1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
TRỊNH THỊ HỒNG GẤM
NHËN XÐT KÕT QU¶ §IÒU TRÞ MÊT R¡NG LO¹I
KENNEDY I, II
B»NG HµM KHUNG Cã THIÕT KÕ MãC d©y uèn
Chuyên ngành : Răng hàm mặt
Mã số : 60.72.07.01
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP BÁC SỸ NỘI TRÚ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. TỐNG MINH SƠN
HÀ NỘI - 2013
2
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình hoàn thành luận văn này em đã nhận được sự giúp đỡ
của rất nhiều thầy cô, gia đình và bạn bè.
Em xin trân trọng cảm ơn:
Ban giám hiệu, Phòng đào tạo sau đại học, viện Đào tạo Răng hàm mặt
trường Đại học Y Hà Nội, tập thể khoa Răng Hàm Mặt – Bệnh viện Đại học Y
Hà Nội, tập thể khoa Phục Hình – Bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung Ương Hà
Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Em xin trân trọng cảm ơn các thầy cô trong viện đào tạo Răng Hàm
Mặt – Trường Đại Học Y Hà Nội đã giúp đỡ chỉ bảo và đóng góp cho em
nhiều ý kiến quý báu
Với tấm lòng người học trò, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
TS. Tống Minh Sơn – Phó viện trưởng viện Đào tạo Răng hàm mặt –
Đại học Y Hà Nội. Người thầy đã trực tiếp hướng dẫn giúp đỡ em trong suốt
quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài. Thầy đã chỉ bảo, hướng dẫn
cho em nhiều ý kiến quý báu để em thực hiện và hoàn thành bản luận văn này.
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên,
khối. Răng giả được gắn với yên phục hình bằng nhựa acrylic. Hàm khung
truyền lực lên vùng quanh răng của răng trụ và lên mô xương niêm mạc ở
sống hàm vùng mất răng. So với hàm giả tháo lắp từng phần nền nhựa, hàm
khung có nhiều ưu điểm và sinh lý hơn. Do đó, phục hình bằng hàm khung
đã phát triển rộng rãi ở các nước tiên tiến trên thế giới. Ở Việt Nam, hàm
khung cũng đã được áp dụng trong hơn thập kỷ qua nhưng chi phí còn cao.
Thời gian gần đây, do điều kiện kinh tế phát triển, hàm khung ngày càng
được sử dụng nhiều hơn.
5
Theo Housset, một hàm giả có hiệu quả tốt cho bệnh nhân phải thỏa mãn
ba tiêu chuẩn: nâng đỡ, ổn định và lưu giữ. Trong đó, móc răng đóng vai trò
quan trọng [3], [4], [5].
Trong phục hình, điều trị các trường hợp mất răng phía sau không còn
răng giới hạn xa (loại Kennedy I, II) là khó khăn nhất. Nguyên nhân là do
không có răng thật phía sau nên các chuyển động xoay của yên phía sau
gây ảnh hưởng bất lợi đến răng trụ. Vì vậy, việc lựa chọn loại móc thích
hợp cho các trường hợp mất răng phía sau nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng
của phục hình tới răng trụ và vùng quanh răng đã được nhiều tác giả quan
tâm nghiên cứu.
Theo Stewart, móc dây uốn có nhiều ưu điểm như: móc dây uốn có độ đàn
hồi cao, thẩm mỹ tốt và dễ điều chỉnh. Độ đàn hồi của móc phụ thuộc vào
đường kính của móc và thành phần hợp kim. Móc này phù hợp với các răng
trụ có vùng quanh răng không được tốt. Móc dây uốn có thể được đúc cùng
với khung hoặc hàn vào khung hoặc nằm trong nền nhựa [6]. Tuy nhiên, tại
Việt Nam, chưa có đề tài nào nghiên cứu đánh giá hiệu quả của hàm khung có
thiết kế móc dây uốn trong điều trị mất răng loại Kennedy I, II. Vì vậy, chúng
tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhận xét kết quả điều trị mất răng loại
Kennedy I, II bằng hàm khung có thiết kế móc dây uốn” với mục tiêu:
1. Nhận xét đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh nhân mất răng loại
Kennedy I, II.
‐ Loại II: Mất răng phía sau một bên không còn răng giới hạn xa.
‐ Loại III: Mất răng phía sau một bên còn răng giới hạn xa.
‐ Loại IV: Mất răng phía trước (răng cửa) đi qua đường giữa.
• Ưu điểm của cách phân loại mất răng của Kennedy:
+ Dễ nhận biết loại mất răng.
+ Gợi ý được kiểu thiết kế hàm khung cho từng loại mất răng.
Tuy nhiên cách phân loại mất răng của Kennedy cũng chưa thật hoàn
hảo nên Applegate đã bổ xung một số nguyên tắc:
+ Phân loại mất răng chỉ được tiến hành sau khi đã nhổ các răng có chỉ
định nhổ.
+ Nếu mất răng số 8 và không cần làm răng giả thì không tính đến
trong phân loại.
8
+ Nếu còn răng số 8 mà được dùng như răng trụ thì răng 8 này được
tính trong phân loại.
+ Nếu răng số 7 mất mà không cần làm răng giả (như răng số 7 đối
diện cũng bị mất mà không làm răng giả) thì không được tính trong
phân loại.
+ Vùng mất răng phía sau luôn được chọn để quy định loại mất răng.
+ Những khoảng mất răng khác được gọi là biến thể và được đánh số.
+ Độ rộng của khoảng mất răng biến thể không được tính đến trong
phân loại mà chỉ tính số khoảng mất răng có thêm.
+ Mất răng loại IV không có biến thể.
1.1.2.2 Phân loại mất răng từng phần của Kennedy – Applegate
Năm 1960, Applegate đã bổ xung loại V và VI vào phân loại mất răng
của Kennedy:
‐ Loại I: Mất răng sau hai bên không có răng giới hạn xa.
‐ Loại II: Mất răng sau một bên không có răng giới hạn xa.
‐ Loại III: Mất răng sau một bên, có răng giới hạn ở hai đầu. Nhưng
các răng trụ này không thể gánh chịu toàn thể lực nhai đè lên hàm
phía xa nên chỉ có thể làm cầu với hay cầu đèo chỉ có răng trụ ở phía gần. Để
làm được cầu với, các răng trụ phải tốt và thường cần sử dụng nhiều răng trụ.
Mặt khác, do chỉ có răng trụ ở một phía nên các răng trụ cho cầu đèo dễ bị tổn
thương bởi lực đòn bẩy. Do đó, cầu đèo ít được sử dụng cho bệnh nhân mất
răng loại Kennedy I, II.
1.2.2 Cấy ghép răng (Implant)
Implant là thành tựu khoa học trong lĩnh vực nha khoa cho phép phục
hồi lại răng mất giống như răng thật cả về phương diện thẩm mỹ lẫn chức
năng. Xương hàm vùng mất răng được khoan và đặt trụ implant, răng giả
được gắn vào chốt sau vài tháng hoặc ngay tức thì tùy từng trường hợp.
10
Phương pháp này có thể thay thế một hoặc nhiều răng mất. Cấy ghép
răng còn có thể kết hợp với làm cầu răng, đặc biệt là những trường hợp bệnh
nhân mất răng không còn răng trụ giới hạn xa. Một trong những ưu điểm của
cấy ghép răng là làm răng giả mà không can thiệp vào răng khác, do đó bảo
tồn các răng còn lại tốt hơn phương pháp làm cầu răng và răng giả.
Tuy nhiên, phương pháp này cũng có những hạn chế như: yêu cầu cao
về kỹ thuật, chi phí lớn và cũng có những chỉ định nhất định không phải
trường hợp nào cũng áp dụng được.
1.2.3 Hàm giả tháo lắp từng phần nền nhựa
Hàm giả tháo lắp từng phần nền nhựa được sử dụng từ rất lâu. Các răng
mất được thay thế bằng hàm giả có nền hàm bằng nhựa trên đó có các răng
giả và có thể có móc kèm theo ôm vào răng thật. Móc có tác dụng tăng cường
sự lưu giữ của hàm giả.
Loại hàm giả này có thể chỉ định trong nhiều trường hợp mà không
thể làm được răng giả cố định như: mất răng không còn răng giới hạn xa,
mất răng với khoảng dài, mất nhiều răng, mất vùng răng cửa có tiêu xương
ổ răng nhiều.
1.2.4 Hàm khung
Hàm khung là loại hàm giả tháo lắp từng phần, có phần chính là một
khung mới thực sự phát triển mạnh. Những nghiên cứu về hợp kim, vật liệu
làm khuôn, máy móc mới đã làm cho kỹ thuật đúc chính xác hơn và được
nhiều người áp dụng.
12
Ở nhiều nước trên thế giới, phục hình bằng hàm khung cho hàm mất
răng từng phần đã thay thế cho phục hình tháo lắp nền nhựa từ rất lâu. Tuy
nhiên, ở Việt Nam, do chi phí để làm hàm khung còn cao và đòi hỏi kỹ
thuật phức tạp nên hàm khung chưa được sử dụng nhiều so với hàm tháo
lắp nền nhựa [7].
1.3.2 Chỉ định, chống chỉ định của hàm khung
1.3.2.1 Chỉ định của hàm khung [6],[7],[9],[10]
‐ Khoảng mất răng rộng không thể làm được cầu răng
‐ Mất răng không có răng trụ phía xa
‐ Sống hàm vùng mất răng tiêu nhiều
‐ Sự nâng đỡ vùng quanh răng của các răng còn lại giảm
‐ Trường hợp cần ổn định cung răng (nẹp răng chống lại lực bên tác
động vào răng
‐ Thẩm mỹ là vấn đề quan tâm đầu tiên khi làm răng giả ở bệnh nhân
mất răng cửa.
‐ Theo nguyện vọng của bệnh nhân:
+ Bệnh nhân không muốn bị mài răng lành làm cầu răng.
+ Bệnh nhân muốn dùng hàm giả để dễ vệ sinh
+ Bệnh nhân không đủ kinh phí để làm răng giả cố định
‐ Bệnh nhân có vấn đề về sức khỏe hoặc tinh thần
‐ Cung hàm còn ít răng và phân bố thích hợp để thực hiện phục hình
nâng đỡ trên răng.
‐ Phục hình sau phẫu thuật hàm mặt: phục hình các bộ phận bị cắt bỏ
được gắn với khung và khung này được lưu giữ bởi các răng thật của
bệnh nhân. Nếu bệnh nhân có mất răng kèm theo, các răng giả cũng
được gắn luôn vào khung.
+ Thanh lưỡi kép hay thanh Kennedy (hình C)
+ Thanh môi (hình D)
A B
15
C D
1.3.3.2 Thanh nối phụ
‐ Thanh nối phụ là các thanh nối các bộ phận khác của hàm khung như là
móc, tựa, vật giữ gián tiếp và nền hàm với thanh nối chính.
‐ Có 3 kiểu thanh nối phụ:
+ Thanh nối phụ nối các thành phần của móc với thanh nối chính.
+ Thanh nối phụ nối vật giữ gián tiếp hoặc tựa mặt nhai vào thanh
nối chính.
+ Thanh nối phụ có vai trò như là thanh tiếp cận của móc thanh.
1.3.3.3 Yên hàm khung
‐ Yên hàm khung là phần khung kim loại tương ứng với vùng mất răng
và là nơi nền hàm cùng răng giả gắn vào.
‐ Yên có thể có hình lưới, hình mắt cáo.
‐ Điểm chặn phía sau ở phía sau cùng của yên ở vị trí tương ứng đỉnh
sống hàm có hình vuông khoảng 2mm. Điểm chặn này có tác dụng
không cho khung xoay khi ép nhựa chỗ nền hàm giả.
1.3.3.4 Tựa
‐ Tựa có tác dụng truyền lực từ hàm giả theo trục của răng trụ.
‐ Tựa còn có tác dụng duy trì phần lưu giữ của móc ở đúng vị trí tác
dụng của nó. Tựa còn được dùng làm vật giữ gián tiếp cho hàm khung
ở bệnh nhân mất răng sau không còn răng giới hạn xa.
‐ Có thể dùng tựa mặt nhai gần giống onlay để phục hồi mặt phẳng cắn
trong các răng hàm bị nghiêng.
16
‐ Có ba dạng tựa: tựa mặt nhai ở các răng hàm, tựa gót răng thường
dùng ở các răng nanh hàm trên và tựa rìa cắn thường ở các răng nanh
1.3.3.8 Răng giả
‐ Răng nhựa hoặc sứ gắn trên nền nhựa.
‐ Răng cẩn nhựa hoặc sứ
‐ Răng ống
‐ Răng nhựa gia cố cốt kim loại.
18
1.3.4 Các loại móc thường dùng trong hàm khung
‐ Phân loại móc răng
Có hai loại móc cơ bản: móc vòng và móc thanh.
+ Móc vòng: có hai tay ôm răng trụ. Đầu tay móc lưu giữ nằm ở dưới
đường vòng lớn nhất. Tay móc đi từ trên, cắt đường vòng lớn nhất để
tới vùng lẹm.
+ Móc thanh: xuất phát từ khung kim loại đi dọc theo niêm mạc phía
ngách lợi sau đó vòng lên đi ngang bờ lợi để vào vùng lẹm của răng
trụ. Như vậy móc này tiến tới vùng lẹm từ phía cổ răng, ngược với
móc vòng.
1.3.4.1 Móc vòng đúc:
‐ Ưu điểm:
+ Dễ thiết kế và dễ làm.
+ Có tác dụng nâng đỡ, nẹp và lưu giữ tốt.
+ Dễ sửa chữa hơn móc thanh.
+ Ít mắc thức ăn hơn so với móc thanh.
‐ Nhược điểm:
+ Móc che phủ răng trụ nhiều hơn móc thanh do đó dễ gây sâu răng hơn.
+ Móc làm thay đổi kích thước trong – ngoài của răng trụ ảnh hưởng tới
sự lưu thông bình thường của thức ăn, dễ gây kích thích lợi.
+ Nếu móc đặt cao về phía mặt nhai sẽ làm tăng kích thước mặt nhai làm
cho răng trụ chịu nhiều lực hơn.
+ Hình cắt ngang tay móc là hình bán nguyệt nên móc chỉ có thể điều
chỉnh theo chiều trong – ngoài.
‐ Nhược điểm: ôm hầu hết chu vi thân răng làm thay đổi hình dáng thân răng.
• Móc tác dụng phía sau.
‐ Móc gồm một tựa mặt nhai và hai tay móc. Một tay tự do có tác dụng
lưu giữ nằm ở mặt ngoài răng trụ. Tay cứng rắn nằm trên đường vòng
lớn nhất ở mặt trong được nối với thanh lưỡi qua thanh nối phụ.
‐ Móc này được thiết kế ở răng hàm nhỏ, răng nanh khi các răng có thân
răng ngắn, vùng lẹm ít và có đường vòng lớn nhất thấp ở phía mặt trong.
• Móc tác dụng phía sau ngược
20
‐ Móc có một tựa và hai tay móc. Tay đàn hồi tác dụng lưu giữ nằm ở
mặt trong răng trụ. Tay cứng rắn nằm phía ngoài nối liền với yên.
‐ Móc được dùng trong trường hợp răng hàm nhỏ dưới nghiêng trong và
có đường vòng lớn nhất thấp ở mặt ngoài và cao ở mặt trong.
• Móc ngược
‐ Móc đi ngang qua mặt nhai răng trụ chỗ gờ bên để ra mặt ngoài đi
xuống vùng lẹm ở phía gần so với khoảng mất răng của răng trụ. Móc
có tựa ở mặt nhai.
‐ Móc được chỉ định khi vùng lẹm ở gần khoảng mất răng. Đặc biệt
trong trường hợp có lẹm ở xương hàm – niêm mạc, móc chữ T có
chống chỉ định.
‐ Trong trường hợp mất răng loại Kennedy I, II móc này ít có hại đối với
răng trụ hơn vì khi hàm răng lún xuống đầu tay móc lưu giữ di chuyển
về phía cổ răng. Khi hàm khung bị các lực làm bật khỏi sống hàm, đầu
tay móc gắn vào vùng lẹm sẽ có tác dụng lưu giữ.
‐ Móc này có nhược điểm là thẩm mỹ kém và dễ gãy khi răng không
được mài đầy đủ.
• Móc kép hay móc phức hợp
‐ Móc này cấu tạo cơ bản gồm hai móc Akers hay móc vòng đơn giản
đối diện nhau nối liền với nhau ở hai tay đối kháng.
‐ Móc được dùng khi phân chia sự lưu giữ cho vài răng trụ có vùng
+ Sự lưu giữ tốt hơn móc vòng.
+ Thẩm mỹ cao.
+ Lắp hàm khung dễ hơn.
+ Sự đàn hồi của móc có thể điều chỉnh theo độ dài và độ thuôn tay
tiếp cận.
Nhược điểm: Dễ bị mắc thức ăn.
Một số móc thanh:
• Móc chữ T:
‐ Móc có cánh tay lưu giữ đi từ phần yên của khung đi phía ngoài đến
răng trụ chuyển hướng vuông góc với bờ lợi tiếp xúc mặt ngoài răng ở
đường vòng lớn nhất. Tại đây móc tách ra hai nhánh, nhánh lưu giữ cắt
đường vòng lớn nhất để vào vùng lẹm và có tác dụng lưu giữ. Nhánh
còn lại nằm ở trên đường vòng lớn nhất. Ngoài ra móc còn có một cánh
22
tay đối kháng ở mặt trong răng trụ và tựa. Tựa mặt nhai có thể đặt ở
phía xa hoặc ở phía gần của răng trụ.
‐ Móc chữ T thường dùng khi răng trụ có vùng lẹm ở gần khoảng mất răng.
‐ Móc chữ T chống chỉ định khi có vùng lẹm tổ chức mềm hay khi có
đường vòng lớn nhất cao gần mặt nhai hoặc rìa cắn vì khi đó sẽ có
khoảng trống lớn giữa cánh tay tiếp cận và mặt răng trụ gây ra mắc
thức ăn, viêm môi má.
• Móc chữ T biến thể hay móc 1/2 chữ T:
Về cơ bản móc chữ T biến đổi gần giống móc chữ T chỉ khác là nhánh
tay móc không lưu giữ của chữ T được bỏ đi nên thẩm mỹ hơn móc chữ T.
• Móc chữ I (móc RPI)
‐ Móc RPI do Kratochvil đưa ra từ năm 1963. Móc RPI bao gồm: một
tựa phía gần, một bản trượt ở mặt bên răng trụ và một móc hình chữ I.
Bản trượt che phủ toàn bộ mặt phẳng hướng dẫn từ gờ bên mặt nhai
răng trụ tới tận bờ lợi. Móc chữ I dài và thuôn dần, đầu móc nằm ở
vùng lẹm ở dưới đường vòng lớn nhất giữa mặt ngoài hoặc gần ngoài
rắn của tay móc, thanh nối phụ và độ cao của sống hàm vùng mất răng.
24
‐ Chuyển động tịnh tiến theo chiều gần – xa: các răng trụ kế cận khoảng
mất răng và lồi cùng hoặc tam giác hậu hàm sẽ hạn chế chuyển động trên.
‐ Chuyển động xoay phía xa trong mặt phẳng đứng dọc: chuyển động
này sinh ra do có sự khác nhau về độ lún của răng trụ và độ lún của tổ
chức niêm mạc vùng sống hàm mất răng. Dưới tác dụng của cùng một
lực, răng trụ mang các tựa mặt nhai bị lún theo trục khoảng 0,1mm, tổ
chức niêm mạc dưới nền hàm khung có thể bị lún xuống 0,4 – 2 mm.
Chuyển động theo chiều dọc về phía mô của nền phục hình được kháng
lợi nhờ các mô của sống hàm mất răng, nhờ sự sát khít của nền phục hình
và toàn bộ tựa mặt nhai. Chuyển động ngược lại làm yên hàm khung bị
nhấc lên thì được kháng lại nhờ tác động của các vật giữ gián tiếp.
‐ Chuyển động xoay quanh trục dọc của sống hàm vùng mất răng do mất
thăng bằng khớp cắn khi hàm dưới chuyển động sang bên. Độ cứng của
thanh nối chính sẽ hạn chế sự xoay này.
‐ Chuyển động xoay trong mặt phẳng ngang: Trục của chuyển động
vuông góc với mặt phẳng ngang ở gần trung tâm của cung răng. Tay
móc dối kháng, thanh nối phụ tiếp giáp với mặt bên răng sẽ chống lại
sự xoay này.
1.4 Các nghiên cứu về điều trị mất răng Kennedy I, II bằng hàm khung
trên thế giới và Việt Nam.
1.4.1 Trên thế giới
Về thiết kế kiểu nối chính hàm trên, theo nghiên cứu của Walid M có
51,51% bản khẩu cái kép, 3,63% kiểu hình chữ U [13]. Trong khi đó, Filiz
Key lại dùng tới 47,21% bản khẩu cái, 41,63% kiểu hình chữ U [14].
Về kiểu thanh nối chính hàm dưới, theo nghiên cứu của Filiz Key, kiểu
bản lưỡi được thiết kế nhiều nhất với tỷ lệ 70,84%, thanh lưỡi chiếm 28,47%,
25
kiểu thanh lưỡi kép chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ là 0,67%. Trái lại, Walid M lại dùng