TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
Đề tài:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP HUYỆN KIM BẢNG
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Quang Huy
Họ và tên sinh viên : Chu Văn Tuyền
Mã sinh viên : TX071586
Lớp : Quản lý kinh tế
HÀ NỘI - 2012
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN 2
SẢN XUẤT TTCN 2
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
MỞ ĐẦU
Việt Nam hiện có 2017 làng nghề với nhiều loại sản phẩm khác nhau,
thu hút hàng chục vạn cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các loại hình khác
nhau như doanh nghiệp, tổ sản xuất, hộ gia đình, và đặc biệt là các nghệ nhân.
Ngành nghề TTCN và làng nghề phát triển đã tạo việc làm cho người dân
nông thôn trong thời gian nông nhàn, tạo thêm việc làm mới cho số người mới
đến tuổi lao động, nông dân không còn ruộng trong các vùng đô thị hoá và lao
Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng gắn liền với sự hoàn thiện cơ cấu, thể
chế kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống. Muốn phát triển kinh tế trước
hết phải có sự tăng trưởng. Nhưng không phải tăng trưởng nào cũng dẫn đến
phát triển. Phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện 3 nội dung cơ bản sau:
- Tăng trưởng kinh tế.
- Sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, đảm bảo cho sự tăng
trưởng kinh tế bền vững.
- Mức độ thoả mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội thể hiện bằng sự tăng
lên của thu nhập thực tế, chất lượng giáo dục, y tế, môi trường,…
1.2 Khái niệm ngành nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN)
Ngành nghề TTCN nông thôn ở Việt Nam thường được phát triển trong
các thôn, làng xã và đươc gọi là làng nghề. Làng nghề ở nông thôn Việt Nam
có bề dày lịch sử lâu đời, nhưng nhìn chung thì quy mô sản xuất nhỏ, lao
động thủ công là chủ yếu và lực lượng lao động trong làng nghề thường mang
tính chất gia đình, không được đào tạo mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, cha
truyền con nối.
Như vậy, ngành nghề TTCN nông thôn luôn gắn với các làng nghề trong
quá trình cùng tồn tại và phát triển, ngành nghề TTCN là một bộ phận của
ngành nghề nông thôn. Những vấn đề về nông nghiệp, nông thôn, nông dân
đều có thể được phản ánh trong mối quan hệ này. Ngành nghề TTCN bào
gồm:
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
2
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
- Ngành nghề TTCN truyền thống: là những ngành nghề phi nông nghiệp
phát triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan
trọng của người dân làm nghề, là ngành nghề TTCN có từ thời thuộc pháp
còn tồn tại đến nay, kể cả những nghề được cải tiến hoặc sử dụng những máy
móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ những công nghệ truyền
thống.
tháng, cao hơn nhiều so với thu nhập từ sản xuất thuần nông.
- Khai thác vốn kỹ thuật của dân: Quá trình sản xuất các sản phẩm
TTCN đã tận dụng một cách triệt để các yếu tố về vốn, lao động, kỹ thuật của
hộ. Tạo việc làm cho tất cả mọi thành viên trong gia đình. Các lao động chính
thì trực tiếp sản xuất, các lao động phụ thì có thể làm các công đoạn bổ trợ
cho sản xuất.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động nông thôn ngày càng hợp lý hơn:
Kinh tế nông thôn cơ cấu chủ yếu là nông nghiệp, chiếm khoảng trên 70%. Đa
số là các hộ thuần nông, bên cạnh đó là có một số hộ kiêm ngành nghề và một
số ít hộ làm dịch vụ. Theo đường lối của Đảng, phát triển sản xuất TTCN và
làng nghề sẽ tận dụng được nguồn nguyên liệu là sản phẩm của ngành nông
nghiệp hoặc công cụ sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, làm tăng khả năng
tích lũy vốn và kỹ thuật, hỗ trợ cho nông nghiệp, công nghiệp và các loại hình
dịch vụ khác ở nông thôn phát triển. Làng nghề phát triển sẽ trở thành trung
tâm kinh tế của địa phương, của vùng.
- Tăng đóng góp cho ngân sách địa phương: Phát triển sản xuất ngoài
tăng thu nhập cho chính hộ gia đình còn tăng thêm thu nhập quốc dân, tăng
thu ngân sách cho địa phương bằng việc đóng thuế, giải quyết việc làm, du
lịch làng nghề
- Phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp nông thôn là một chủ
trương đúng nhằm thu hút lao động nông thôn vào các hoạt động ngành nghề,
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
4
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
tạo việc làm mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng
giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trong công nghiệp và dịch vụ.
- Ngành nghề TTCN nông thôn phát triển sẽ là động lực quan trọng cho sự
nghiệp CNH - HĐH nông nghiệp, nông thôn thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn. Giải quyết việc làm cho lao động nông nhàn và
dư thừa ở nông thôn, tạo thu nhập thường xuyên và ổn định cho người lao động.
các hình thức tổ chức sản xuất khác nhau.
Phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu là hai quá trình
không thể tách rời trong bất kỳ lĩnh vực nào. Tức là một ngành nghề không
chỉ được mở rộng (hợp lý) về quy mô, mà còn phải được phát triển để nâng
cao mặt “chất”, tức là phải tăng năng suất, chất lượng sản phẩm dựa trên việc
sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực, và cuối cùng là tăng thu nhập cho
người lao động.
3. Nội dung phát triển sản xuất tiểu thủ công
nghiệp ở nông thôn
3.1. Nguồn nguyên liệu
Nguyên liệu là một trong yếu tố quan trọng để phát triển do đó phần lớn
những các hộ sản xuất TTCN đều tồn tại và phát triển ở những nơi có nguồn
nguyên liệu dồi dào. Trong mọi quá trình sản xuất, nguồn nguyên liệu đều là
yếu tố xuất phát ban đầu cho sự phát triển như nghề chiếu cói nổi tiếng Kim
Sơn - Ninh Bình là vùng trồng cói chủ yếu của nước ta; nghề đúc ngói Hương
Canh, ngói Hạ Long Trong thời đại ngày nay do điều kiện giao thông và
phương tiện không khó khăn, nguồn nguyên liệu tại chỗ cạn kiệt do vậy
nguyên liệu phải nhập cách xa so với làng nghề nhưng nghề vẫn phát triển,
điển hình là hàng thủ công mỹ nghệ.
3.2. Nhà xưởng, trang thiết bị, công nghệ
Hầu hết các hộ sản xuất TTCN ở các làng nghề bây giờ vẫn sử dụng công
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
6
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
nghệ thủ công và thô sơ, kỹ thuật qua kinh nghiệm nhiều đời và qua sang tạo
thực tế. Do đó, cùng một nghề trong mỗi làng, mỗi địa phương mỗi nghệ nhân
có một kỹ thuật và kinh nghiệm riêng và tạo ra sản phẩm mang tính văn hoá
nghệ thuật dân tộc ví dụ như gốm Bát Tràng khác với gốm Đông Triều…
Tuy nhiên trong những năm gần đây do công cuộc đổi mới của đất nước
theo hướng CNH - HĐH một số khâu được cơ giới hoá, sức lao động thủ công
Qua tìm hiểu trên các phương tiện thông tin đại chúng cho thấy, hiện nay
sản xuất TTCN ở Việt Nam được tổ chức sản xuất dưới hình thức hộ gia đình
là chủ yếu. Ngoài ra ở một số nơi đã xuất hiện hình thức doanh nghiệp tư
nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, tổ hợp tác xã sản xuất.
4. Tính tất yếu của phát triển sản xuất tiểu thủ
công nghiệp
4.1 Phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp gắn liền với sự hợp tác và
phân công lao động xã hội
Trong quá trình phát triển của nền kinh tế lúc đầu lực lượng sản xuất
chưa phát triển, sản xuất công nghiệp, tiêu thủ công nghiệp gắn liền với sản
xuất nông nghiệp. Khi đó nông dân tự tạo ra công cụ lao động để sản xuất, Lê
Nin cho rằng: “Công nghiệp gia đình là cái phụ thuộc tất nhiên của nền kinh
tế tự nhiên mà những tàn dư hầu như luôn luôn vẫn rớt lại ở những nơi có tiểu
nông và đứng về mặt nghề nghiệp thì công nghiệp vẫn tồn tại dưới hình thức
đó, ở đây thủ công và nông nghiệp chỉ là một mà thôi”. Khi khối lượng sản
xuất phát triển thì sự phân công lao động xã hội phát triển. Phân công lao
động theo hướng hợp tác giản đơn không còn phù hợp nữa dần dần nhường
chỗ cho sự phân công lao động trong công trường thủ công. Đây là một bước
tiến của nền sản xuất xã hội, nó cho phép sử dụng được lao động nhiều hơn
việc tổ chức phân công và hợp tác lao động được tiến hành tốt hơn, hợp lý
hơn, cho phép ứng dụng các tiến bộ công nghệ vào sản xuất nhanh hơn.
