định hướng xây dựng pháp luật thương mại điện tử cho việt nam - Pdf 23

Khoá luận tốt nghiệp
Mục lục
Tên Trang
Lời nói đầu 4
Ch ơng I : Giới thiệu chung về TMĐT và sự cần thiết xây dựng pháp luật
về TMĐT 7
I.Giới thiệu chung về TMĐT 7
1.Khái niệm 7
2.Sự ra đời và phát triển của TMĐT 9
3.Sự khác biệt giữa TMĐT và TMTT 12
3.1.Điều kiện tồn tại và phát triển 12
3.2.Hình thức hợp đồng 13
3.3.Phơng thức giao dịch 13
3.4.Phơng thức thanh toán 14
4.Lợi ích của TMĐT 14
4.1.Lợi ích đối với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế 15
4.2.Lợi ích đối với ngời tiêu dùng 19
II.Sự cần thiết xây dựng pháp luật về TMĐT 21
1.Lý do thứ nhất 21
2.Lý do thứ hai 24
3.Lý do thứ ba 25
Ch ơng II: Pháp luật quốc tế về TMĐT 26
I.Các quy định pháp luật về văn bản điện tử 27
1.Khái niệm 27
2.Nội dung các quy định 28
2.1.Văn bản điện tử đáp ứng các yêu cầu pháp lý về văn bản 28
2.2.Các quy định về giao dịch bằng văn bản điện tử 35
II.Quy địnhpháp luật liên quan đến chữ ký điện tử 42
1.Khái niệm và Chức năng 42
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
1

2
Khoá luận tốt nghiệp
2.Kiến nghị ban hành văn bản pháp quy 82
3.Nâng cao nhận thức và hiểu biết 85
4.Yêu cầu t vấn, giúp đỡ 86
Kết luận 89
Tài liệu tham khảo 90
Một số ký hiệu viết tắt
1. TMĐT: Thơng mại Điện tử
2. CKĐT: Chữ ký điện tử
3. TMTT: Thơng mại truyền thống
4. UNCITRAL: ủy ban của Liên Hợp Quốc về pháp luật Thơng mại Quốc
tế;
5. OECD: Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế;
6. ICC: Phòng Thơng mại và Công nghiệp
7. CSP: ngời cung cấp "giấy chứng nhận chữ ký điện tử" và cung cấp các
dịch vụ khác liên quan đến chữ ký điện tử
8. CNTT: Công nghệ thông tin
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
3
Khoá luận tốt nghiệp
Lời nói đầu
Chúng ta đang sống trong thời đại của Công nghệ thông tin, của Kỹ
thuật số hoá, của những thay đổi không ngừng trên mọi phơng diện. Song
hành với những thay đổi chóng mặt đó là những khái niệm mới, những phạm
trù mới, những cách thức mới, và Thơng mại Điện tử là một phơng thức kinh
doanh mới tơng tự nh vậy. Tuy mới chỉ xuất hiện cách đây cha lâu và đang còn
trong giai đoạn hình thành và phát triển nhng Thơng mại Điện tử cũng đã phần
nào tác động đến cuộc sống của mỗi con ngời chúng ta.
Thơng mại Điện tử với những đặc tính u việt hơn hẳn Thơng mại Truyền

Newzealand, Hồng Kông ).
Ph ơng pháp nghiên cứu:
Su tầm, thu thập tài liệu từ sách, báo, Internet
Thống kê, phân tích
So sánh
Bố cục của khoá luận:
Ch ơng I : Giới thiệu chung về Thơng mại điện tử và Sự cần thiết
phải xây dựng pháp luật về Thơng mại điên tử. Chơng này sẽ đề cập
đến khái niệm về Thơng mại điện tử; Lợi ích của Thơng mại điện tử
đối với hai chủ thể lớn tham gia hoạt động Thơng mại điện tử là
Doanh nghiệp và Ngời tiêu dùng; Sự khác biệt cơ bản giữa TMĐT
và TMTT;Quá trình hình thành và phát triển của TMĐT; Chơng I
cũng sẽ đồng thời đề cập đến ba nguyên nhân chính dẫn tới sự ra
đời của pháp luật về Thơng mại điện tử,
Ch ơng II: Quy định pháp luật của một số tổ chức quốc tế và quốc
gia về Thơng mại điện tử. Chơng II này sẽ nêu ra các quy định pháp
luật về ba vấn đề lớn liên quan đến Thơng mại điện tử (Văn bản
điện tử, Chữ ký điện tử, Bảo mật thông tin ngời tiêu dùng) đồng thời
đề cập sơ lợc đến các quy định về một số khía cạnh khác với mục
đích tham khảo (Đánh thuế các giao dịch Thơng mại điện tử; Thanh
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
5
Khoá luận tốt nghiệp
toán điện tử; Chuyên chở hàng hoá; ). Mục tiêu của chơng này là
tìm hiểu về quy định pháp luật của các tổ chức quốc tế và một số
quốc gia liên quan đến Thơng mại điện tử, làm nền tảng cơ sở tham
khảo cho việc xây dựng pháp luật về Thơng mại điện tử ở Việt Nam
sau này.
Ch ơng III : Định hớng xây dựng hệ thống pháp luật cho hoạt động
Thơng mại điện tử của Việt Nam. Chơng III này sẽ cung cấp một số

thành. TMĐT là việc sử dụng các phơng pháp điện tử để làm thơng mại, trong
đó thơng mại không phải chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ, mà nh đợc các
nớc thành viên Liên hiệp quốc thoả thuận bao gồm hầu nh tất cả các dạng hoạt
động kinh tế và việc chấp nhận và áp dụng TMĐT sẽ làm thay đổi toàn bộ
hình thái hoạt động xã hội.
Hiện nay trên thế giới cha có một định nghĩa chính xác nào về TMĐT.
Ngời ta vẫn chỉ hiểu nôm na rằng TMĐT là việc mua bán, trao đổi hàng hoá,
dịch vụ trực tuyến và kết quả của các giao dịch này là hàng hoá, dịch vụ đợc
mua, bán, xuất khẩu hay nhập khẩu.
Còn theo định nghĩa rộng rãi nhất, giản dị nhất và đã đợc chấp nhận phổ
biến thì TMĐT là việc sử dụng các phơng pháp điện tử để làm thơng mại, nói
chính xác hơn, TMĐT là việc trao đổi thông tin thơng mại thông qua các ph-
ơng tiện công nghệ điện tử, mà nói chung là không cần phải in ra giấy trong
bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch.
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
7
Khoá luận tốt nghiệp
Theo Ngân hàng Thế giới (World Bank), Thơng mại điện tử (TMĐT) là
tổng thể các giao dịch thơng mại trong đó Internet là công cụ chủ yếu đợc sử
dụng để:
Thu thập các thông tin liên quan đến hàng hoá, dịch vụ, đối tác
Đặt mua hàng hoá hay dịch vụ và
Thực hiện các hoạt động thanh toán
Một hoạt động thơng mại có hai trong số ba đặc điểm nêu trên của
TMĐT cũng có thể đợc coi là hoạt động TMĐT.
Ngoài ra Uỷ ban Châu Âu cũng đã đa ra định nghĩa về TMĐT. Theo
định nghĩa này thì TMĐT đợc hiểu là việc thực hiện hoạt động kinh doanh qua
các phơng tiện điện tử. Nó dựa trên việc xử lý và truyền dữ liệu điện tử dới
dạng text, âm thanh và hình ảnh. TMĐT trong định nghĩa này bao gồm nhiều
hành vi, bao gồm hoạt động mua bán hàng hoá dịch vụ, giao nhận các nội

thành và phát triển của TMĐT có thể chia thành hai giai đoạn chính:
Từ khi có sự ra đời của Internet đến giữa những năm 90
Từ giữa những năm 90 đến nay
2.1.Giai đoạn I - Sự ra đời của mạng thông tin toàn cầu - INTERNET:
Chúng ta đã biết TMĐT từ khi ra đời cho đến nay luôn gắn liền với
Internet và Internet là một trong những điều kiện cần để có thể tiến hành các
giao dịch TMĐT. Bởi vậy, chúng ta cần tìm hiểu đôi chút về sự ra đời của
Internet để từ đó hiểu rõ hơn về các biểu hiện đầu tiên của TMĐT.
a)Internet ra đời từ một sáng kiến của Bộ Quốc phòng Mỹ trong thời kỳ chiến
tranh lạnh. Năm 1969 Bộ Quốc phòng Mỹ đã xây dựng một hệ thống liên lạc,
trao đổi thông tin giữa các cơ quan của Bộ Quốc phòng và các trờng đại học
của Mỹ có tên là ARPANET. Trong thập kỷ 70 của thế kỷ 20, ngời Mỹ đã sử
dụng mạng thông tin liên lạc này để gửu e-mail, để tổ chức các cuộc thảo luận
nhóm, để thu thập dữ liệu giữa các cơ quan chính phủ, các công ty và các
trờng đại học.
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
9
Khoá luận tốt nghiệp
b)Đến năm 1983 Internet thực sự ra đời và cho đến đầu những năm 90 của thế
kỷ 20, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ lập trình mạng thông tin toàn cầu
World Wide Web (WWW) ra đời với nhiều tính năng u việt hơn trớc.
Nh vậ y , ngay từ khi Internet mới ra đời, các doanh nghiệp đã sử dụng
Internet để phục vụ cho công việc của mình. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng
Internet của các doanh nghiệp Mỹ mới chỉ dừng lại ở chỗ gửi e-mail trao đổi
thông tin và tìm kiếm dữ liệu. Việc sử dụng Internet trong các doanh nghiệp
Mỹ trớc thập kỷ 90 phục vụ cho công việc kinh doanh cha thể coi là TMĐT.
Nhng rõ ràng đây là những dấu hiệu đầu tiên của TMĐT.
Tính đến những năm đầu thập kỷ 90 giá trị của TMĐT bằng 0.
2.2.Giai đoạn từ giữa những năm 1990 đến nay: Sự trỗi dậy của TMĐT
Tháng 7 năm 1995, việc Jeff Bezos mở cửa hàng sách trực tuyến đã

tinh.
Số ngời tham gia vào thế giới trực tuyến lớn hơn bao giờ hết: 200 triệu
ngời vào thời điểm cuối thiên niên kỷ. Chính con số ngời sử dụng Internet là
nguyên nhân chính của sự bùng nổ các công ty mang tên .com (dot-com), làn
sóng B2B trên toàn thế giới.
Chúng ta sẽ cùng xem xét một vài số liệu liên quan đến giá trị giao dịch
TMĐT ở một số quốc gia, giá trị giao dịch bình quân trên số ngời sử dụng
Internet qua bảng sau:
Thị tr ờng th ơng mại điện tử ở một số n ớc trên thế giới
Tên nớc Giá trị giao dịch năm
2000 (triệu USD)
Bình quân trên số ngời sử dụng Internet th-
ờng xuyên (USD)
Mỹ 74,500.00 1.284,48
Hàn Quốc 351.39 390,43
Nhật Bản 3,779.10 366,90
úc
981.24 362,08
Thái Lan 36.47 331,55
Philipine 39.78 331,50
New Zealand 149.04 331,20
Hong Kong 245.31 327,08
Singapore 278.46 262,70
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
11
Khoá luận tốt nghiệp
Malaysia 39.78 248,63
Indonesia 14.72 245,33
Việt Nam 2.45 245,00
Đài Loan 36.65 202,58

Trong các giao dịch TMTT, tuỳ theo giá trị hàng hoá giao dịch là bao
nhiêu mà luật pháp các quốc gia yêu cầu hợp đồng phải đợc làm bằng văn bản
hay không. Văn bản mà luật pháp các quốc gia đề cập đến ở đây là văn bản
giấy (paper-based document), và có chữ ký xác nhận của các chủ thể.
Còn trong giao dịch TMĐT hiện nay, khi phơng tiện giao dịch đợc sử dụng
chủ yếu là hệ thống mạng, với những th điện tử (email) và văn bản điện tử
(data message), và không còn sự xuất hiện của bất kỳ một văn bản giấy nào
thì hợp đồng của các giao dịch trong TMĐT chính là các văn bản điện tử đó,
những văn bản đặc biệt mà các chủ thể có thể đọc đợc, lu giữ đợc, soạn thảo
đợc, gửi đi đợc, nhận đợc nhng hoàn toàn không thể sờ đợc hay cảm nhận vật
chất đợc. Hay nói một cách khác, hình thức hợp đồng trong TMĐT là "phi vật
chất".
Chính sự khác biệt này đã là một nguyên nhân dẫn đến việc phải hình
thành một khuôn khổ pháp lý mới để điều chỉnh hợp đồng TMĐT.
3.3.Ph ơng thức giao dịch
Một trong những điều kiện để có thể tồn tại và phát triển TMĐT là hạ
tầng truyền thông, với hệ thống mạng, đờng truyền, máy vi tính. Điều kiện
này có thể xem nh là một đặc điểm nhận dạng nổi bật nhất của TMĐT. Và tất
cả các giao dịch qua lại giữa các bên chủ thể tham gia TMĐT đều thực hiện
thông qua phơng tiện kỹ thuật hiện đại này. Đàm phán, thoả thuận để ký kết
hợp đồng đợc thực hiện với sự trợ giúp của mạng, thông qua các văn bản điện
tử, các th điện tử Hay trong nhiều trờng hợp, hợp đồng mua bán hàng hoá
dịch vụ lại đợc ký kết chỉ sau vài lần nhấn chuột. Nói tóm lại, đợc thực hiện
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
13
Khoá luận tốt nghiệp
bằng phơng tiện này hay phơng tiện khác, các giao dịch trong TMĐT là giao
dịch trực tuyến (online transactions).
Giao dịch trực tuyến khác rất xa so với các phơng thức giao dịch đợc sử
dụng trong TMTT, khi muốn ký kết một hợp đồng, các chủ thể phải tham gia

ớc đang và kém phát triển hội nhập với toàn thế giới trong khi TMĐT là công
cụ để củng cố sự phát triển ổn định của nền kinh tế ở các nớc phát triển.
Lợi ích của TMĐT có thể đợc xem xét dới nhiều góc độ, gắn với mỗi
chủ thể khác nhau. Tuy nhiên trong khoá luận này chỉ xin đợc đề cập đến lợi
ích của TMĐT đối với 2 nhóm đối tợng chính tham gia TMĐT, đó là Doanh
nghiệp / Các tổ chức kinh tế và Ngời tiêu dùng.
4.1.Lợi ích đối với doanh nghiệp / tổ chức kinh tế:
a)Lợi ích lớn nhất và cốt lõi nhất mà TMĐT mang lại cho các doanh nghiệp /
các tổ chức kinh tế là tiết kiệm thời gian, chi phí sản xuất và giảm giá thành
sản phẩm.
Tham gia TMĐT doanh nghiệp có thể tiết kiệm đợc chi phí Marketing.
Trớc kia khi cha tham gia TMĐT, công việc nghiên cứu thị trờng và xâm nhập
thị trờng mới đặc biệt là các thị trờng quốc tế đòi hỏi một khoản đầu t rất lớn
của doanh nghiệp. Nhng nay, thông qua Internet các doanh nghiệp, tổ chức
kinh tế có thể thu thập dữ liệu về khu vực thị trờng mục tiêu của mình mà
không tốn kém nhiều về thời gian cũng nh công sức dẫn đến tiết kiệm đợc
nhiều hơn trong chi tiêu cho nhân lực trong công tác nghiên cứu. Mặc dù
nghiên cứu thị trờng thông qua Internet doanh nghiệp vẫn phải thanh toán chi
phí mạng nhng chúng ta có thể chắc chắn một điều rằng chi phí cho sử dụng
mạng Internet sẽ ít hơn rất nhiều so với chi phí cho nhân viên tiến hành điều
tra, nghiên cứu. Bên cạnh đó, với việc lập một Website của riêng mình doanh
nghiệp cũng có thể tiết kiệm đợc khá nhiều chi phí dành cho quảng cáo.
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
15
Khoá luận tốt nghiệp
Doanh nghiệp cũng có thể tiết kiệm đợc các chi phí trung gian nếu tham
gia Thơng mại điện tử. Thay vì sử dụng các trung gian, hệ thống đại lý, nhà
phân phối tại từng khu vực thị trờng, trong TMĐT, khi ngời tiêu dùng và
doanh nghiệp liên hệ trực tiếp với nhau qua các Website, các giao dịch là trực
tuyến và điều đó đồng nghĩa với việc doanh nghiệp tiết kiệm đợc khá nhiều

doanh nghiệp tham gia TMĐT sẽ có nhiều thuận lợi trong việc cung cấp hàng
hoá đến tay ngời tiêu dùng trong khoảng thời gian ngắn nhất. Bên cạnh đó
hàng hoá đợc cung cấp sẽ có chất lợng tốt hơn, đảm bảo hơn so với hàng hoá
của các hãng khác.
Thông qua Internet doanh nghiệp có thể nhận đợc phản hồi từ khách
hàng nhanh nhất, từ đó có kế hoạch cung cấp các dịch vụ sau bán hàng nhanh
nhất, kịp thời nhất và cải tiến sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu của khách
hàng. Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng nâng cao tính cạnh
tranh của sản phẩm của doanh nghiệp.
Tính cạnh tranh của sản phẩm là một yếu tố vô cùng quan trọng. Nó
quyết định trực tiếp đến việc tiêu thụ hàng hoá trên thị trờng, sự thành công
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
17
Khoá luận tốt nghiệp
hay thất bại của doanh nghiệp. Do vậy, TMĐT là một công cụ hữu hiệu để
giúp các doanh nghiệp đạt đợc mục tiêu của mình.
c)Tham gia TMĐT doanh nghiệp sẽ có nhiều cơ hội tiếp xúc với đối tác, thị tr -
ờng. Thông qua Internet, doanh nghiệp và đối tác có thể liên lạc trực tiếp với
nhau một cách dễ dàng. Hai bên có thể trao đổi các thông tin liên quan đến
nhu cầu về hàng hoá dịch vụ, thông tin và các văn bản hợp đồng mua bán.
Chính u điểm này của Internet giúp doanh nghiệp và đối tác hiểu nhau hơn,
tạo mối quan hệ bền vững lâu dài, thân thiện giữa hai bên.Bằng việc sử dụng
Internet, doanh nghiệp có thể trực tiếp nghiên cứu, tiếp xúc với thị trờng.
Internet sẽ là một công cụ hữu hiệu để doanh nghiệp tìm kiếm, thu thập thông
tin về khách hàng, nhu cầu, thị trờng. Và dựa trên thông tin thu thập đợc,
doanh nghiệp sẽ phân tích và đa ra nhng dự đoán cho tơng lai và hoạch định
chiến lợc của mình. Internet cũng giúp doanh nghiệp nhận đợc thông tin từ
phía khách hàng nhiều hơn, nhanh hơn. Trên cơ sở những phản hồi của khách
hàng doanh nghiệp sẽ tự hoàn thiện mình hơn, cung cấp sản phẩm có chất l-
ợng tốt hơn để thoả mãn tối đa nhu cầu của ngời tiêu dùng.

Để mua sắm hàng hoá, trớc đây ngời tiêu dùng phải đi đến các cửa hàng, siêu
thị rồi chọn lựa. Đôi khi không tìm đợc hàng hoá nh mong muốn, họ phải tìm
mua ở các cửa hàng khác. Hơn nữa đi mua sắm ở siêu thị, ngời tiêu dùng ở
nhiều quốc gia hiện nay gặp nhiều khó khăn trong việc tìm chỗ để xe, chen
lấn nhau mua hàng. Và tình trạng này tiêu tốn của họ khá nhiều thời gian.
Hơn nữa ngời tiêu dùng phải thu xếp một khoảng thời gian nhất định để đi
mua sắm. Nhng hiện nay với sự phát triển của Công nghệ Thông tin, sự ra đời
của hàng loạt các công ty dot-com, sự xuất hiện của các siêu thị ảo , ngời
tiêu dùng có thể tiết kiệm đợc rất nhiều thời gian. Thay vì phải thu xếp thời
gian, phải chờ đợi vì tắc đờng, hay chạy vòng vòng để tìm chỗ đậu xe, phải
đợi chờ tại quầy thu ngân để đợc thanh toán ngời tiêu dùng có thể chỉ cần
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
19
Khoá luận tốt nghiệp
ngồi trớc máy vi tính đã nối mạng tại một góc trong nhà mình, lựa chọn hàng
hoá, nhấn chuột, nhập số liệu thẻ tín dụng của mình và chờ nhân viên bán
hàng giao hàng đến tận nhà trong khoảng thời gian ngắn nhất.
Với những khoảng thời gian tiết kiệm đ ợc , ngời tiêu dùng có thể tập
trung vào làm các công việc và đặc biệt các bà nội trợ sẽ có nhiều thời gian
hơn để chăm sóc cho gia đình và chính mình.
b)Ng ời tiêu dùng sẽ tiết kiệm đ ợc chi phi nếu tham gia TMĐT.
Nh đã trình bày ở phần trên, TMĐT sẽ giúp các doanh nghiệp cắt giảm
đợc nhiều loại chi phí và hạ giá thành sản phẩm dịch vụ cung cấp. Và khi đó
ngời tiêu dùng là ngời có lợi nhất. Tuy nhiên không phải lúc nào ngời tiêu
dùng cũng có thể tiết kiệm đợc chi phí khi mua sắm qua mạng vì ở một số
quốc gia chi phí mạng rất cao. Ngời tiêu dùng phải trả một khoản tơng đối lớn
để có thể vào mạng.
Chi phí mà ngời tiêu dùng có thể tiết kiệm đợc bao gồm chi phí nhiên
liệu, chi phí do giá rẻ hơn, chi phí cho trung gian môi giới nếu cần trong các
hợp đồng lớn

II.Sự cần thiết xây dựng pháp luật về TMĐT:
Trong hầu hết các cuộc hội thảo, toạ đàm đợc tổ chức trong thời gian
gần đây, ngời ta thờng nhắc nhiều đến việc phải xây dựng một khuôn khổ
pháp lý cho hoạt động TMĐT. Xây dựng pháp luật về TMĐT đã, đang và sẽ
trở thành một nhu cầu bức xúc ở tất cả các quốc gia muốn phát triển TMĐT.
Vì sao vậy?
1.Lý do thứ nhất:
TMĐT muốn tồn tại và phát triển cần phải có ít nhất các điều kiện sau:
Hạ tầng truyền thông
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
21
Khoá luận tốt nghiệp
Hành lang pháp lý
Hệ thống ngân hàng phục vụ cho thanh toán điện tử
Hệ thống dịch vụ vận chuyển hàng hoá hiện đại
Hệ thống các giải pháp kỹ thuật đồng bộ phục vụ cho các cửa hàng
ảo, chợ ảo, dịch vụ ảo
Nhận thức của ngời tiêu dùng
Và các điều kiện khác
Nh vậy, hành lang pháp lý là một trong những điều kiện cần để TMĐT
có thể tồn tại và phát triển. Bất kỳ một hoạt động giao dịch kinh doanh nào
trong đời sống xã hội cũng phải chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp
luật. Hoạt động TMĐT cũng vậy, cũng phải đợc và cũng cần phải chịu sự điều
chỉnh của các quy định pháp luật liên quan.
2.Lý do thứ hai:
TMĐT mới chỉ xuất hiện cách đầy cha đầy một thập kỷ nhng đã có
những bớc phát triển mạnh mẽ, thu hút sự chú ý quan tâm của mọi cá nhân, tổ
chức, quốc gia. Mặt khác, với những lợi ích to lớn mà TMĐT có thể mang lại
cho các bên tham gia, TMĐT thực sự là sức hút mạnh mẽ đối với các nhà kinh
doanh, ngời tiêu dùng, các tổ chức kinh tế. Trớc một cơ hội mới, đầy triển

họ sẽ nhiệt tình tham gia TMĐT, để tận hởng hết các lợi ích mà TMĐT mang
lại, mà không có một chút do dự, ngần ngại nào cả. