Đánh giá tính trạng dinh dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn - Pdf 28



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRẦN VĂN VŨ
ĐÁNH GIÁ TÌNH TRẠNG DINH DƢỠNG
Ở BỆNH NHÂN BỆNH THẬN MẠN Chuyên ngành: Nội Thận - Tiết niệu
Mã số: 62720146 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

Thành Phố Hồ Chí Minh – Năm 2015 Công trình đƣợc hoàn thành tại:
ĐẠI HỌC Y DƢỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


nhân BTM đang điều trị lọc máu hay thẩm phân phúc mạc định kỳ.
Kết quả nghiên cứu của Heimburger O(năm 2000) cho thấy ở thời
điểm khởi phát lọc máu, tỷ lệ SDD thay đổi trong khoảng 29% -
48%. Nghiên cứu của Jager KJ (năm 2001) cho thấy tỷ lệ SDD cũng
chiếm khoảng 23% – 76% ở những bệnh nhân lọc máu và 18% - 50%
ở những bệnh nhân thẩm phân phúc mạc định kỳ.Tuy nhiên, hiện nay
trên thế giới cũng như tại Việt Nam còn ít nghiên cứu về SDD ở đối
tượng bệnh nhân BTMở cả 5 giai đoạn và chưa điều trị thay thế thận.
Xuất phát từ thực tế trên đề tài luận án: “Đánh giá tình trạng dinh
dưỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn” được chúng tôi tiến hànhvới các
mục tiêu:
1- Khảo sát tỷ lệ suy mòn (cachexia) ở bệnh nhân BTM chưa điều trị
thay thế thận.
2- Khảo sát tỷ lệ SDD bằng phương pháp theo dõi trọng lượng cơ thể
(qua phép đo chỉ số khối cơ thể), phương pháp đánh giá tình trạng dự
trữ chất béo của cơ thể (qua phép đo nếp gấp da cơ tam đầu), phương
pháp đánh giá tình trạng dự trữ năng lượng dạng protein trong khối
cơ vân (qua phép đo chu vi cánh tay, chu vi cơ giữa cánh tay, diện
tích cơ cánh tay không bao gồm xương) và phương pháp đánh giá dự
trữ protein nội tạng (qua định lượng albuminHT, prealbumin HT,
transferrin HT)ở bệnh nhân BTM chưa điều trị thay thế thận.
3- Khảo sát tỷ lệ SDD bằng phương pháp đánh giá tổng thể tình trạng
dinh dưỡng theo chủ quan của Detsky (Subjective Global
2
Assessment- SGA) và phiên bản SGA_7 thang điểm ở bệnh nhân
BTM chưa điều trị thay thế thận. Từ dân số nghiên cứu đề nghị bảng
kiểm đánh giá tổng thể tình trạng dinh dưỡng theo chủ quan rút gọn

- Tỷ lệ SDD thay đổi tùy theo các biện pháp và ngưỡng đánh giá.
- Thiết lập bảng điểm mới (Mini-SGA) trong đánh giá dinh dưỡng ở
bệnh nhân BTM và tỷ lệ SDDkhi áp dụng bảng điểm này.
- Gợi ý quy trình đánh giá dinh dưỡng trong thực hành lâm sàng ở
bệnh nhân BTM dựa trên các phương pháp đánh giá dinh dưỡng.
BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Luận án gồm 130 trang: phần mở đầu 2 trang, tổng quan 31 trang,
phương pháp nghiên cứu 15 trang, kết quả 35 trang, bàn luận 43
trang, kết luận và kiến nghị 3 trang.Luận án có 58 bảng, 26biểu đồ, 2
hình, 2 sơ đồ. Luận án có 231 tài liệu tham khảo, trong đó có 11 tài
liệu tiếng Việt và 220 tài liệu tiếng Anh.
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1Bệnh thận mạn
1.1.1 Định nghĩa bệnh thận mạn
Theo Hội Đồng Lượng giá Kết quả bệnh thận Quốc Gia Hoa Kỳ
năm 2002 (Kidney Disease Outcomes QualityInitiative- KDOQI
2002) BTM được chẩn đoán dựa vào một trong hai tiêu chuẩn sau:
(1) Tổn thương thận kéo dài trên 3 tháng, được chứng minh bằng
những bất thường về cấu trúc hoặc chức năng của thận có kèm hoặc
không kèm giảm độ lọc cầu thận biểu hiện bằng: bất thường về mô
bệnh học hoặc có bằng chứng tổn thương thận bao gồm những bất
thường về máu, nước tiểu hoặc xét nghiệm hình ảnh học.
(2) Độ lọc cầu thận giảm dưới 60ml/phút/1,73m
2
da kéo dài trên 3
tháng, kèm hoặc không kèm tổn thương thận.