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
8
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
Như vậy, quá trình phát triển tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn là quá trình
phát triển các làng nghề truyền thống. Thực chất các làng nghề là các làng thủ
công truyền thống kết hợp với sản xuất nông nghiệp và trên cơ sở nông nghiệp,
sự phát triển đó gắn liền với sự hợp tác và phân công lao động xã hội.
4.2. Ngành nghề truyền thống trong quá trình hình thành và phát triển
nền đại công nghiệp cơ khí
ngành nghề truyền thống cũng như xây dựng các nghề mới dựa trên các ngành
nghề truyền thống, phân công hợp tác với công nghiệp lớn để sản xuất các chi
tiết sản phẩm hoặc sản xuất những sản phẩm có khối lượng ít, tinh xảo mà đại
công nghiệp làm kém hiệu quả hơn. Vì vậy phát triển sản xuất TTCN vừa
phải tuân thủ theo quy luật đi từ thô sơ đến hiện đại, từ kỹ thuật thấp đến kỹ
thuật cao vừa có sự phát triển nhảy vọt, tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế
giới để phát triển một số ngành nghề quan trọng.
5. Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sản
xuất TTCN
Hiện nay, việc phát triển ngành nghề TTCN không thể áp dụng một cách
dập khuân, máy móc và tùy tiện ở mọi nơi mà cần phải có định hướng đúng,
có lộ trình và bước đi phù hợp, quy hoạch cho từng vùng, từng địa phương,
bởi vì ngành nghề TTCN chỉ được hình thành và phát triển trong những điều
kiện thuận lợi nhất định của từng địa phương. Việc xác đinh các nhân tố ảnh
hưởng, đánh giá đúng các tiềm năng để phát triển ngành nghề TTCN là hết
sức cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, các sản
phẩm hàng hóa phải chịu sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt. Có thể xác
định các nhân tố ảnh hưởng và sự tác động của nó tới phát triển ngành nghề
TTCN nông thôn như sau:
5.1. Chính sách
Ngành nghề TTCN là một trong những bộ phận cấu thành kinh tế, có
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
10
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
đóng góp đáng kể cho đời sống kinh tế xã hội của nông thôn. Chính sách của
Nhà nước là một trong những yếu tố tác động rất lớn, có ý nghĩa quyết định
tới sự phát triển của các làng nghề nói chung. Trong những năm gần đây
Đảng và Nhà nước đã có hàng loạt chính sách có tác động đến sự phát triển
của làng nghề. Với chương trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp
nông thôn vai trò chỉ đạo của các cơ quan Nhà nước là rất quan trọng trong
sức quan tâm tới nhu cầu thị trường khi thực hiện phát triển làng nghề, không
những là thị trường trong nước mà còn thị trường khu vực và thị trường quốc tế.
5.3. Số lượng và chất lượng lao động
Về mặt truyền thồng thì lao động địa phương là một trong những yếu tố
quan trọng nhất quyết định việc phát triển làng nghề. Hiện nay, lao động
trong ngành nghề TTCN là một dạng lao động thích hợp cho từng hộ gia đình,
sự hình thành một nghề mới ở làng thường theo quy luật là từ một hộ gia đình
nào đó biết nghề sẽ truyền dạy cho con cháu, họ hàng trong dòng tộc, chủ yếu
là phương thức truyền nghề trực tiếp. Một khi hoạt động của nghề này (trước
đây được coi là nghề phụ bởi lẽ những nghề TTCN thường đứng thứ hai sau
nghề nông), mang lại lợi ích cao thì muốn hay không muốn các hộ khác ở
làng thông qua mối quan hệ ruột thịt, láng giềng, họ cùng học cho được nghề
đó để nâng cao đời sống gia đình. Khi số hộ trong làng làm nghề ngày một
nhiều thì nghề đó trở thành mối quan tâm của cả dân làng.
