sức khỏe, sử dụng dịch vụ và chi phí y tế của người dân đồng bằng sông hồng, năm 2010 - Pdf 23

B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI

NGUYN VN NG
SứC KHỏE, Sử DụNG DịCH Vụ Và CHI PHí Y Tế
CủA NGƯờI DÂN ĐồNG BằNG SÔNG HồNG, NĂM 2010
KHểA LUN TT NGHIP C NHN Y KHOA
KHểA 2009 2013
H Ni 2013
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y H NI

NGUYN VN NG
SứC KHỏE, Sử DụNG DịCH Vụ Và CHI PHí Y Tế
CủA NGƯờI DÂN ĐồNG BằNG SÔNG HồNG, NĂM 2010
KHểA LUN TT NGHIP C NHN Y KHOA
KHểA 2009 2013

Ngi hng dn:
PGS. TS. Phm Huy Tun Kit
H Ni - 2013
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận này, em
đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình từ phía các thầy cô, anh chị, bạn bè và
gia đình
Em xin gửi lời cảm ơn tới ban giám hiệu trường Đại học Y Hà Nội,
Phòng Đào tạo đại học, Viện đào tạo Y học dự phòng và Y tế công cộng
trường Đại học Y Hà Nội, Bộ môn Kinh tế y tế đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo
mọi điều kiện để em hoàn thành khóa luận này.
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới PGS.TS
Phạm Huy Tuấn Kiệt- giảng viên Bộ môn Kinh tế y tế, viện đào tạo Y học dự

càng cao của nhân dân trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân.
Cũng trên công cuộc đổi mới chung của nền kinh tế, hệ thống y tế Việt
Nam có nhiều thay đổi, thể hiện trên những chính sách của Đảng và Nhà nước
ta là: xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, đa dạng hóa
các loại hình bệnh viện và các loại hình dịch vụ y tế, củng cố hệ thống tổ chức
y tế địa phương, đặc biệt là mạng lưới y tế cơ sở. Những chính sách này ngày
càng tạo điều kiện cho ngành y tế phát triển theo hướng của dân, do dân và vì
dân. Đảm bảo công bằng trong chăm sóc sức khỏe nói chung và nhất là trong
khám chữa bệnh và phòng bệnh.
Trước năm 1990 thì mọi công dân Việt Nam đều được khám chữa bệnh
không mất tiền, từ khi đất nước bước vào thời kỳ mở cửa chuyển sang nền
kinh tế thị trường thì chi phí khám chữa bệnh đã vượt quá sức bao cấp của
nhà nước. Trước tình hình đó, chính sách thu một phần viện phí ra đời đã bổ
sung ngồn kinh phí cần thiết, góp phần nâng cao chất lượng của các cơ sở y
tế, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của đại bộ phận nhân
dân. Tuy nhiên, việc thực hiện thu một phần viện phí vẫn còn nhiều điểm
chưa hợp lý, chưa dựa vào khả năng chi trả của người dân, gây khó khăn cho
người nghèo, người không có khả năng chi trả hoặc chỉ có khả năng chi trả 1
phần, làm cho người nghèo hạn chế hoặc không sử dụng các dịch vụ y tế,
hoặc sử dụng các dịch vụ y tế không hợp lý, an toàn, hoặc bị nợ nần, bán đồ
đạc, giảm chi tiêu cho các hoạt động khác như thức ăn, học hành….
Mặc dù thu nhập của người dân đã được cải thiện đáng kể trong thời
gian qua, song chi phí y tế không ngừng tăng làm cho người dân ngày càng
khó khăn hơn trong việc tiếp cận với các cơ sở y tế, điều đó có thể làm ảnh
hưởng xấu tới sức khỏe của người dân. Đặc biệt là công tác khám chữa bệnh
ngày càng mang tính chất chuyên sâu thì chi phí y tế càng gia tăng nhiều hơn
nữa. Vào năm 1993 chi phí cho y tế là khoảng 5,051 tỷ đồng và tới năm 2000
chi phí này đã lên đến 14,302 tỷ đồng. Mức chi phí y tế bình quân đầu nười
năm 2002 cao gấp 1,4 lần so với năm 1998 và cao gấp 1,7 lần so với năm
1993. Mức chi phí cao cho y tế đã gây ra gánh nặng về kinh tế cho những

gấp 17,6 lần so với Tây Nguyên. Đây là một thuận lợi vì vùng có nguồn lao
động dồi dào với truyền thống kinh nghiệm sản xuất phong phú, chất lượng
lao động dẫn đầu cả nước. Thế nhưng, dân số đông cũng đem đến những khó
khăn nhất định, gây sức ép nặng nề lên sự phát triển kinh tế - xã hội và ngành
y tế của vùng. Cùng với sự phát triển kinh tế của vùng thì đời sống của nhân
dân cũng được cải thiện, dịch vụ khám chữa bệnh, cơ sở hạ tầng y tế được
nâng cao, cùng với đó vùng cũng đã có nhiều chính sách hỗ trợ việc khám
chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người nghèo và một số đối tượng ưu
tiên.Hiện nay, đã có một số nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe và đời sống
nhân dân của các tỉnh trong vùng nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào nói về
sức khỏe của cả vùng.
Chính vì lý do trên mà tôi tiến hành nghiên cứu này với mục tiêu sau:
1. Mô tả tình hình sức khỏe, sử dụng dịch vụ y tế và chi tiêu cho y tế
của người dân ĐBSH- Từ số liệu điều tra của tổng cục thống kê
năm 2010.
2. So sánh tình hình sức khỏe, sử dụng dịch vụ y tế và chi phí cho y
tế của vùng ĐBSH với cả nước và các vùng sinh thái ở Việt Nam
trong năm 2010.
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Định nghĩa sức khỏe và các quan điểm, chính sách y tế của Đảng,
Nhà nước và Bộ Y tế liên quan đến vấn đề sử dụng dịch vụ và chi phí y tế
của người dân
1.1.1. Định nghĩa sức khỏe.
Theo định nghĩa về sức khoẻ của Tổ Chức Y tế Thế Giới (WHO):
"Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm
thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn tật".
Theo định nghĩa trên, mỗi người chúng ta cần chủ động để có một sức
khoẻ tốt.Cần chủ động trang bị cho mình kiến thức về phòng bệnh và rèn
luyện sức khoẻ. Thực hành dinh dưỡng hợp lý, luyện tập thể dục thể thao phù

người nhà của các đối tượng có bảo hiểm y tế bắt buộc).
Chương trình bảo hiểm y tế bắt buộc thanh toán cho các dịch vụ nội trú,
ngoại trú và cả tiền thuốc cho bệnh nhân nội trú. Phương thức tự nguyện được
chia ra làm 2 loại: loại phí thấp thanh toán cho các dịch vụ nội trú, loại phí cao
thanh toán cho cả dịch vụ ngoại trú và trong một số trường hợp cả tiền thuốc.
Nguồn thu từ bảo hiểm cũng đang tăng dần qua các năm tuy nhiên mức độ
bao phủ của bảo hiểm y tế còn thấp và phần lớn các đối tượng tham gia bảo hiểm
đều là bắt buộc. Như vậy người dân vẫn phải tự trả các chi phí cho KCB.
1.1.2.3. Chính sách thu 1 phần viện phí.
Để cụ thể hóa chính sách thu một phần viện phí trong các cơ sở y tế
Nhà nước đã ban hành nhiều thông tư, nghị định hướng dẫn thực hiện vấn đề
này. Trước năm 1989, người dân không phải trả bất kỳ một khoản tiền nào
cho khám chữa bệnh. Nghị định 45/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng do thủ
tướng Võ Văn Kiệt ký ngày 24/4/1989 về thu một phần viện phí ở cấc cơ sở y
tế Nhà nước. Tiền thu viện phí bao gồm một khoản tiền khám chữa bệnh, tiền
giường nằm…. kể cả khám chữa bệnh nội trú và ngoại trú. Tuy nhiên, nghị
định cũng quy định miễn thu cho các đối tượng:
- Trẻ em dưới 5 tuổi.
- Người bệnh tâm thần phân liệt, động kinh, phong, lao phổi BK+.
- Người bệnh ở các xã vùng cao do UBND tỉnh quy định.
- Đồng bào khai hoang, xây dựng kinh tế mới trong 3 năm đầu mới đến.
- Người tàn tật, mồ côi, già yếu không nơi nương tựa, người quá nghèo.
- Người có công với cách mạng.
- Thương binh từ hạng I đến IV.
Đối tượng phải nộp viện phí:
- Những người ngoài diện được miễn giảm trên.
- Những người muốn khám chữa bệnh theo yêu cầu riêng.
- Những người bị tai nạn lao động, giao thông, say rượu, đánh nhau.
1.2. Một số vấn đề liên quan đến sử dụng dịch vụ y tế trong chăm sóc sức
khỏe của người dân.

mọi giá
Chi phí chăm sóc sức khỏe có thể cao hơn so với thu nhập, sức khỏe
kém sẽ giảm khả năng kiếm sống, khi bị bệnh người bệnh thường ít tính toán
khả năng kinh tế mà dồn hết sức để chữa bệnh, thậm chí là cầm cố cả gia tài
để điều trị số khác có tiền thường yêu cầu phục vụ rất cao.
Người bệnh trực tiếp tham gia sản xuất cũng như tiêu thụ dịch vụ y tế.
Quyết định dịch vụ y tế có khi không hồi phục được (thầy thuốc quyết định
chữa bệnh, còn bệnh nhân phải trả tiền, có khi phải trả tiền ngưng vẫn bi đát)
Dịch vụ y tế không hướng tới tự do cạnh tranh.
Sự cạnh tranh và hành phải có tiêu chuẩn và cần có cả uy tín và sự tin
cậy (bệnh nhân nào cũng muốn đến nơi chữa bệnh tốt dù chi phí rất cao).
Maketing của dịch vụ y tế không phải là chữa bệnh. Mục đích của y tế là làm
sao cho dân khỏe mạnh ít vào bệnh viện, vì vậy maketing chỉ sử dụng cho
phòng bệnh tạo ra sức khỏe và tăng cường sức khỏe.
Dịch vụ y tế hoạt động ở bệnh viện không phải bao giờ cũng lãi có khi
lỗ nhưng vẫn phải duy trì lợi ích của xã hội và cộng đồng.Đo lường lợi nhuận
ở bệnh viện không có tiêu chuẩn, không rõ ràng, ở bệnh viện không khuyến
khích lợi nhuận.
Bên cung cấp dịch vụ có thể là một tổ chức hay cũng có thể là một cá
nhân. Để được là bên cung cấp dịch vụ y tế thì phải có giấy phép hành nghề
theo quy định của Nhà nước.
1.2.3. Phân loại dịch vụ y tế
1.2.3.1. Phân lọai theo đối tượng phục vụ.
Có 3 loại dịch vụ y tế: dịch vụ y tế công cộng, dịch vụ y tế cho các đối
tượng cần chăm sóc ưu tiên và dịch vụ y tế cá nhân.
Dịch vụ y tế công cộng là các dịch vụ mà lợi ích của những dịch vụ này
không chỉ giới hạn ở việc cung ứng trực tiếp (dịch vụ khám chữa bệnh) cho
người sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp cho cộng đồng như các dịch vụ
phòng bệnh, giáo dục y tế .
Dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên: sẽ được dành cho

