B GIO DC V O TOB Y T
TRNG I HC Y H NI
****
NGUYN O UYấN
ĐáNH GIá MộT Số CHỉ TIÊU NHÂN TRắC ở NGƯờI
TRÊN 16 TUổI QUậN ĐốNG ĐA, Hà NộI
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
KHểA 2007-2013
H Ni - 2013
B GIO DC V O TOB Y T
TRNG I HC Y H NI
****
NGUYN O UYấN
ĐáNH GIá MộT Số CHỉ TIÊU NHÂN TRắC ở NGƯờI
TRÊN 16 TUổI QUậN ĐốNG ĐA, Hà NộI
KHểA LUN TT NGHIP BC S Y KHOA
KHểA 2007-2013
Ngi hng dn: PGS.TS. TRN SINH VNG
H Ni - 2013
Li cm n
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới:
∗ Ban giám hiệu trường Đại Học Y Hà Nội.
∗ Bộ môn Giải Phẫu trường Đại Học Y Hà Nội.
∗ Phòng Đào Tạo Đại Học trường Đại Học Y Hà Nội.
Đã cho phép, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình
học tập.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
PGS-TS. Trần Sinh Vương - là người thầy đã kỳ công hướng dẫn,
truyền đạt cho tôi nhiều ý kiến quý giá để tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cám ơn tới:
∗ PGS-TS. Nguyễn Văn Huy – trưởng Bộ môn Giải Phẫu trường Đại Học Y Hà
nghiên cứu trong quần thể, từ đó có hướng quan tâm và lập kế hoạch sát thực
để cải thiện tình trạng dinh dưỡng, nâng cao thể lực, chăm sóc sức khỏe cho
cộng đồng được nghiên cứu. Chẩn đoán các bệnh làm thay đổi hình thái cơ
thể; Ứng dụng trong hầu hết các nghành kinh tế quốc dân khác như: Xây dựng
các tiêu chuẩn kích thước người để thiết kế máy móc, phương tiện sản xuất,
phương tiện sinh hoạt và trong khám tuyển quân, tuyển sinh, tuyển vận động
viên thể dục thể thao và tuyển nhân lực trong một số nghành nghề đăc biệt
khác… Các chỉ tiêu nhân trắc của một quần thể ngoài quy luật do di truyền
quyết định còn ảnh hưởng của đời sống kinh tế xã hội và môi trường, vì vậy
việc xác định các chỉ tiêu nhân trắc cần đươc tiến hành thương quy khoảng 10
năm một lần [3], [11], [20]. Xác định một số chỉ tiêu nhân trắc ở người trưởng
thành là mục tiêu đầu tiên của khóa luận này.
Chiều cao nói lên tầm vóc của một người, việc nâng cao tầm vóc, thể
lực con người là một đòi hỏi thực tiễn của đất nước ta hiện nay, nhằm nâng
cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước, từng bước nâng cao giống nòi. Ngoài sự chi phối một phần bởi
yếu tố di truyền thì chiều cao còn chịu sự chi phối rất lớn bởi chế độ dinh
dưỡng và luyện tập thể lực. Việc nghiên cứu chiều cao đến tuổi nào là ngừng
phát triển và tuổi nào là suy giảm là rất cần thiết để từ đó góp phần lập ra
chiến lược chăm sóc sức khỏe về dinh dưỡng và luyện tập thể lực một cách cụ
thể, phù hợp với từng giai đoạn phát triển, nhằm đạt được chiều cao tối đa
9
[21]. Việc nghiên cứu sự biến đổi chiều cao theo thời gian là mục tiêu tiếp
theo của khóa luận.
