ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư vú (UTV) là loại bệnh ung thư (UT) hay gặp nhất ở phụ nữ và
cũng là nguyên nhân chính gây tử vong ở nữ giới tại nhiều nước trên thế giới
trong đó có Việt Nam.
UTV được mô tả từ trước công nguyên 400 năm và được quan tâm hàng
đầu do tần suất mắc bệnh ngày càng tăng. Tỷ lệ tử vong thay đổi nhiều từ 25-
35/100000 dân tại Anh, Đan Mạch, Hà Lan, Hoa Kỳ,Canada, đến 2-5/100000
dân tại Nhật Bản, Mexico, Venezuela [33],[80]. Tại Việt Nam ung thư vú
đứng hàng đầu trong các ung thư ở phụ nữ với tỷ lệ mắc chuẩn theo thống kê
2003 là 17,4/100.000 dân [19].
Theo Nguyễn Bá Đức (2003), ở Hà Nội năm 1999, tỷ lệ mắc chuẩn theo
tuổi của UTV là 21,8/100.000 dân và tại Thành phố Hồ CHí Minh là
17,4/100.000 dân, ước tính chung cho cả nước năm 2000, tỷ lệ mắc UTV
chuẩn theo tuổi là 17,4/100.000 dân, đứng hàng đầu trong các loại bệnh
ung thư ở phụ nữ [19]. Điều trị ung thư vú là sự phối hợp điển hình giữa
phương pháp tại chỗ (phẫu thuật, tia xạ ) và toàn thân ( hóa chất, nội tiết,
miễn dịch) [16].
Ung thư vú giai đoạn sớm là những ung thư giai đoạn Tis và T1. UTV tại
chỗ hoặc bệnh Paget của núm vú nhưng không sờ thấy u, giai đoạn T1, khi u
có kích thước ≤2cm. UTV giai đoạn sớm cho kết quả điều trị tốt, bệnh không
những có thể điều trị khỏi mà còn có thể điều trị phẫu thuật bảo tồn tuyến vú
cho phụ nữ. Ở nước ta, tỷ lệ ung thư vú được chẩn đoán ở giai đoạn sớm còn
thấp do hầu hết bệnh nhân đến viện vào giai đoạn muộn. Gần đây do hiểu biết
của cộng đồng về ung thư vú , cùng với áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào khám
phát hiện ung thư vú ở nước ta làm cho tỷ lệ bệnh ung thư vú giai đoạn sớm
1
vào điều trị tăng nên rõ rệt.
Trong thực hành việc khám lâm sàng, chụp vú, sinh thiết kim đã nâng cao
hiệu quả chẩn đoán ung thư vú giai đoạn sớm. Giá trị chẩn đoán ung thư vú
của phương pháp chụp Mammography tuyến vú và chọc sinh thiết kim đã
được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu và công nhận, nhiều nước đã áp
Vú gồm tuyến vú, núm vú, quầng vú. Tuyến vú là một tuyến chế tiết đơn
bào gồm 15-20 thùy tuyến không đều, các thùy tuyến được tạo nên từ nhiều
nang tuyến tròn hoặc dài, đứng thành đám hoặc riêng rẽ. Cấu trúc 2-3 nang
tuyến đổ chung vào các nhánh cuối cùng của ống bài xuất trong tiểu thùy. Các
ống này đổ vào các nhánh gian tiểu thùy đều đổ vào núm vú qua ống dẫn sữa.
Các lỗ tiết sữa có thể thấy rõ ở đầu vú [7],[17].
3
Hình 1.1. Giải phẫu tuyến vú
( Theo Atlas giải phẫu người-Frank H. Netter-1997) [ 32]
4
1.1.2. Hạch vùng và các đường bạch mạch
Đường bạch mạch của vú đổ vào hạch nách, hạch vú trong, hạch
thượng đòn.
- Hạch nách (cùng bên), các nghiên cứu giải phẫu định khu cho thấy
hạch lympho nách là con đường lan tràn chủ yếu của ung thư vú tiên phát
gồm: hạch giữa cơ ngực và các hạch chạy theo tĩnh mạch nách, có thể chia
làm các tầng hạch như sau:
• Tầng I gọi là tầng nách thấp, gồm các hạch nằm bên cạnh bó cơ của cơ
ngực bé.
• Tầng II gọi là tầng nách giữa, gồm các hạch nằm bên trên bó giữa và
bó bên của cơ ngực bé, hạch cơ ngực (Rotter).