- Các dịch vụ y tế con người khác: Các dịch vụ ngoại trú; các dịch vụ y tế kèm
nơi thay vì các dịch vụ bệnh viện.
1.2.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ y tế.
1.2.4.1. Tiếp cận.
Tiếp cận y tế là khả năng mà người sử dụng các dịch vụ sức khỏe cần có
thể đáp ứng tại nơi cung cấp. Mục đích của dịch vụ y tế là đến với mọi người
cộng đồng, nhằm thỏa mãn nhu cầu về sức khỏe cho con người và cộng đồng.
Tiếp cận dịch vụ y tế phục vụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố sau:
- Nhóm khoảng cách từ nơi ở đến cơ sở y tế.
Nhóm này bao gồm khoảng cách đường đi, chất lượng đường xá,
phương tiện giao thông thông thường và các biến động thời tiết theo mùa.
Tổng hợp lại có thể đo bằng thời gian đi bằng phương tiện thông thường từ
nhà đến cơ sở y tế (càng tốn thời gian để đến được cơ sở y tế, càng khó tới đó
thì tiếp cận về khoảng cách càng thấp).
- Nhóm yếu tố kinh tế.
Thông thường, càng nghèo, càng bị hạn chế đến với cơ sở y tế.Mức
nghèo có thể tuyệt đối và cũng có thể tương đối với mức chi phí cho toàn bộ
đợt ốm phải đến cơ sở y tế để khám, chữa bệnh.Sự chênh lệch về thu nhập
dẫn đến sử dụng DVYT giữa người giàu và người nghèo ở thành thị cũng như
nông thôn không giống nhau. Hộ gia đình có thu nhập cao, người ta sẽ dễ
dàng quyết định đi KCB kể cả ở nơi xa nhất, nhưng có chất lượng nhất, ngược
lại những người nghèo thường có xu hướng tự chữa ở nhà hoặc có xu hướng
đến thầy thuốc gần nhà để giảm bớt chi phí hoặc hạn chế đến cơ sở y tế có
chất lượng cao, thu phí cao… [23].
Đối với các nước đang phát triển thì yếu tố kinh tế có quyết định rất lớn
tới khả năng tiếp cận DVYT của người dân.
- Nhóm yếu tố dịch vụ y tế.
Trong nhóm này đề cập tới tính thuận tiện về giờ giấc, thời gian mở
cửa, tính thường trực, tính sẵn sàng của các DVYT mà người dân cần, đạo
đức thái độ của người cung ứng dịch vụ và chất lượng các dịch vụ theo yêu

Nhiều tác giả cho thấy rõ cá yếu tố liên quan gần nhất đến việc sử dụng
dịch vụ y tế yếu tố cá thể của con người như: Tuổi, giới, văn hóa, nghề
nghiệp, dân tộc…
1.2.4.6. Cơ sở sử dụng dịch vụ y tế.
Cơ sở y tế là nơi khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe bao gồm bệnh
viện, viện điều dưỡng và phục hồi chức năng, phòng khám đa khoa khu vực
và trạm y tế xã, phường.
- Bệnh viện nhà nước là cơ sở y tế được tổ chức tương đối hoàn chỉnh với quy
mô như: Có các chuyên khoa, có phòng mổ, có phòng xét nghiệm, có các
phương tiện phục vụ cho việc chẩn đoán bệnh, có đội ngũ cán bộ y tế gồm các
bác sĩ, y sĩ, y tá… Bệnh viện có chức năng chăm sóc sức khỏe nhân dân,
khám chữa bệnh nội, ngoại trú; phòng bệnh, giáo dục sức khỏe; nghiên cứu
đào tạo cán bộ. Bệnh viện tỉnh/thành phố, bệnh viện quận, huyện, thị xã. Bệnh
viện có thể là bệnh viện đa khoa hoặc bệnh viện chuyên khoa.
- Bệnh viện điều dưỡng và phục hồi chức năng là cơ sở y tế có chức năng tiếp
nhận những người ốm hoặc sau khi điều trị bệnh cần được bồi dưỡng, nghỉ
ngơi đẻ tăng them sức khỏe hoặc phục hồi chức năng cho các bộ phận của cơ
thể.
- Phòng khám đa khoa khu vực là cơ sở y tế có chức năng khám chữa bệnh cho
cán bộ, nhân dân ở cơ sở thuộc tuyến quận, huyện, thị xã hoặc một cụm xã,
phường.
- Trạm y tế xã, phường là cơ sở y tế, là tuyến đầu tiên thực hiện các hoạt động
khám, chữa bệnh, ghi chép và chăm sóc sức khỏe như phát hiện và báo cáo
kịp thời các bệnh dịch lên tuyến trên. Tổ chức sơ cứu, chăm sóc sức khỏe ban
đầu, đỡ đẻ, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hóa gia
đình, xây dựng tủ thuốc, hướng dẫn sử dụng thuốc an toàn, hợp lý phục vụ
nhân dân trong phạm vi một xã, phường .
-Y tế tư nhân: Những người khám chữa bệnh tại cơ sở y tế tư nhân, kể cả những
người đến khám chữa bệnh tại nhà riêng của các cán bộ y tế của trạm y tế, của
bệnh viện hoặc những cán bộ y tế về hưu.