1.2 Suy dinh dƣỡng ở bệnh nhân bệnh thận mạn
1.2.1 Định nghĩa suy dinh dƣỡng: là sự mất cân bằng trong cung
cấp chất dinh dưỡng và năng lượng so với nhu cầu của cơ thể.
1.2.2 Ảnh hƣởng của SDD trên bệnh nhân bệnh thận mạnchƣa
điều trị thay thế thận:SDD làm trầm trọng thêm sự suy giảm chức
năng thận thông qua tác động làm suy giảm khả năng bài tiết chất
thải, muối và acid, giảm lưu lượng máu tới thận, giảm độ thanh lọc
cầu thận và khả năng cô đặc nước tiểu. Tỷ lệ SDD xác định bằng
phương pháp SGA tại thời điểm trước khi bắt đầu liệu pháp thay thế
thận là 39 – 48%. Ở những đối tượng có độ lọc cầu thận càng thấp thì
tỷ lệ SDD càng cao: Tỷ lệ SDD vào khoảng 20 – 28% tương ứng với
GFR = 30 – 20 ml/phút/1,73m
2
da, và khoảng 40% khi GFR < 15
ml/phút/1,73m
2
da. Nghiên cứu tại Úc cho thấy những bệnh nhân
5
SDD có nguy cơ tử vong hoặc khởi đầu điều trị lọc máu cao gấp 3
lần so với nhóm bệnh nhân dinh dưỡng tốt với cùng chức năng thận.
1.3 Các phƣơng pháp đánh giá tình trạng dinh dƣỡng
Bảng 1.3: Các phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng
Nhóm phƣơng pháp
Phƣơng pháp đánh giá
A.Phương pháp đánh giá
tổng thể tình trạng dinh
dưỡng theo chủ quan

prealbumin huyết thanh; Định lượng
transferrin huyết thanh; Định lượng cholesterol
huyết thanh; Chỉ số creatinin theo chiều cao;
Đánh giá cân bằng protein – cân bằng nitơ
H. Phân tích thành phần
cơ thể bằng phương pháp
kỹ thuật cao
Phương pháp phân tích trở kháng sinh điện
Phương pháp đo hấp thụ x quang năng lượng
kép
J. Phương pháp đánh giá
gồm nhiều phương pháp
kếthợp
Tiêu chuẩn chẩn đoán hội chứng suy mòn
The Malnutrition-Inflammation Score (MIS)
6
CHƢƠNG 2: ĐỐI TƢỢNG & PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang, tiền cứu.
2.2 Đối tƣợng nghiên cứu
2.2.1. Địa điểm, thời gian nghiên cứu: tại khoa Nội Thận và phòng
khám Thận bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 9/2009 đến tháng 9/2011.
2.2.2. Dân số nghiên cứu
2.2.2.1 Tiêu chuẩn chọn bệnh
Bệnh nhân được chẩn đoán BTM ở cả 5 giai đoạn dựa theo tiêu
chuẩn của KDOQI năm 2002 và chưa điều trị thay thế thận.
2.2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ:bệnh nhân bị loại khỏi nghiên cứu nếu
có 1 trong các tiêu chuẩn:phù, cổ chướng phát hiện được trên lâm