• Tầng III gọi là tầng đỉnh nách gồm các hạch nằm bên trên bó trên cơ
ngực bé bao gồm cả hạch hạ đòn và hạch đỉnh hố nách.
- Nhóm hạch vú trong ( cùng bên): gồm 6 đến 8 hạch nằm dọc động
mạch vú trong tương ứng với các khoang liên sườn 1,2,3. Nhóm này thu nhận
bạch huyết từ nửa trong và quầng vú, các ung thư ở trung tâm và các vị trí ở
trong thường di căn hạch vú trong hơn các vị trí khác, điều này có ý nghĩa
quan trong trong tiên lượng.
- Hạch thượng đòn: có liên quan với mức độ tổn thương hạch nách,
tổn thương hạch thượng đòn là giai đoạn muộn của tổn thương hạch nách
nông này chảy vào tĩnh mạch sâu, rồi đổ vào tĩnh mạch vú trong, tĩnh mạch
vú ngoài và tĩnh mạch cùng - vai.
1.1.3.3. Thần kinh
Nhánh thần kinh bì cánh tay trong của đán rối cổ nông chi phối phần nửa
ngoài. Các nhánh nhỏ từ thần kinh liên sườn II, III, IV, V, VI chi phối nửa
trong của vú.
1.2. Sinh lý nội tiết, các hoạt động của tuyến vú, thụ thể hóc môn
1.2.1. Sự phát triển của tuyến vú
Tuyến vú bắt đầu phát triển từ tuổi dậy thì dưới tác dụng của hóc môn
Estrogen và Progesteron, hai hóc môn này kích thích phát triển tuyến vú
và lớp mỡ để chuẩn bị cho khả năng sinh con.
Estrogen làm phát triển các tuyến sữa của vú và mô đệm của vú. Kết hợp với
Progesteron giúp cho tuyến vú phát triển đầy đủ.
Progesteron: làm phát triển các ống dẫn sữa của vú và mô đệm của vú. Kết
hợp vơi Estrogen giúp cho sụ phát triển của tuyến vú đầy đủ.
Ngoài Estrogen và Progesteron. Còn có các hóc môn khác cũng có tác dụng
phát triển tuyến vú như prolactin, yếu tố tăng trưởng [2],[20].
1.2.2. Điều hòa hoạt động
Tuyến vú là mô đích của hệ tuyến yên -buồng trứng, phụ thuộc vào tình trạng
chức năng của nó. Hoạt động của tuyến vú được điều hòa bởi nhiều hóc
môn vùng dưới đồi-tuyến yên-buồng trứng.
Estrogen, FSH, LH quyết định hình thái chức năng tuyến vú.
9
1.2.3. Thụ thể hóc môn
Thụ thể hóc môn đối với Estrogen và Progesteron và đối với một số yếu
tố tăng trưởng đã được nhận dạng và xác định tính chất bằng hóa mô miễn
dịch. Khoảng 66% các bệnh nhân ung thư vú có thụ thể Estrogen dương tính
trong tổ chức u, khoản 50% tring số các bệnh nhân đó khi điều trị các u di căn
bằng nội tiết tố có đáp ứng rõ qua sự thu nhỏ kích thước u. Chỉ có một số ít
bệnh nhân không có thụ thể Estrogen đáp ứng với liệu pháp nội tiết. Sự
tăng vọt ở khoảng tuổi mãn kinh. Ở các nước Âu-Mỹ, tuổi của ung thư vú ở
độ tuổi 40 vào khoảng 130/100.000 và ở độ tuổi 60 vào khoảng
300/100.000. Tuổi mắc ung thư vú trung bình ở phụ nữ Việt nam trẻ hơn,
tập trung chính ở độ tuổi từ 41 - 51 chiếm 42,4%, hiếm gặp hơn trước tuổi
30 và sau 60 tuổi [29].