chi phí không có nghĩa là giá cả mà chỉ thể hiện nguồn lực được sử dụng.Do
sự khan hiếm nguồn lực nên chi phí cho một hoạt động là mất đi cơ hội của
người hoạt động là thu nhập mất đi do sử dụng nguồn lực cho hoạt động này
hơn là cho hoạt động khác [4].
1.3.1.3. Khả năng chi trả phí dịch vụ y tế:
Là mức chi phí mà hộ gia đình cá nhân có thể trả được bằng tiền để
nhận một loại dịch vụ y tế và thường được đo lường bằng thu nhập của cá
nhân hoặc hộ gia đình
1.3.2. Góc độ xem xét chi phí
Dưới góc độ của khu vực y tế: người ta quan tâm đến chi phí của người
cung cấp dịch vụ y tế như chi phí của các cơ sở y tế hoặc của cơ quan
BHYT.Phân tích chi phí dưới góc độ khu vực y tế có thể cung cấp các thông
tin cho việc lập kế hoạch và dự toán ngân sách.
Dưới góc độ của cá nhân/hộ gia đình: do chi phí của người bệnh và gia
đình thường có quan hệ mật thiết với nhau và người nhà thường phải cùng
chịu chi phí với người bệnh, người ta xem xét chi phí của người bệnh và gia
đình dưới cùng góc độ. Chi phí người bệnh và gia đình bao gồm các khoản
chi tiêu từ túi người bệnh và gia đình, mất/giảm thu nhập do tham gia can
thiệp, chi phí đi lại và vận chuyển, chi phí chăm sóc trẻ em, đau đớn, mất mát
về tinh thần.
Góc độ xã hội bao trùm tất cả chi phí bất kể chi phí đó xảy ra với
ai.Cần lưu ý rằng 1 số khoản chi trên có thể là chi phối đối với một bộ phận
xã hội nhưng thực chất không phải là chi phí của toàn xã hội và không được
tính là chi phí khi phân tích chi phí của toàn xã hội. Những khoản chi trả chỉ
luân chuyển từ bộ phận này sang bộ phận khác của xã hội, nhưng không phải
là chi phí đối với toàn xã hội được gọi là các khoản thanh toán hoán đổi.Các
khoản thanh toán hoán đổi không phải là chi phí dưới góc độ xã hội và phải
được loại ra khi tính toán chi phí.
1.4. Một số nghiên cứu về tình hình sức khỏe, dịch vụ y tế và chi tiêu cho y tế.
1.4.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài.

trong đó có Việt Nam. Đây là những yếu tố và lý do dẫn đến sự phát triển của
hệ thống y tế tự nhiên tại các nước này.
Cuộc điều tra tìm hiểu nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế ở trẻ em Philippin
cho thấy 55,2% trẻ ốm sử dụng y học hiện đại, 11% trẻ ốm sử dụng y học cổ
truyền, 37% trẻ ốm tự điều trị. Việc lựa chọn y học cổ truyền không phụ thuộc
vào thu nhập mà phụ thuộc vào trình độ của người mẹ [24].
Điều tra về việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở vùng nông thôn
Ấn Độ trên 200 hộ gia đình cho thấy 52% sử dụng dịch vụ y tế hiện đại, 26%
sử dụng y tế cổ truyền, 6% tự xử lý, 16% vừa cổ truyền vừa hiện đại [25].
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội thì chi phí cho sử dụng dich vụ y
tế cũng ngày càng tăng.Mỹ là nức có chi phí y tế đứng đầu thế giới, những
năm 90, chi phí y tế chiếm 11,9% GDP, đến năm 2009 chi phí y tế tăng lên
chiếm 16% GDP, với chi phí y tế bình quân là 7.290 Đô- la/người [27]. Chi
phí y tế Mỹ gấp 2,5 lần mức chi bình quân của các nước trong OECD- Tổ
chức phát triển và hợp tác kinh tế,gấp 11,8 lần Thổ Nhĩ Kỳ (nước có chi phí y
tế thấp nhất trong Tổ chức phát triển và hợp tác kinh tế) [28]. Hàn Quốc, năm
1990 chi phí y tế mới chỉ chiếm 4,3% GDP nhưng đến năm 2007 chi phí y tế
nước này tăng lên chiếm 6,85 GDP [29].
Tại Trung Quốc, sau thời kỳ mở cửa hệ thống hợp tác xã nông thôn bị
sụp đổ, chi phí không còn là bao cấp nữa, người dân nhất là ở nông thôn tự trả
các dịch vụ khám chữa bệnh khi bị ốm đau. Việc thu phí dịch vụ y tế là rào
cản rất lớn đối với người dân khi bị ốm đau muốn tiếp cận dịch vụ y tế vì
không có khả năng chi trả. Chi phí y tế cho y tế so với tổng chi phí hộ gia
đình ở Trung Quốc vào khoảng 12%, trong đó 15,7% số hộ phải vay tiền để
chi phí cho việc CSSK, 8,8% số hộ phải nợ tiền bệnh viện, 5,6% số hộ phải
bán tài sản của gia đình sau khi đi khám chữa bệnh và 3,3% số hộ phải nhờ
đến sự cứu trợ của chính phủ dành cho bệnh tật [26].
1.4.2. Các nghiên cứu trong nước.
Ngay từ những năm 1990, ở nước ta đã có những cuộc nghiên cứu về
sử dụng dịch vụ và chi phí y tế [6], [7], [8], [9], [10]. Điều này hoàn toàn phù

cứu đánh giá thực trạng hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân ở xã Hợp
Tiến – Đồng Hỷ - Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ người ốm đến trạm y tế là
32,8% với lý do người ốm đến khám tại trạm y tế là gần nhà và tinh thần phục
vụ của cán bộ y tế tốt [11].
Tác giả Nguyễn Thị Kim Chúc trong công trình nghiên cứu về tình
hình sử dụng dịch vụ y tế của người dân Ba Vì năm 1999, cho thấy tỷ lệ ốm
trong vòng 4 tuần là 47,7% tỷ lệ người dân tự điều trị khi ốm từ 62,73% được
phân bố không có sự khác biệt lớn giữa các nhóm kinh tế, văn hóa và nghề
nghiệp.Các cơ sở y tế tư nhân được sử dụng nhiều hơn, trong khi đó các trạm
y tế đã được sử dụng với tỷ lệ thấp. Tỷ lệ đến khám chữa bệnh tại bệnh viện
cao hơn ở nhóm tuổi có trình độ học vấn cao và nhóm cán bộ nhà nước và
công nhân.Không có sự khác biệt giữa các nhóm kinh tế về mô hình sử dụng
dịch vụ y tế; nghề nghiệp là một yếu tố liên quan một cách có ý nghĩa thống
kê đến sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh bệnh viện [12].
Nghiên cứu của Nguyễn Đình Dự ở huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang về
sự tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế cho biết cách xử trí của người ốm trong
vòng 4 tuần trước điều tra là: Cao nhất là đến trạm y tế xã:53,5%. Sau đó là
đến bệnh viện huyện: 23,2%, thấp nhất là đến cán bộ y tế thôn, phòng khám
tư nhân và tự mua thuốc với tỷ lệ ngang nhau: 0,8% [18].
Tác giả Nguyễn Minh Tuấn và Hoàng Khải Lập, khi nghiên cứu về
thực trạng khám chữa bệnh của bệnh nhân có Bảo hiểm y tế và bệnh nhân
phải trả viện phí ở một số bệnh viện của tỉnh Lào Cai và cho thấy: Không có
sự khác nhau về thái độ phục vụ và chăm sóc giữa người bệnh có bảo hiểm y
tế và người bệnh phải trả viện phí, trong một số trường hợp bệnh nhân có thẻ
bảo hiểm y tế vẫn mua thuốc bên ngoài (47,5%) và 50,8% số bệnh nhân đã
không từng dùng bảo hiểm y tế để khám chữa bệnh.
Khi nghiên cứu về “ Thực trạng sự lựa chọn mua thuốc của người dân
Huyện Từ Sơn”, tác giả Phạm Văn Khanh cho thấy khi bị ốm, người dân đến
trạm y tế xã là 20,79%, nhà thuốc tư nhân 4,03%, hiệu thuốc nhà nước 2,96%.
Ở Việt Nam chi phí y tế có xu hướng tăng dần từ 4,9% năm 1999 lên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status