Trong nghiên cứu nhân trắc ở một cộng đồng thì việc đánh giá tình
trạng dinh dưỡng luôn là một đòi hỏi không thể thiếu [20], hơn nữa đánh giá
tình trạng dinh dưỡng bằng nhân trắc học là phương pháp đơn giản nhất, ít tốn
kém nhất, và dược áp dụng phổ biến trên toàn thế giới [1]. Qua nghiên cứu
nhiều quần thể người mà chủ yếu ở người châu Âu, châu Mỹ, tổ chức y tế thế
giới (WHO), tổ chức nông lương thế giới (FAO) đã công nhận chỉ số khối cơ
mục đích nghiên cứu, người ta chia ra: Nhân trắc nhân chủng học, chuyên
nghiên hình thái các các chủng tộc loài người; Nhân trắc học đường, nghiên
cứu thể và các tiêu chuẩn kiểm tra sức khỏe học sinh; Nhân trắc thể dục thể
thao, nghiên cứu các tiêu chuẩn kiểm tra sức khỏe vận động viên hoặc xác
định thiên hướng cũng như lựa chọn vận động viên vào môn thể thao thích
hợp nhất; Nhân trắc nghề nghiệp nhằm xác định thiên hướng nghề nghiệp
thích hợp cho từng đối tượng ; Nhân trắc y học, nghiên cứu sự phát triển cơ
thể trẻ em theo từng lứa tuổi, phân loại tình trạng dinh dưỡng và thể lực, xác
định các thay đổi hình thái do bệnh lý và đánh giá tình trạng bình thường hay
bệnh tật của một người… [11].
11
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NHÂN TRẮC Ở NGƯỜI VIỆT NAM
TRƯỞNG THÀNH
Tình hình nghiên cứu trước năm 1975
Ở nước ta, nhân trắc học đã được quan tâm khá sớm, từ những năm 30
của thế kỷ XX tại viện Giải Phẫu học Hà Nội và Ban Nhân học thuộc Viện
Viễn Đông Bác Cổ, với những công trình nghiên cứu của Đỗ Xuân Hợp,
Bigot, Huard P được công bố chủ yếu trong nội san “Các công trình nghiên
cứu của Viện Giải Phẫu học, Đại học y khoa Đông Dương” từ 1936 đến 1944.
Tuy nhiên các công trình này vẫn còn ít nhiều hạn chế, vì chưa vận dụng được
toán thống kê vào việc trình bày và nhận định kết quả, đồng thời các phương
tiện nghiên cứu cũng không được nói tới (dẫn theo Trần Sinh Vương [20] ).
Việc nghiên cứu bị đứt đoạn qua 9 năm kháng chiến chống Pháp và bắt
đầu khôi phục chở lại từ khi hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954. Trong
giai đoạn này do nhu cầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, các công tác
cơ bản về điều tra y tế đã được đẩy mạnh, trong đó điều tra nhân trắc đã có
bước tiến đáng kể, toán học thống kê đã được vận dụng để nhận định kết quả
chính xác hơn (dẫn theo Nguyễn Trường An [1] ).
Vào các năm 1967, 1972 hai hội nghị toàn miền Bắc về hằng số sinh học
người Việt Nam đã được tổ chức, qua đó rất nhiều công trình nghiên cứu đươc
Công trình tiếp thứ hai được tiến hành trong thập kỷ 90, đây là một dự
án cấp nhà nước mang tên “ Điều tra cơ bản một số chỉ tiêu sinh học người
Việt Nam bình thường ở thập kỷ 90”. Trong đó đề tài nghiên cứu về các chỉ
tiêu hình thái – thể lực, dinh dưỡng là một phần của dự án này, đề tài đã đươc
thực hiện trên phạm vi toàn quốc. So với các nghiên cứu về nhân trắc mang
13
tầm cỡ quốc gia của thời kỳ trước thì đây là đề tài nghiên cứu đầy đủ hơn cả,
với số liệu nhân trắc lên tới hàng vạn, thu thập ở 19 tỉnh thành phố trải khắp
ba miền Bắc, Trung, Nam. Đề tài này gồm 12 đề mục nghiên cứu và do GS –
TS Trịnh Văn Minh làm chủ nhiệm. Trong đó tất cả các đề mục nghiên cứu
đều tuân thủ thống nhất về nội dung, kỹ thuật cũng như phương pháp nghiên