Ngành nghề TTCN sử dụng lao động tại chỗ là chủ yếu, lao động làm
việc tại các hộ gia đình là chủ yếu. Lao động chia ra làm 2 loại; lao động gia
đình và lao động đi thuê. Quy mô lao động nhỏ, số lao động bình quân của 1
hộ có khoảng 3 - 4 lao động thường xuyên và 2 -3 lao động thời vụ, ở một cơ
sở sản xuất thì bình quân có 10 -20 lao động thường xuyên và 10 -12 lao động
thời vụ. Lao động phần lớn có trình độ văn hoá thấp và không được đào tạo, ở
các cơ sở sản xuất chiếm khoảng 40%, còn ở hộ khoảng 70% [2].
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
12
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
Tuy nhiên, cũng có những sản phẩm của làng nghề mang tính nghệ thuật,
do đó đòi hỏi người lao động phải là những nghệ nhân, những người thợ lành
nghề có trình độ tay nghề cao như: chọn nguyên liệu, thiết kế, đục đẽo các
hoa văn, hoạ tiết của sản phẩm…Ngược lại, có những công việc chỉ đơn giản
như khuân vác, vận chuyển…lại không cần những thợ có tay nghề cao. Lao
động trong các ngành nghề TTCN là những lao động vừa chuyên vừa không
xuất kinh doanh kém hiệu quả kéo theo một số làng không giữ được nghề.
5.6. Trang thiết bị, công nghệ sản xuất TTCN
Ngày nay, trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ đã trở thành lực
lương sản xuất trực tiếp đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh, là yếu tố
quyết định tới năng xuất lao động, chất lượng, thẩm mỹ và giá thành sản
phẩm, sức cạnh tranh của các sản phẩm hàng hoá trên thị trường, và cuối cùng
là sự quyết định tới sự tồn tại hay suy vong của một cơ sở sản xuất hay ngành
nghề TTCN nông thôn. Chính vì vậy mà năng suất lao động thấp, chủng loại
không phong phú, hình thức và kiểu dáng ít được cải tiến, giá thành cao, hạn
chế đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Để đa dạng hoá sản phẩm, nâng
cao năng suất, chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và
xuất khẩu, các cơ sở sản xuất kinh doanh ngành nghề TTCN cần phải nâng
cao trình độ tay nghề cho người lao động, đổi mới trang thiết bị, cải tiến và áp
dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
14
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG PHÁT TRIỂN SẢN XUẤT
TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP HUYỆN KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
1. Đặc điểm tình hình chung huyện Kim Bảng
Là một huyện bán sơn địa có 7 xã miền núi việc phát triển ngành nghề gặp
không ít khó khăn. Nguồn sống chính của nhân dân trong huyện lâu đời là nghề
trồng lúa nước. Trước những năm đổi mới cho đến năm 2000, ngoài nghề nông
Kim Bảng còn có nghề dệt vải ở Nhật Tân, Hoàng Tây, nghề Gốm ở Quyết
thành. Thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXI về đẩy mạnh sự
nghiệp công nghiệp hóa hiện đạ hóa nông nghiệp nông thôn. Các ngành nghề
truyền thống và nghề mới như gốm son, thêu ren, dệt, mây giang đan vẫn được
duy trì và phát triển. Tính đến năm 2005, tổng giá trị sản phẩm công nghiệp, tiểu
0
29 đến 20
0
39 vĩ độ Bắc và
105
0
46 đếm 105
0
54 kinh độ Đông.
- Phía Bắc giáp huyện Ứng Hòa TP Hà Nội.
- Phía Nam giáp huyện Thanh Liêm.
- Phía Đông giáp huyện Duy Tiên và TP Phủ Lý.
- Phía Tây giáp huyện Mỹ Đức- TP Hà Nội và huyện Lạc Thuỷ- tỉnh
Hoà Bình.
Thị trấn Quế là trung tâm kinh tế, chính trị văn hoá xã hội của huyện,
nằm ở trung tâm huyện cách Thành phố Phủ Lý 7 km về phía đông, cách
thành phố Nam Định về phía Đông Nam, cách thủ đô Hà Nội 65 km về phía
Bắc. Huyện nằm gần trục quốc lộ 1A ở phía Đông và vùng du lịch nổi tiếng
Chùa Hương Tích của Hà Nội ở phía Tây. Từ Đông sang Tây được nối liền
bởi Sông Đáy và có các trục 21A, 21B tỉnh lộ 793 (đường quốc lộ 60) và tỉnh
lộ 798 (đường Mỹ Kim). Từ Bắc xuống Nam được nối bởi sông Nhuệ, tỉnh lộ
797 (Biên Hòa) và các tuyến đường liên huyện, liên xã. Đây là điều kiện
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
16
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
thuận lợi tạo cho huyện khả năng phát triển và giao lưu kinh tế, văn hoá xã
hội, từng bước hội nhập với nền kinh tế của tỉnh và khu vực.