BMI, TSF, MAC, MAMC, AMA, albumin HT, transferrin HT,
prealbumin HT, hội chứng suy mòn.
2.5 Phân tích số liệu: số liệu nghiên cứu được thu thập và xử lý
thống kê bằng phần mềm SPSS 16.0.
CHƢƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu
Dân số nghiên cứu gồm 467 bệnh nhân BTMchưa điều trị thay thế
thận, có 230 bệnh nhân nữ (49,3%) và 237 bệnh nhân nam (50,7%), tỉ
số nam: nữ là 1,03:1.Tuổi trung bình là 46 (18 – 90 tuổi).Tỷ lệ bệnh
nhân phân bố đều ở cả 5 giai đoạn của BTM.
3.2 Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng bằng hội chứng suy mòn
Bảng 3.3:Phân loạidinh dưỡng theo hội chứngsuy mòn.
Hội chứng suy mòn
Chung
(n = 467)
Nam
(n = 237)
Nữ
(n = 230)
p
Số trường hợp(n,%)
95(20,3)
39 (16,5)
56 (24,3)
0,034
Số trường hợp SDD theo từng giai đoạn BTM (n,%)
*
:
BTM giai đoạn 1
1 (1,1)

8
bắp;chán ăn; mệt mõi; chỉ số khối không béo thấp (MAMC < 10%
percentile so với giá trị chuẩn) và bất thường về chỉ số sinh hóa khi
kết quả thu được CRP > 5 mg/L hoặc Hb < 12g/ dL hoặc albumin HT
< 3,2 g/dL.Tỷ lệ suy mòn là 20,3%, có sự gia tăng có ý nghĩa tỷ lệ
suy mòn theo tiến triển của BTM (p < 0,001).
3.3 Phƣơng pháp đánh giá dự trữ protein nội tạng
3.3.1 Định lƣợng albumin huyết thanh
Với chất thử là Bromocresol xanh, sử dụng ngưỡng chẩn đoán
albumin HT < 3,5g/dL, tỷ lệ SDDxác định là 12,4%. Albumin HT bắt
đầu suy giảm có ý nghĩa từ giai đoạn 4 của BTM.
Chỉ số albumin HT đánh giá tình trạng dinh dưỡng có độ đặc hiệu
93,55% nhưng độ nhạy thấp chỉ 35,79%.Từ đó, gợi ý cho chúng tôi
tìm ngưỡng đánh giá khác của albumin HT có thể giúp cải thiện độ
nhạy của chỉ số này.
Xác định điểm cắt của albumin HT: vẽ đường cong chẩn đoán
SDD của albumin HT với chuẩn đánh giá là hội chứng suy mòn, kết
quả thu được ROC = 0,64 (KTC 95%: 0,57 – 0,70).
Bảng 3.7: Điểm cắt chỉ số albumin HT với độ nhạy và độ đặc hiệu
Chỉ số albumin HT(g/dL)
Độ nhạy
Độ đặc hiệu
< 3,5
35,79
93,55
< 3,6
42,18
92,20
< 3,7
48,46

Độ nhạy
Độ đặc hiệu
< 22,1
45,45
87,95
< 22,5
54,55
86,75
< 23
54,55
84,34
Nhận xét: ngưỡng prealbumin HT < 22,5 mg/dL để chẩn đoán SDD
ở BTM giai đoạn 3với độ nhạy 54,55%, độ đặc hiệu 86,75%.
Xác định điểm cắt của chỉ số prealbumin HT trong chẩn đoán
SDD ở bệnh nhân BTM giai đoạn 4 – 5: vẽ đường cong chẩn đoán
SDD của prealbumin HT với chuẩn đánh giá là hội chứng suy mòn,
thu được ROC = 0,66 (KTC 95%: 0,58 – 0,74).
Bảng 3.12: Điểm cắt của prealbumin HT cho BTM giai đoạn 4 –5.
Chỉ số prealbumin HT(mg/dL)
Độ nhạy
Độ đặc hiệu
< 27,3
55,13
70,91
< 27,5
56,41
70,91
< 27,7
56,41
70,0