cứu, được đề ra trong “Mô hình nghiên cứu một số chỉ tiêu nhân trắc cơ bản
người Việt nam bình thường ở thập kỷ 90” do GS. Trịnh Văn Minh thiết kế và
đã đươc hội đồng cấp bộ thống nhất thông qua vào năm 1993 [6]. Số liệu
nghiên cứu được thống kê và đánh giá theo từng đề mục ở từng vùng nghiên
cứu [9]. Các kết quả nghiên cứu trên toàn quốc đã được Trịnh Văn Minh chủ
trì thực hiện, trong nhóm chỉ tiêu nhân trắc người lớn đã nghiên cứu trên
43.991 người (21.443 nam; 22.548 nữ), mỗi đối tượng được đo 10 kích thước
nhân trắc cơ bản và 4 chỉ số hình thái thể lực được tính toán. So với hai cuộc
tổng điều tra ở thập kỷ 70 và 80 thì dự án điều tra cơ bản nói chung và đề tài
nhánh về “Các chỉ tiêu nhân trắc người Việt Nam bình thường ở thập kỷ 90”
nói riêng, đã có những đóng góp rất có giá trị cho nghiên cứu nhân trắc như:
Đưa ra được cách phân chia nhóm tuổi rất thiết thực, giúp đánh giá được
chính xác hơn diễn biến các kích thước nhân trắc theo tuổi và đình điểm của
sự phát triển của các đối tượng được nghiên cứu, đó là phân chia tuổi nghiên
cứu từ 16 – 25 tuổi, mỗi năm là một nhóm tuổi [7]. Trong khi đó, cách phân
chia nhóm tuổi để nghiên cứu của cuốn Hằng số sinh học là gộp các tuổi giai
đoạn sau dậy thì làm một nhóm [15]; còn cuốn Atlat nhân trắc học thì phân
các đối tượng dưới 20 tuổi thành môt nhóm, những tuổi sau đó là 10 năm một
nhóm [18].
15
nghị của GS. Trịnh Văn Minh [7]. Qua phân tích các kết quả thu thập được,
tác giả đưa nhận xét:
Thể lực của người trưởng thành miền Trung tương đương với miền Bắc, thấp
hơn người miền Nam và Tây Nguyên. Có sự khác biệt rõ rệt về thể lực giữa 2
khu vực nông thôn và thành thị của người miền Trung.
Xét về diễn biến chiều cao theo tuổi; ở nam giới, chiều cao tăng nhanh từ 15
đến 18 tuổi, tăng chậm lại cho đến 20 tuổi và ít nhiều dao động ở các tuổi từ
21 đến 24, sau đó chiều cao có xu hướng giảm dần nhẹ kéo dài từ 25 đến 59
tuổi và suy giảm mạnh rõ rệt ở tuổi ≥ 60. Ở nữ giới, chiều cao cũng tăng
nhanh từ tuổi 15 đến 18 nhưng tốc độ tăng nhỏ hơn nam, tương đối ổn định từ
18 đến 21 tuổi, sau đó có xu hướng giảm dần, có sự suy giảm rõ nét từ nhóm
tuổi 30-39 và giảm mạnh ở nhóm tuổi ≥ 60.
Ở miền Bắc, trong những năm đầu của thập kỷ 90, Nguyễn Hữu Chỉnh,
Nguyễn Thế Hùng… đã nghiên cứu về hình thái – thể lực của sinh viên của
đại học Y Hải Phòng, 495 sinh viên (264 nam và 231 nữ) đã được nghiên cứu
trong vòng 3 năm từ 1992 - 1994[2]. Qua đó tác giả đưa ra nhận xét là: Hình
thái, thể lực của các sinh viên đều cao hơn ít nhiều so với số liệu của hằng số
sinh học năm 1975.
Trong số rất nhiều các nghiên cứu ở miền Bắc thì nổi bật hơn cả là các
công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Trịnh Văn Minh, Trần Sinh Vương,
…đã nghiên cứu hình thái thể lực của người trưởng thành ở các tỉnh đồng
bằng miền Bắc từ năm (1992 – 1997) [8], [9]. Qua cuộc điều tra thí điểm ở xã
Liên Ninh thuộc ngoại thành Hà Nội, Trịnh Văn Minh đã xây dựng mô hình
nghiên cứu được đưa ra trong “Nghiên cứu điều tra một số chỉ tiêu nhân trắc
cơ bản, để đánh giá tình trạng thể lực, dinh dưỡng và sự tăng trưởng người
Việt Nam bình thường trong giai đoạn hiện nay” [7], mô hình sau đó đã được
thống nhất sử dụng trong các nghiên cứu nhân trắc trên toàn quốc.
