụ thẻ ATM, thêm vào đó là tính thuận
tiện của thẻ nên ngày càng có nhiều người sử dụng thẻ, nhất là các cơ quan, doanh nghiệp trả
lương cho người lao động qua thẻ. Điều này đã giúp cho Chi nhánh có thêm được một kênh
huy động vốn ổn định. Đến 30/06/2011 tại Chi nhánh nguồn vốn từ số dư trên tài khoản ATM
là 20 tỷ đồng.
Nguồn vốn huy động được duy trì phát triển ổn định là nhờ sự đồng lòng quyết tâm, nỗ lực
của toàn Chi nhánh thông qua các biện pháp cụ thể. Với số bình quân nộp vốn về Ngân hàng
TMCP Công thương Việt Nam bằng 145% so với cùng kỳ năm trước được xếp là một trong
các Chi nhánh chiếm tỷ trọng cao.
1.6.2. Hoạt động cho vay:
Hoạt động tín dụng tại Chi nhánh là việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay, chiết
khấu thương phiếu, và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh ngân hàng và các hình thức khác.
Đặc biệt công tác tín dụng luôn được coi là mũi nhọn, là nhiệm vụ hàng đầu trong
kinh doanh. Thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Công thương Việt Nam và trên cơ sở thực tế tại
địa phương, Chi nhánh đã xác định định hướng chính trong công tác tín dụng là:
-Tích cực đầu tư trong điều kiện cho phép, đảm bảo an toàn và hiệu quả. Mở rộng
hoạt động tín dụng như cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay tiêu dùng, chuyển
mạnh sang cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ vươn lên là ngân hàng đóng vai
trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của địa phương.
-Thực hiện kinh doanh tín dụng theo cơ chế thị trường và quan hệ cung cầu vốn, áp
dụng lãi suất thực dương, đảm bảo bù đắp chi phí và có lãi.
-Tìm kiếm và chuyển dần sang đầu tư theo dự án và chương trình kinh tế có tính khả
thi cao của địa phương, giữ vững thị trường và liên kết chặt chẽ với sự phát triển
của các khu công nghiệp trong địa bàn.
Những kết quả của việc tăng trưởng và nâng cao chất lượng tín dụng tại VietinBank
Thái Bình được thể hiện qua diễn biến số liệu về hoạt động tín dụng trong 3 năm gần đây:
Bảng 1.2. Bảng kết quả dư nợ cho vay trong các năm 2009 – 30/06/2011
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 30/06/2011
Ở Chi nhánh Thái Bình dịch vụ này gồm mở tài khoản, cung ứng các phương tiện
thanh toán trong nước, thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước và nước ngoài, thu hộ, chi hộ,
thu và phát tiền mặt, ngân phiếu thanh toán cho khách hàng.
Chi nhánh đã thực hiện điều chuyển vốn tuyệt đối an toàn, nộp Ngân hàng Nhà nước
635 tỷ VNĐ bằng 80% so với năm 2009; nộp Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam
8.678.500 USD bằng 72% so với năm 2009 và 2.054.532 EUR bằng 115% so với năm 2009.
Các khoản nộp này đã đảm bảo định mức tồn quỹ theo quy định của Ngân hàng TMCP Công
thương Việt Nam.
Việc phân loại tiền, chọn lọc những đồng tiền không đủ tiêu chuẩn theo quy định
của Ngân hàng Nhà nước được Chi nhánh thực hiện tốt, từ đó góp phần làm đồng tiền sạch
đẹp hơn. Công tác bảo quản, xuất – nhập tiền mặt, giấy tờ có giá, tài sản thế chấp theo đúng
chế độ. Nghiêm túc chấp hành quy chế về an toàn kho quỹ cả trong kho và trên đường vận
chuyển.
Năm 2010 Ngân hàng đã phát hiện và thu giữ 45 tờ tiền giả với tổng số tiền
4.090.000 đồng và nộp Ngân hàng Nhà nước theo quy định.
Tổng số thu hộ năm 2010 đạt 482 tỷ VNĐ tăng 129 tỷ so với năm 2009 chứng tỏ
công tác này đã được triển khai tốt.