tôi ghi nhận tỷ lệ SDD là 18,2% (BMI < 18,5 kg/m
2
), tỷ lệ thừa
11
cân/béo phì là 26,3%. Có sự khác biệt về giá trị BMI theo các giai
đoạn của BTM (p = 0,046) nhưng chúng tôi nhận thấy không có sự
gia tăng tỷ lệ SDD theo tiến triển của BTM.
3.5 Đánh giá tình trạng dự trữ chất béo của cơ thể.
Phương pháp đo Chỉ số nếp gấp da cơ tam đầu (TSF):Số đo
TSFthấp hơn ở nam giới có ý nghĩa so với nữ. Khi đánh giá và phân
loại tình trạng dinh dưỡng theo số đo TSF, chúng tôi ghi nhận tỷ lệ
SDD là 48,4%. Số đo TSF và tỷ lệ SDD xác định bằng số đo TSF
không có sự khác biệt giữa các giai đoạn của BTM.
3.6 Đánh giá tình trạng dự trữ năng lƣợng trong khối cơ
vân:bằngchỉ số chu vi cánh tay (MAC), chu vi cơ giữa cánh tay
(MAMC), diện tích cơ cánh tay (AMA): tỷ lệ SDD xác định bằng các
chỉ số MAC, MAMC, AMA tương ứng là 22,7%, 13,5%, 44,1%. Tỷ
lệ SDD xác định bằng các chỉ số này không có sự khác biệt giữa các
giai đoạn của BTM (tương ứng p = 0,680;0,061; 0,406).
3.7 Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng bằng phƣơng pháp đánh giá
dinh dƣỡng tổng thể theo chủ quan(SGA)
3.7.1 Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng bằng SGA_3 thang điểm,
SGA_7 thang điểm
Tỷ lệ SDD đánh giá bằng số điểm SGA_3 thang điểm, SGA_7
thang điểm không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa nam và nữ. Khi
đánh giá tình trạng dinh dưỡng theo SGA_3 thang điểm, SGA_7
thang điểm: chúng tôi ghi nhận tỷ lệ SDD tương ứng là 36,2%,

< 0,001
0,998
0,082
< 0,001
< 0,001
Nhận xét: SGA phần 4 và SGA phần 5 không có đóng góp có ý
nghĩa trong kết quả đánh giá cuối cùng của phương pháp SGA.
Chúng tôi loại bỏ 2 phần đánh giá này để tạo nên phiên bản đánh giá
dinh dưỡng mới gọi là SGA rút gọn viết tắt Mini_SGA.
Xác định điểm cắt trong chẩn đoán SDD nhẹ - trung bình của
Mini_SGA: vẽ đường cong ROC lấy chuẩn là kết quả đánh giá
SGA_3 thang điểm, thu được ROC = 0,98 (KTC 95%: 0,937–0,975).
Bảng 3.29: Điểm cắt SDD nhẹ - trung bình của Mini_SGA
Chỉ số Mini_SGA (điểm)
Độ nhạy
Độ đặc hiệu
≥ 7
100
67,11
≥ 8
97,04
93,62
≥ 9
66,27
98,66
Nhận xét:điểm cắt Mini_SGA ≥ 8 mang lại kết quả chẩn đoán SDD
mức độ nhẹ - trung bình với độ nhạy là 97%, độ đặc hiệu là 93,6%
Xác định điểm cắt chẩn đoán SDD nặng của Mini_SGA: vẽ
đường cong ROC lấy chuẩn là kết quả đánh giá SGA_3 thang điểm,
thu được ROC = 0,98 (KTC 95%: 0,95 – 0,98).