1.1.2 Thời tiết khí hậu
Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ Sông Hồng huyện chịu ảnh hưởng
trực tiếp của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Một năm có bốn mùa: xuân, hạ, thu,
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
997,96 ha.rõ, Tổng diện tích đất tự nhiên huyện đã xây dựng kế hoạch ở tất cả
các xã thị trấn đều phải dành quỹ đất tối thiểu từ 2 đến 5 ha trở lên, gần trục
đường giao thông để quy hoạch cụm TTCN và làng nghề.
Tập trung xây dựng cụm TTCN Biên hoà với diện tích 8,4 ha, trong đó
giai đoạn I là 4 ha, để thu hút các nhà đầu tư vào sản xuất kinh doanh thuộc
các ngành nghề: Mây giang đan, thủ công mỹ nghệ, may mặc, giày da, hoá
mỹ phẩm, cơ khí mộc dân dụng, chế biến lương thực, thực phẩm.
Quy hoạch cụm TTCN làng nghề xã Nhật tân 15 ha, giai đoạn I: 5,3 ha
để có mặt bằng cho sản xuất: dệt, chế biến gỗ, mây giang đan, cơ khí nhỏ.
Quy hoạch cụm TTCN xã Thi sơn diện tích khoảng 30 ha để sản xuất vật liệu
xây dựng, cấu kiện bê tông đúc sẵn. Quy hoạch cụm TTCN xã Kim bình với
diện tích khoảng 30 ha để chế biến thức ăn gia súc, sản xuất bê tông tươi.
1.2.2 Dân số và lao động
Dân số của huyện đến năm 2010 là 132.437 người với 32.301 hộ. Trong
đó có 126.712 nhân khẩu nông thôn chiếm 95,68% tổng dân số và 5.725 nhân
khẩu thành thị chiếm 4,32% tổng số dân. Mật độ dân số trung bình toàn huyện
là 714 người/km2. Thấp hơn mật độ trung bình toàn tỉnh là 968 người/km2.
Dân số phân bố không đồng đều giữa các đơn vị hành chính trong huyện. Xã
có mật độ dân số cao nhất là xã Nhật Tân với 2.011 người/km2 và xã có mật
độ thấp nhất là xã Bao Sao với 138 người/km2.
Tổng số lao động ở độ tuổi của huyện là 72.916 người chiếm 55,06%
dân số. Trong đó lao động nông nghiệp la 42.867 chiếm 58,748% tổng số lao
động. Ngoài ra còn có 15.159 người ngoài tuổi lao động nhưng có khả năng
lao động. Lao động công nghiệp và xây dựng 26.200 lao động, chiếm
35,902%. Lao động nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu lao
động dẫn đến tình trạng lãng phí lao động do sản xuất nông nghiệp mang tính
mùa vụ.
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
18
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
+ Bưu chính viễn thông: hầu hết các xã đều xây dựng mô hình bưu điện
văn hoá với 4 cụm tổng đài (500 số/cụm tổng đài). Nhờ vậy việc thông tin
liên lạc đảm bảo nhanh, thông suốt, kịp thời chính xác đã góp phần tích cực
trong điều hành sản xuất, kinh doanh cũng như nhu cầu trao đổi thông tin của
nhân dân.
1.2.4 Tình hình an ninh, trật tự xã hội và giáo dục y tế
Nhìn chung là tốt. Nguời dân sống hiền lành chịu khó làm ăn, yên tâm
tiến hành sản xuất. Điều kiện an ninh, trật tự xã hội tốt là yếu tố quan trọng
góp phần đảm bảo tính hiệu quả và ổn định cho sản xuất kinh doanh.
Ngành giáo dục huyện đã có những cố gắng nỗ lực và đạt được nhiều
thành tựu. Toàn huyện có 4 trường THPT, 19 trường THCS, 25 trường
tiểu học. Bên cạnh đó là hàng ngàn học viên đang theo các lớp học ở trung
tâm giáo dục thường xuyên của huyện. Nhìn chung sự nghiệp giáo dục huyện
phát triển cả về lượng và chất.