2. Thực trạng huy động vốn tại VietinBank Thái Bình
2.1.Nguồn vốn của VietinBank Thái Bình:
Với phương châm hoạt động là “đi vay để cho vay” VietinBank Thái Bình hết sức coi
trọng công tác huy động vốn và coi đây là một trong các công tác chủ yếu nhẳm mở rộng và
nâng cao hiệu qua trong hoạt động của mình. Nhìn nhận từ quan điểm đó, Ngân hàng luôn
chú trọng đến công tác huy động vốn tại chỗ, Ngân hàng luôn coi trọng chiến lược khách
hàng trong huy động vốn và đưa ra mọi biện pháp nhằm khai thác các nguồn vốn trên địa bàn
như: tổ chức mạng lưới huy động tiết kiệm rộng khắp với các hình thức huy động phong phú,
đa dạng. Cụ thể trong địa bàn của VietinBank Thái Bình có tới 10 quỹ tiết kiệm với nhiều
hình thức huy động vốn khác nhau nhằm thu hút tối đa khách hàng. Ngoài ra, Ngân hàng còn
vận động khách hàng mở tài khoản tại Ngân hàng. Phát hành trái phiếu tiết kiệm bảo đảm
bằng vàng tạo độ tin cậy cao cho nhân dân. Nhờ vậy, mà ngân hàng đã có chuyển biến tích
cực từ thế bị động thiếu thốn của mấy năm trước sang chủ động tự cân đối hoặc vốn thừa gửi
cho thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và các doanh nghiệp có quy mô nhỏ trên địa bàn
tỉnh. Còn đối với các doanh nghiệp lớn đều phải thực hiện quan hệ tín dụng của họ đối với hội
sở chính. Chính điều này đã dẫn đến việc hạn chế bớt số lượng khách hàng đến với
VietinBank Thái Bình và điều đó cũng có nghĩa là giảm bớt thị trường đầu ra của Ngân hàng.
Như vậy, nguồn vốn của VietinBank Thái Bình chỉ hình thành từ 2 nguồn chủ yếu đó là :
Nguồn vốn tự có và nguồn vốn huy động
2.2.Thực trạng của hoạt động huy động vốn của Ngân hàng TMCP Công thương Thái
Bình
Vấn đề huy động vốn của một ngân hàng xoay quanh 3 nghiệp vụ chính :
- Các nghiệp vụ bên nợ (huy động vốn)
- Các nghiệp vụ bên có ( sử dụng vốn )
- Các nghiệp vụ trung gian (chuyển tiền)
Một ngân hàng thương mại, tất nhiên là phải huy động vốn thì mới có vốn cho vay và
ngược lại cho vay có hiệu quả, kinh tế phát triển thì mới có nguồn vốn lớn để huy động, đồng
thời có làm việc tốt các nghiệp vụ trung gian thì các nghiệp vụ trên mới hoàn thành tốt. Đối
với một Ngân hàng thương mại thì nghiệp vụ bên nợ tức là huy động vốn là nghiệp vụ quan
trọng nhất để và hai nghiệp vụ còn lại chỉ để kết hợp hài hoà mà thôi.
Chúng ta biết rằng Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động kinh doanh trên
lĩnh vực tiền tệ nên vốn của Ngân hàng cũng mang tính chất đặc trưng riêng.
Nếu như ở các doanh nghiệp khác, vốn để hoạt động kinh doanh phải chủ yếu là vốn tự có
của bản thân doanh nghiệp nếu thiếu vốn thì mới phải phát hành thêm cổ phiếu, trái phiếu
hoặc vay Ngân hàng. Ngược lại, Ngân hàng kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, nên ngoài vốn tự
có, vốn dự trữ và các loại vốn vay Ngân hàng khác, thì Ngân hàng không sử dụng những
nguồn vốn đó làm nguồn vốn chính của Ngân hàng mà là nguồn vốn huy động trong dân cư,
các tổ chức kinh tế. Vốn tự có của Ngân hàng chỉ nhằm mục đích gây sự tin tưởng và uy tín
của Ngân hàng mình đối với khách hàng, còn các nguồn vốn khác chỉ nhằm mục đích hỗ trợ
trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Trong thời gian qua VietinBank Thái Bình đã chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình.