Độ nhạy
(%)
Độ đặc
hiệu (%)
Giá trị chẩn
đoán dương (%)
Giá trị chẩn
đoán âm(%)
Albumin HT
35,79
93,55
58,62
85,09
PrealbuminHT
53,68
87,63
52,58
88,11
Transferin HT
81,05
54,30
31,17
91,82
BMI
37,89
86,83
42,35
84,55
TSF
53,68

75,81
50,82
99,30
Nhận xét:chỉ số albumin HT đánh giá tình trạng dinh dưỡng có độ
đặc hiệu cao nhất (93,55%), trong khi đó chỉ số Mini_SGA có độ
nhạy tốt hơn so với các chỉ số đánh giá khác (97,89%).
14
Mỗi phương pháp đánh giá một khía cạnh khác nhau của tình
trạng dinh dưỡng. Việc kết hợp nhiều phương pháp đánh giá khác
nhau có thể cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về tình trạng dinh dưỡng
của bệnh nhân. Chúng tôi đề nghị kết hợp các phương pháp đánh giá
dinh dưỡng theo quy trình như sau:

Sơ đồ 3.1: Quy trình đánh giá tình trạng dinh dưỡng và tỷ lệ suy
mòn ở bệnhnhân BTM chưa điều trị thay thế thận.
15
CHƢƠNG 4:BÀN LUẬN
4.1Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng bằng hội chứng suy mòn
Cho tới hiện nay, tuy có nhiều phương pháp đánh giá về dinh
dưỡng nhưng vẫn chưa có tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán tình trạng
SDD. Những hướng dẫn của KDOQI năm 2000 về dinh dưỡng thận
cho thấy nên ưu tiên sử dụng phối hợp nhiều phương pháp đánh giá
để ghi nhận một cách toàn diện về tình trạng dinh dưỡng của bệnh
nhân. Hội chứng suy mòn được kết hợp bởi nhiều phương pháp như:

thiện ngưỡng chẩn đoán sẽ giúp chẩn đoán SDD sớm hơn. Ngoài
ngưỡng albumin HT < 3,5 g/dL được sử dụng phổ biến, albumin HT
còn có các ngưỡng đánh giá khác như: < 3,8 g/dL được đề xuất bởi
Doumas BT và cộng sự (1971) cho mọi đối tượng bệnh nhân, ngưỡng
albumin HT < 3,8 g/dL cũng được sử dụng trong hệ thống đánh giá
SDD được phát triển bởi Fouque D và cộng sự (2008) ở bệnh nhân
lọc máu. Trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy nếuchọn ngưỡng
đánh giá albumin HT < 3,8 g/dLcó độ nhạy 53,68% (tăng gấp 1,5 lần
so với ngưỡng albumin HT < 3,5 g/dL), độ đặc hiệu 87,10% trong
chẩn đoán SDD.Chúng tôi hy vọng vớicỡ mẫu đủ lớn có thể để xác
định giá trị của ngưỡng đánh giá này.
4.2.2 Định lƣợng prealbumin huyết thanh: Cùng với tiến triển của
suy giảm chức năng thận có 2 quá trình xảy ra đồng thời, một là tăng
nồng độ prealbumin do thận giảm chuyển hóa và thải trừ, hai là SDD
gia tăng làm giảm nồng độ prealbumin. Hai quá trình làm tăng và làm
giảm nồng độ prealbumin HT này xảy ra song song và vì vậy giá trị
trung bình của chỉ số prealbumin HT không có sự khác biệt giữa 5
giai đoạn BTM. Với chuẩn đánh giá là hội chứng suy mòn chúng tôi
tiến hành phân tích độ nhạy, độ đặc hiệu, diện tích dưới đường cong
(ROC) của từng ngưỡng prealbumin HT trong chẩn đoán SDD. Từ
17
đó tìm ra các điểm cắt tương ứng với các giai đoạn của BTM: BTM
giai đoạn 1- 2: chẩn đoán SDD khi prealbumin HT < 15 mg/dL; BTM
giai đoạn 3: chẩn đoán SDD khi prealbumin HT < 22,5 mg/dL; BTM
giai đoạn 4 – 5: chẩn đoán SDD khi prealbumin HT < 27,5 mg/dL.
Kết quả từ nghiên cứucho thấy nồng độ trung bình của prealbumin
HT ở giới nữ thấp hơn ở nam giới. Kết quả này tương tự như kết quả