16
Năm 1994, Trịnh Văn Minh, Trần Sinh Vương và cộng sự đã điều tra
nghiên cứu [22], tác giả đã đưa ra kết quả bước đầu: Sau 16 tuổi, chiều cao
của cả nam và nữ tiếp tục tăng, đạt cao nhất ở tuổi 19 đối với nam (trung
bình: 165,51cm) và nữ là ở những tuổi 21-22 (trung bình: 154,82cm).
Ở huyện Ba Vì, nghiên cứu 3.004 người (1.429 nam và 1.575 nữ) [23],
kết quả bước đầu cho thấy: Sau dậy thì, chiều cao tiếp tục tăng dần theo tuổi ở
cả hai giới, đạt mức cao nhất đối với nam là ở tuổi 23 – 24 (trung
bình:165,31cm), ở nữ là tuổi 21 (trung bình: 154,45 cm).
Năm 2012, nhằm mục đích đánh giá sự biến đổi chiều cao ở người
trưởng thành sống tại Hà Nội, tác giả đã nghiên cứu trên 8.780 người (3728
nam và 5052 nữ) từ tuổi 16 trở lên [21], qua phân tích các kết quả thu được
cho thấy: Sau 16 tuổi chiều cao của cả hai giới đều tiếp tục tăng dần và đạt
cao nhất ở nam giới tuổi 24 (167,31 ± 5.69 cm); với nữ là ở tuổi 21 (156,04 ±
4.38 cm). Sau giai đoạn này, chiều cao khá ổn định và sau tuổi 39 thì chiều
cao của cả hai giới giảm đi rõ rệt.
Như vậy nhìn qua về các công trình nghiên cứu về nhân trắc của người
Việt Nam trưởng thành qua các giai đoạn có thể thấy tầm vóc, thể lực của
người dân nước ta đã tăng lên qua các giai đoạn. Nhìn chung, tầm vóc và thể
lực của người trưởng thành tăng dần từ đồng bằng Bắc Bộ đến miền Trung,
tiếp theo là miền Nam và cao nhất ở Tây Nguyên. Riêng về chiều cao, các
nghiên cứu đều cho thấy có quy luật gia tăng chiều cao cơ thể theo thời gian.
1.3. GIÁ TRỊ CỦA BMI VÀ TÌNH HÌNH ĐÁNH GIÁ DINH DƯỠNG Ở
NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH VIỆT NAM DỰA TRÊN BMI
1.3.1. Giá trị của BMI
BMI = cân nặng (kg) / chiều cao
2
(m) hay BMI = W / H
2
18
Trong đó: Weight (W) là cân nặng, height (H) là chiều cao.
1.3.1.1. BMI – chỉ số lý tưởng để đánh giá dinh dưỡng ở người trưởng thành
-0,02/-0,12
-0,20
-0,17
-0,23/-0,09
-0,15
Chú thích:* 5 nhóm sắc tộc khác nhau
BMI liên quan với khối mỡ cơ thể và bề dày lớp mỡ dưới da:
Bằng cách so sánh giữa BMI và lượng mỡ cơ thể (được ước tính bằng
phương pháp đáng tin cậy là đo tỷ trọng), nhiều nghiên cứu khác nhau trên
các quần thể khác nhau đã chỉ ra rằng BMI có tương quan chặt chẽ với khối
mỡ cơ thể với r = 0,70 – 0,95. Đồng thời BMI cũng cho thấy BMI tương quan
chặt chẽ với tổng các nếp gấp da r = 0,61 – 0,95 theo số liệu của Keys và
cộng sự năm 1972 (dẫn theo Shetty và James [20]).
20
BMI liên quan với tình trạng kinh tế:
Fracois (1989), Gracia và Alderman (1991), Ferro – Luzzi và cộng sự
(1992) cho biết có sự liên quan khá rõ rệt giữa BMI và mức thu nhập của các
đối tượng được nghiên cứu. Kết quả nghiên tại Brazil cho thấy: tỷ lệ % người
béo phì (BMI > 27) của những người có thu nhập cao ( > 2500 USD/năm) cao
hơn hẳn so với người có thu nhập thấp ( < 160 USD/năm); ngược lại tỷ lệ %
người thiếu cân (BMI < 18,5) ở những người thu nhập thấp cao hơn hẳn
những người có thu nhập cao.