Sự nghiệp y tế chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng đã có chuyển
biến tiến bộ. Hiện nay huyện có 1 bệnh viện cấp huyện (Thị trấn Quế), một
phòng khám đa khoa (Lê Hồ) một bệnh viện Phong (Ba Sao), 25 trạm y tế của
các xã và cơ quan xí nghiệp với tổng số 343 giường bệnh.
1.3 Cơ cấu kinh tế của huyện
Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà
nước. Nền kinh tế của huyện đã có những chuyển biến tích cực, giá trị sản
xuất của các ngành đều tăng, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch, bộ mặt nông
thôn đổi mới, đời sống đại bộ phận dân cư từng bước được cải thiện. Cơ cấu
kinh tế của huyện thời gian qua có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ
trọng ngành công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng
ngành nông nghiệp. Tuy nhiên mức độ chuyển dịch diễn ra còn chậm. Điều
này được thể hiện qua các chỉ tiêu phát triển kinh tế qua các năm tại bảng 3.4.
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
20
2010/
2011
Bình
Quân
4 năm
I. Tổng giá trị
SX
1121,6 100 1238,6 100 1380,9 100 110,43 111,49 110,96
Nông, lâm
nghiệp, thủy sản
202,2 18,03 210,2 16,97 210,5 15,24 103,96 100,14 102,03
Công nghiệp -
xây dựng
767,3 68,41 853,3 68,89 983,2 71,20 111,21 115,22 113,20
Dịch vụ 152,1 13,56 175,1 14,14 187,2 13,56 115,12 106,91 110,94
II. Thu nhập
BQ/đầu người
10,3 12,8 15 124,27 117,19 120,68
(Nguồn: Phòng tái chính kế hoạch thương mại huyện Kim Bảng)
Nhìn chung với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện như vậy là
thuận lợi và rất phù hợp cho việc phát triển mở rộng mô hình sản xuất tiểu thủ
công nghiệp và làng nghề:
Địa hình và khí hậu đa dạng tạo đều kiện đa dạng các loại thực vật, hình
thành nhiều nguồn nguyên liệu tại chỗ cho làng nghề phát triển.
Nằm kề thủ đô Hà Nội, Kim Bảng sẽ dễ dàng hơn trong tiêu thụ sản
phẩm của làng nghề, nhất là sản phẩm mỹ nghệ cao cấp và sản phẩm nông sản
chế biến.
Giao thông thuận tiện, điện, bưu chính viễn thông, trường học, y tế phát
triển là một trong những điều kiện để làng nghề tồn tại và phát triển.
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
22
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Quang Huy
sản phẩm năm 2011 tăng so với năm 2010 là 106,67%, bình quân trong 4
năm từ 2008 đến 2011 tăng 107,17%. Ở đây, các hộ sản xuất tự chủ trong
quá trình SXKD của mình, với năng lực riêng của từng chủ hộ và nhu cầu
thị trường, các hộ tự quyết định sản xuất như thế nào, số lượng bao nhiêu
để đạt được lợi nhuận cao nhất, vì vậy sản phẩm quần áo và túi thổ cẩm
tăng trưởng hàng năm.
Bảng 2: Số lượng sản phẩm chính của các đơn vị sản xuất
trong làng nghề
STT
Sản phẩm
chủ yếu
ĐVT
Năm
2008
Năm
2009
Năm
2010
Năm
2011
So sánh %
2009/
2008
2010/
2009
2011 /
2010
BQ 4
13 Rượu trắng 1000 lít 3 3 3 3 100,00 100,00 100,00 100,00
(Nguồn: Tổng hợp từ Phòng Công thương huyện Kim Bảng)
Theo báo cáo "Đánh giá ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế và các
chính sách hỗ trợ của Chính phủ đối với làng nghề" của Viện Chính sách và
Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn (IPSARD), khủng hoảng kinh
tế đã tác động đến 88,4% làng nghề về thị trường tiêu thụ sản phẩm, 76,2% về
thị trường nguyên liệu, 69,7% về người lao động và 55,2% về nhu cầu vốn.
Trong 3 năm diễn ra khủng hoảng (2008 - 2011), cơ cấu của thị trường tiêu
thụ sản phẩm có sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng xuất khẩu và ít nhiều
Sinh viên: Chu Văn Tuyền Lớp QLKT: Khoá I - Từ Xa
23