là 48,6% dân số nghiên cứu. Tỷ lệ SDD xác định bằng định lượng
transferrin HT là 52,9%, tỷ lệ SDD xác định bằng định lượng
transferrin HT là cao nhất so với tỷ lệ SDD xác định bằng các
phương pháp đánh giá khác cùng được sử dụng trong nghiên cứu (tỷ
lệ SDD dao động trong khoảng từ 12,4% - 48,4%). Vấn đề đặt ra là
chúng tôi không thể phân biệt được tình trạng giảm transferrin HT ở
52,9% bệnh nhân là do SDD hay do nguyên nhân từ tình trạng tăng
dự trữ chất sắt. Khi so sánh transferrin HT với hội chứng suy mòn
chúng tôi ghi nhận độ đặc hiệu của transferrin thấp chỉ54,3%. Từ đó
chứng tỏ transferrin HTkhông hữu dụng trong việc đánh giá dinh
dưỡng cho bệnh nhân BTM.
4.3 Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng bằng phƣơng pháp theo dõi
trọng lƣợng cơ thể. Phƣơng pháp đo Chỉ số khối cơ thể: Nghiên
cứu của Leinig C và cộng sự (2008) trên bệnh nhân BTM từ giai
đoạn 3 đến giai đoạn 5 cho thấy BMI tương quan mạnh với chỉ số
khối chất béo thu được bằng phương pháp DEXA, BMI là một chỉ số
đáng tin cậy về tình trạng khối chất béo trong cơ thể ở những bệnh
nhân BTM chưa lọc máu. Trong khi đó, kết quả nghiên cứu của
chúng tôi cho thấy độ nhạy của BMI khá thấp (37,89%) so với các
chỉ số đánh giá khác. Một trong các nguyên nhân ảnh hưởng đến kết
quả đánh giá bằng BMI hiện diện trong nghiên cứu đó là dân sốngười
lớn tuổi (> 65 tuổi) chiếm 18%. Bởi vì tuổi tác có thể làm thay đổi
19
thành phần trong cơ thể, ở những người trên 65 tuổi có tình trạng mô
mỡ thay thế khối cơ bắp trong quá trình lão hóa,qua đóBMI trở nên
không đáng tin cậy trong việc xác định các nguy cơ dinh dưỡng ở
người lớn tuổi. Ngoài ra, người lớn tuổi thường mắc các bệnh thoái