Tuy nhiên việc sử dụng BMI là chỉ báo về tình trạng kinh tế là khó
khăn, đặc biệt là ở các nước công nghiệp phát triển vì : mô hình ăn uống, hoạt
động thể lực, kiến thức, thái độ vá sự quan tâm của người dân với kích thước
và vóc dáng cơ thể của họ là rất khác nhau. Đối với các nước đang phát triển
thì việc diễn giải kinh tế dựa vào BMI có dễ dàng hơn so với các nước công
nghiệp phát triển (dẫn theo Trần Sinh Vương [20]).
BMI liên quan với một số chỉ số sinh hóa:
Một số chỉ số sinh hóa mà chủ yếu là lipid máu, đường máu có liên
Bảng 1.3 (dẫn theo Trần Đình Toán [13]).
22
Bảng 1.3. Thang phân loại BMI của James, Ferro – Luzzi và Waterlow
năm 1988
Khoảng BMI Độ béo gầy
< 16
16-16,9
17-18,4
18,5-24,9
25-29,9
30-39,9
≥ 40
CED độ 3
CED độ 2
CED độ 1
bình thường
béo phì độ 1
béo phì độ 2
béo phì độ 3
CED = Chronic Energy Defficiency = Thiếu năng lượng trường diễn
Năm 2000, Hội Đái Tháo Đường Châu Á đưa ra thang phân loại BMI
của người Châu Á – Bảng 1.4
Bảng 1.4. Thang phân loại BMI của Hội Đái Tháo Đường Châu Á năm
2000 (dẫn theo Viện Dinh Dưỡng [16])
Khoảng BMI Độ béo gầy
< 16
16-16,9
17-18,4
18,5-22,9
23-24,9
Ngoài ra có còn một số công trình nghiên cứu mối liên quan giữa BMI
với tình trạng kinh tế, khẩu phần ăn, với một số chỉ số sinh hóa cơ bản như:
công trình của Viện Dinh Dưỡng trong cuộc tổng điều tra dinh dưỡng năm
2000 [16], công trình của Hà Huy Khôi, Tứ Giấy [25], Trần Đình Toán
nghiên cứu về mối liên quan của BMI với một số chỉ tiêu sinh hóa như đường
máu, lipid máu…[16].
Như vậy có thể thấy: BMI là một chỉ số lý tưởng để đánh giá dinh
dưỡng cộng đồng ở người trưởng thành. Việc sử dụng BMI là một chỉ tiêu để
đánh giá dinh dưỡng đều có mặt trong hầu hết các nghiên cứu về nhân trắc
cũng như các nghiên cứu về dinh dưỡng và sức khỏe, bệnh tật có liên quan
đến tình trạng dinh dưỡng.
24
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
2.1.1. Tiêu chuẩn chọn mẫu
− Đối tượng nghiên cứu là người Việt Nam bình thường về mặt nhân trắc [7],
[11], [14], cụ thể như sau:
o Không có những dị dạng, dị tật bẩm sinh hay mắc phải mà gây ảnh hưởng tới
các kích thước nhân trắc như: (gù, vẹo , thọt, teo cơ,…)
o Không có các bệnh cấp hay mãn tính hoặc ở trong tình trạng làm ảnh hưởng
tới các kích thước cần đo, như: (hen, lao, phù, phụ nữ có thai…)
o Hợp tác tốt khi đo
− Địa điểm nghiên cứu: Quận Đống Đa – Hà Nội
− Tuổi và nghề nghiệp:
o Tuổi từ 16 trở lên, với đủ mọi thành phần xã hội và nghề ngiệp, như: công
nhân, công chức, học sinh, sinh viên, hưu trí, doanh nhân…
o Tuổi đươc tính và phân chia theo mô hình nghiên cứu của dự án điều tra cơ
bản [7] (xem ở phần phương pháp nghiên cứu).
2.1.2. Số lượng đối tượng nghiên cứu
Kỹ thuật đo đạc được thực hiện đúng theo mô hình nghiên cứu một số
chỉ tiêu nhân trắc cơ bản… [7], nhân trắc học và sự ứng dụng nghiên cứu trên
người Việt Nam… [11] đã nêu, cụ thể như sau:
− Cân nặng