1.4.2. Sinh bệnh học
- Yếu tố gia đình được xếp vào nhóm nguy cơ cao, gồm những người có
người thân bị UTV, như: mẹ đẻ, chị em gái. Những phụ nữ có mẹ bị UTV
trước 40 tuổi, có nguy cơ mắc UTV tăng gấp 2 lần so với những phụ nữ
không có mẹ bị UTV. Phụ nữ nếu có chị hoặc em gái bị UTV thì cũng có
nguy cơ bị UTV tăng gấp đôi và gấp 2,5 lần cả mẹ và có chị hoặc em gái
UTV [2],[9]. Những phụ nữ UTV có liên quan đến tiền sử gia đình thường có
tỷ lệ ung thư vú hai bên cao hơn. Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ
trước, các công trình nghiên cứu về gen liên quan UTV đã được tiến hành
nghiên cứu, tác giả đã chú trọng nghiên cứu 6 gen và thấy có khả năng liên
quan nhiều đến UTV. Những gen ung thư mang tính chất di truyền được quan
11
sát nhiều là BRCA1, BRCA2 và p52 [9],[78].
- Yếu tố nội tiét: Estrogen thúc đẩy sự phát triển và hoạt động tăng sinh
của hệ thống ống, làm tăng nguy cơ UTV do việc kích thích sinh các tế bào
chưa biệt hóa. Nồng độ Estrogen nội sinh ở những phụ nữ bi UTV cao hơn so
với những người phụ nữ không bị UTV. Nồng độ Estrogen nội sinh cao quá
sẽ gây có kinh sớm, mãn muộn. Phụ nữ có kin lần đầu trước 13 tuổi có nguy
cơ mắc UTV cao gấp 2 lần so với những phụ nữ có kinh sau 13 tuổi hoặc
muộn hơn. Phụ nữ mãn kinh sau 55 có nguy cơ ung thư vú cao gấp 2 lần so
với những phụ nữ mãn kinh trước tuổi 45. Một số nghiên cứu gần đây của
Daling cà cộng sụ cho thấy phụ nữ dưới 18 tuổi hoặc trên 30 tuổi phá thai có
sử dụng thuốc kích thích, thấy tỷ lệ UTV tăng gấp 2 lần so với phụ nữ chưa
phá thai bao giờ, nạo pha thai vào tuần thứ 9 đến tuần thứ 12 cũng làm tăng
nguy cơ UTV gấp 2 lần [2],[9]. Thực tế đã vận dụng điều trị nội tiết có hiệu
Biểu hiện lâm sàng của UTV có đặc trưng là kéo dài và rất khác nhau giữa
các bệnh nhân. Người ta ước tính, từ khi tế bào chuyển biến ấc tính đầu tiên
đến khi phát hiện được khối u có kích thước 1cm thì tế bào đó phải mất 30 lần
nhân đôi liên tiếp trong vòng 7-8 năm [45].
Chỉ một số ít bệnh nhân ngay sau khi xuất hiện các triệu chứng , UTV tiến
triển nhanh và tử vong trong vài tháng. Green Wood, Bloom và CS theo dõi
những trường hợp ung thư vú không điều trị thấy thời gian sống thêm trung
bình kể từ khi chẩn đoán là 31 tháng, tỷ lệ sống thêm 3 năm là 40% và 5 năm
là 18-20%, chỉ có 4% sống thêm 10 năm [53],[55].
Giai đoạn tại chỗ: Khối u nguyên phát xuất phát từ đơn vị tiểu thùy-ống
tuyến tận cung của tuyến vú. Sau đó phát triển lan sang mô lân cận, xu hướng
vượt khỏi mô tuyến vú xâm nhiễm mô xung quanh đến các cấu trúc lân cận
13
như da, cơ ngực và thành ngực tạo thành một khối cứng.
Giai đoạn lan tràn: Ung thư liên bào tuyến vú lan tràn theo đường bạch
huyết, đường máu và lan trực tiếp tới các tổ chức lân cận. Khi thoát qua chặng
hạch bạch huyết ở hố thượng đòn rồi đi vào hệ tuần hoàn tĩnh mạch. Thêm
vào việc di căn tại hạch nách, các tế bào ung thư lan qua đám rối tĩnh mạch
cạnh cột sống nối trực tiếp với vú qua mạch máu liên sườn. Các tế bào di căn
ở xương do ung thư biểu mô tuyến vú là loại tiêu xương, tạo xương hoặc cả
hai dạng. Đôi khi lan tràn thâm nhiễm tủ hệ bạch mạch ở vú, tiến triển từ hệ
bạch huyết của da dẫn đến lan rộng và xâm lấn thành ngực, sau đó đến màng
phổi và phổi. Với các yếu tố như kích thước khối u, số lượng hạch nách bị
xâm nhiễm và các đặc tính sinh học khác, ta có thể đánh giá được nguy cơ di
căn xa vi thể [45].