quả nghiên cứu nhận thấy ngoại trừ số đo MAC không có sự khác
biệt có ý nghĩa giữa các giai đoạn BTM, các chỉ số MAMC, AMA
cho thấy sự suy giảm khi bệnh thận tiến triển. Theo tổ chức y tế thế
giới các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ số nhân trắc học bao gồm tuổi tác,
giới tính và chủng tộc. Chúng tôi ghi nhận các chỉ số đánh giá khối
cơ bắp (MAC, MAMC, AMA) ở nam cao hơn nữ. Kết quả này phù
hợp với đặc điểm sinh lý bình thường là ở nữ giới có tình trạng tích
lũy lớp mỡ dưới da nhiều hơn, trong khi nam giới có nhiều khối cơ
bắp hơn. Phân loại tình trạng dinh dưỡng bằng các chỉ số đánh giá
khối lượng cơ bắp: tỷ lệ SDD xác định bằng MAC là 22,7%, MAMC
là 13,5%, AMA là 44,1% và tỷ lệ SDD không có sự khác biệt đáng
kể giữa các giai đoạn BTM. Kết quả này có thể giải thích do thiếu
nguồn dữ liệu chuẩn của người Việt Nam nên chúng tôi sử dụng dữ
liệu của dân số Nhật Bản. Dù cùng là người Châu Á nhưng người
Việt Nam có thể trọng và tầm vóc thấp bé hơn so với người Nhật.
Điều này góp phần làm cho việc phân loại tình trạng dinh dưỡng của
các chỉ số nhân trắc học kém chính xác.
4.6 Đánh giá tình trạng dinh dƣỡng bằng phƣơng pháp đánh giá
dinh dƣỡng tổng thể theo chủ quan: Theo Kamyar Kalantar Zedeh
phương pháp SGA_3 thang điểm là phép đo bán định lượng và bao
gồm 3 mức độ. Đặc điểm bán định lượng làm giới hạn độ tin cậy của
SGA_3 thang điểm bởi kết quả cuối cùng chủ yếu dựa trên quan
điểm của người đánh giá.Phân tích hồi quy tuyến tính xác định hệ số
hồi quy của từng phần SGA so với kết quả đánh giá tổng thể của
21
phương pháp SGA_3 thang điểm, kết quả thu được: SGA phần 4 và
SGA phần 5 không có vai trò và ảnh hưởng lên kết quả đánh giá tổng

điều kiện này với độ nhạy là 97,89%.
Bƣớc 2: Mini_SGA có độ nhạy cao nhưng còn hạn chế do độ đặc
hiệu thấp chiếm 75,81%. Với mong muốn tăng khả năng chẩn đoán
chính xác của phương pháp tầm soát, chúng tôi chọn phương pháp có
độ đặc hiệu cao của 2 nhóm phương pháp đánh giá còn lại trong
nghiên cứu:Trước tiên, trong nhóm phương pháp không xâm
lấn(BMI, TSF, MAC, MAMC, AMA), chúng tôi không chọn MAMC
có độ dặc hiệu cao nhất 91,40% là do hiện nay chưa có bảng dữ liệu
chuẩn về số đo MAMC của dân số người Việt Nam. Ngoài ra để có
kết quả MAMC chúng ta phải tính toán thông qua phương trình phức
tạp bằng cách đo chỉ số TSF và MAC, đây là 2 phương pháp có nhiều
sai số khi thực hiện phép đo. Trong khi đó, BMI có độ đặc hiệu
86,83% là chỉ số thông dụng, cách thực hiện đơn giản, không tốn
kém nên chúng tôi chọn BMI thay cho chỉ số MAMC. Kế tiếp, trong
nhóm phương pháp xâm lấn(albumin HT, prealbumin HT, tranferrin
HT)chúng tôi chọn albumin HT có độ dặc hiệu cao nhất 93,55%.
Bƣớc 3: Từ Mini_SGA, BMI, albumin HTchúng tôi gợi ý quy trình
đánh giá tình trạng dinh dưỡng cho bệnh nhân BTM như sau:
Về đối tượng bệnh nhân: bệnh nhân ngoại trú mắc BTM giai đoạn
4– 5 và bệnh nhân nằm viện mắc BTM ở cả 5 giai đoạn.
Về cách thực hiện quy trình đánh giá:phương pháp được chọn để
tầm soát bệnh nhân có nguy cơ SDD là Mini_SGA với độ nhạy cao
lên đến 97,89%. Những bệnh nhân có điểm Mini_SGA < 8 điểm
được xếp loại “dinh dưỡng bình thường”. Riêng những bệnh nhân có
điểm ≥ 8 thì được xếp vào nhóm “có SDD”. Những bệnh nhân “có
23
SDD” sẽ được đánh giá toàn diện tình trạng dinh dưỡng bằng cách


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status