Ngân hàng ngày càng cố gắng đáp ứng được mọi nhu cầu của khách hàng đến vay vốn bằng cách
luôn đảm bảo cho mình một nguồn vốn dồi dào, và việc khai thác vốn của ngân hàng luôn dựa
10,78
% 147.454 10,89%
TIỀN GỬI TiẾT
KiỆM 978.778
85,63
%
1.087.1
58
85,27
%
1.119.5
39
85,80
%
1.144.7
78
84,81
%
1.145.7
32 84,65%
KỲ PHIẾU 20.350 1,78% 21.454 1,68% 22.800 1,75% 27.458 2,03% 27.844 2,06%
VAY CÁC TCTD
KHÁC 31.634 2,77% 37.558 2,95% 32.140 2,46% 32.042 2,37% 32.444 2,40%
TỔNG
1.143.0
12
100,00
%
1.274.9
64
%
1.630.37
2
100,00
%
(Nguồn: Phòng kế toán – VietinBank Thái Bình)
Biểu đồ 2: XU HƯỚNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA CÁC TỔ CHỨC KINH TẾ
(Đơn vị: triệu đồng)
(Số liệu từ phòng kế toán VietinBank Thái Bình)
Nhìn vào biểu đồ ta thấy tiền gửi của các tổ chức kinh tế tại ngân hàng qua thời gian có xu
hướng tăng cho thấy hiệu quả của việc huy động vốn. Nguồn tiền gửi tiết kiệm của các doanh
nghiệp này chủ yếu là tiền gửi thanh toán (tiền gửi không kỳ hạn), lượng tiền gửi này có khả
năng sinh lời lớn mà lại tốn ít chi phí. Do đó trong thời gian tới cần có các biện pháp tăng tỷ
trọng tiền gửi của khối các tổ chức kinh tế.
Nguồn gửi tiết kiệm
Đối với các ngân hàng thương mại, nguồn tiền gửi tiết kiệm là nguồn chủ yếu cho ngân hàng
thực hiện đầu tư, nguồn này ngoài việc giúp ngân hàng tạo được nguồn vốn cho vay mà còn là
công cụ giúp cho Ngân hàng Nhà nước ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát.
Nhìn vào bảng kết cấu nguồn vốn huy động qua các thời kỳ ta thấy tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm
so với tổng nguồn vốn huy động là rất cao, trung bình đều từ 80% trở lên. Nếu như trong quý
IV/2009 nguồn tiết kiệm tại ngân hàng là 978.778 triệu đồng thì sang cùng kỳ quý IV/2010 là
1.145.732 triệu đồng. Quý II/2011 nguồn tiết kiệm là 1.371.698 triệu đồng, tăng 22,52% so với
cùng kì quý II/2010 Số liệu này được thể hiện rõ nét ở biểu đồ sau:
Biểu đồ 3: XU HƯỚNG HUY ĐỘNG TIÊN GỬI TIẾT KIỆM
(Đơn vị: triệu đồng)
(Số liệu từ phòng kế toán VietinBank Thái Bình)
Nguồn tiền phát hành kỳ phiếu
Huy động vốn bằng phát hành kỳ phiếu có lẽ là biện pháp cho phép huy động được một số
vốn lớn, nhanh nhất vì lãi suất huy động của loại hình này rất cao. Việc phát hành kỳ phiếu nhằm
mục đích huy động tiền tạm thời nhàn rỗi trong dân cư để cho dân cư và các tổ chức vay vốn
Ngân hàng TMCP Công thương Thái Bình, từ một đơn vị vơi tư cách là một quầy giao dịch
của Hội Sở chính, chuyển sang hoạt động độc lập chưa lâu. Nhưng ngân hàng đã cố gắng đảm
bảo đầu vào cho hoạt động của mình, không những thế, Ngân hàng luôn hoàn thành tốt các chỉ
tiêu về vốn điều hoà mà Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam giao cho.
Trong thời gian qua, Ngân hàng đã triển khai được nhiều hình thức huy động vốn phù hợp với
đặc điểm tình hình kinh tế trên địa bàn tình, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động đầu ra của
mình với phương châm: Nâng cao hiệu quả của công tác tín dụng cũng chính là nâng cao hiệu
quả hoạt động huy động vốn
Tuy nhiên, trong hoạt động huy động vốn, VietinBank Thái Bình còn một số vấn đề tồn tại
sau:
- Ngay trong bản thân nguồn vốn huy động của ngân hàng có sự mất cân đối giữa các
nguồn: tiết kiệm và tiền gửi phát hành kỳ phiếu.
- Nguồn tiền gửi Ngoại tệ tại Ngân hàng còn quá nhỏ bé, không đáp ứng được đầy đủ
các nhu cầu của khách hàng.
- Phương thức huy động, tuy đã được nâng cao nhưng chưa phong phú, chưa thực sự
thu hút khách hàng.
- Do điều kiện về cơ sở vật chất và là một chi nhánh của Ngân hàng Công thương Việt
Nam, nên các dịch vụ còn hẹp.
Do đó, để có thể tăng cường được hiệu quả trong hoật động của ngân hàng đồng thời vẫn đảm
bảo được hiệu quả Kinh tế – Xã hội, thì Ngân hàng phải có sự thay đổi trong chính sách của
mình đồng thời tổ chức có hiệu quả hơn nữa hoạt động huy động vốn, khai thác và sử dụng hợp
lý các nguồn tiền nhàn rỗi của dân cư, tìm thị trường đầu ra cho mình.