1.5. Lâm sàng
Cơ năng:
Nổi u vú, hạch nách hoặc hạch thượng đòn có thể đau nhức ít, to lên
Tiết dịch bất thường núm vú
Có thể đau nhẹ vùng u, đau nhức âm ỉ liên tục
Qua các thử nghiệm lâm sàng cho thấy sàng lọc đã làm giảm tỷ lệ chết do
ung thư vú 20-30%. Vai trò của sàng lọc ở độ tuổi 50 đã được khẳng định [3],
[9],[65]
Cần phân biệt rõ sàng lọc khác với chẩn đoán:
- Sàng lọc phát hiện sớm: là quá trình dò tìm các tổn thương bất thường
của tuyến vú có thể là ung thư.
- Chẩn đoán: là để khẳng định tổn thương có phải là ung thư hay không
Chụp vú Mamography vẫn là phương pháp hiệu quả nhất trong sàng lọc,
chụp vú có vai trò giúp phát hiện sớm các tổn thương còn tiềm ẩn, chụp vú
15
kết hợp với thăm khám lâm sàng, xét nghiệm tế bào để chẩn đoán xác định và
đưa ra phác đồ điều trị phù hợp với từng bệnh nhân [42].
1.6.2. Siêu âm
Qua thực tế lâm sàng và thử nghiệm cho thấy siêu âm tuyến vú có giá trị
để phân biệt u nang với những tổn thương đặc của vú.
1.6.3. Tế bào
Trong vài thập kỷ qua, chẩn đoán tế bào qua chọc hút bằng kim nhỏ đã
được phát triển rộng rãi nhiều nước trên thế giới và nó được coi là một
phương pháp quan trọng trong chẩn đoán ung thư, đặc biệt với ung thư vú.
Cùng với chụp Xquang tuyến vú, chẩn đoán tế bào học đã góp phần phát hiện
sớm ung thư vú, nâng cao tỷ lệ sống thêm cho bệnh nhân nhờ phát hiện sớm
và điều trị kịp thời[78], [85].
- Phương pháp chọc hút bằng kim nhỏ
Đây là phương pháp hay sử dụng nhất. Người ta sử dung bơm kim tiêm
chọc vào khối u để lấy ra một ít dịch u. Với những u nhỏ hoặc khó sờ thấy, có
thể chọc kim dưới hướng dẫn của siêu âm. Dịch u được lấy ra, phết vào lam
kính , cố định, nhuộm và đọc kết quả trên kính hiển vi quang học
Ngày nay, phương pháp chọc hút kim nhỏ còn được sử dụng trên những
tổn thương không sờ thấy, đó là chọc hút tế bào qua định vị không gian ba
chiều dưới hướng dẫn của chụp vú.[22],[28],[36].
Có 3 phương pháp kinh điển chẩn định hướng giúp chẩn đoán ung thư
vú, đó là:
- Lâm sàng
- Tế bào học
- Chụp Xquang tuyến vú
Nếu một trong 3 phương pháp này còn nghi ngờ thì phải sinh thiết để
chẩn đoán xác định.
Chẩn đoán xác định ung thư vú cũng như chẩn đoán xác định bất kỳ một
ung thư nào khác đều nhất thiết phải có sự khẳng định của mô bệnh học. Mô
bệnh học được coi như là tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán ung thư.
1.7.2. Chẩn đoán phân biệt
Cần chẩn đoán phân biệt với các tổn thương không phải ung thư vú:
- U xơ tuyến vú: thường gặp ở phụ nữ trẻ. U thường tròn nhẵn, ranh giới
u rõ ràng, di động. Để chẩn đoán phân biệt caanc chụp Xquang tuyến vú kết
hợp xét nghiệm tế bào.
- Viêm giãn tuyến vú: chảy dịch đầu vú dai dẳng, lúc đầu là dịch vàng
trong sau đó có thể bội nhiễm thành dịch vàng mủ hoặc chất bã đậu có mùi
hôi, một số khác chảy dịch máu.
- Viêm xơ tuyến vú nang hóa: Có thể gặp một hoặc nhiều nang nhỏ rải
rác cả hai bên tuyến vú.khi khám có cảm giác căng, cần siêu âm chẩn đoán
loại trừ.
- Áp xe tuyến vú: có triệu chứng của sưng - nóng - đỏ - đau.
18
- U nhú nội ống: là tổn thương trong lòng ống dẫn sữa, thường hay gặp ở
ống dẫn sữa chính. Tính chất u tròn đều, mềm có thể gây chảy dịch, máu qua
núm vú.
- U mỡ
- U phyloide lành tuyến vú: chẩn đoán phân biệt bằng xét nghiệm tế bào
1.7.3. Chẩn đoán giai đoạn bệnh
Giai đoạn bệnh được xếp loại và chẩn đoán xếp giai đoạn TNM theo
+ N2b: di căn hạch vú trong cùng bên rõ trên lâm sàng nhưng không có
di căn hạch nách
N3: di căn hạch hạ đòn cùng bên hoặc di căn hạch vú trong cùng bên rõ
trên lâm sàng có kèm di căn hạch nách hoặc đã có di căn hạch thượng đòn
cùng bên.
+ N3a: di căn hạch hạ đòn cùng bên
+ N3b: di căn hạch vú trong cùng bên rõ trên lâm sàng có kèm di căn
hạch nách
+ N3c: di căn hạch thượng đòn cùng bên
- M: di căn xa
20
Mx: không xác định được di căn xa
Mo: không có di căn xa
M1: di căn xa bao gồm cả di căn tới hạch bạch huyết thượng đòn cùng bên.
Bảng 1.1. Phân loại giai đoạn của Hiệp hội phòng chống Ung thư Quốc tế
(UICC) năm 2004.
Giai đoạn T N M
0 Tis No Mo
I T1 No Mo
IIA T0 N1 Mo
T1 N1 Mo
T2 No Mo
IIB T2 N1 Mo
T3 No Mo
IIIA T0 N2 Mo
T1 N2 Mo
T2 N2 Mo
T3 N1 Mo
T3 N2 Mo
IIIB T4 No Mo
nhất trong tiên lượng bệnh. Phân độ này dựa vào 3 yếu tố: sự hình thành các
ống nhỏ, mức đa hình thái của nhaen và hoạt động nhân chia. Những thông số
22
này chỉ áp dụng cho các ung thư biểu mô thể ống xâm nhập. Những UTV thể
đặc biệt thì hầu hết là những loại có độ ác tính thấp [9],[53],[54].
- Độ I: UTBM thể nhú, thể mặt sàng bao gồm các tế bào đồng đều,
không có hoại tử lòng ống hoặc rất ít.
- Độ II: Gồm 3 nhóm:
+ Nhóm thứ nhất gồm các tế bào tăng sinh nhưng không có không điển
hình của nhân có thể hình thành thể đặc, thể nhú, thể mặt sàng với hoại tử
trung tâm nhưng không biểu hiện đặc tính bất thục sản về mặt tế bào học của
UTBM nội ống thể trứng cá.
+ Nhóm thứ hai bao gồm thể đặc, thể mắt sàng, thể vi nhú với biểu hiện
không điển hình về mặt tế bào học nhưng không có hoại tử trứng cá.
+ Nhóm thứ ba bao gồm những biến thể hiếm gặp gồm tế bào sáng, tế
bào hình thoi, có hoặc không có hoại tử.
- Độ III: UTBM nội ống biểu hiện cả mức độ không điển hình về mặt tế
bào và hoại tử và bao gồm cả UTBM tế bào nhẫn đơn thuần xếp vào độ III.
Tất cả các UTBM thể trứng cá và ung thư tế bào bán hủy đều được xếp vào
độ III.
Độ mô học có ý nghĩa quan trọng trong tiên lượng bệnh và có thể coi là
một yếu tố tiên lượng độc lập. Theo nghiên cứu của Tạ Văn Tờ (2004), kết
quả sống thêm 5 năm của ung thư vú độ I là 82,52%, độ II là 66,5%, độ III là
19,23% [38]. Dựa trên độ mô học, các nhà ung thư học đưa ra các phác đồ
điều trị bổ trợ chuẩn mực hơn nhằm giảm các biến chứng và nâng cao tỷ lệ
sống thêm cho người bệnh. Ngày nay xếp độ mô học là công việc thừng quy
trong chẩn đoán và diều trị ung thư vú
23
1.7.6. Chẩn đoán hóa mô miễn dịch ER, PR và Her-2/neu.
Được sử dụng trong tiên lượng và dự báo khả năng đáp ứng với liệu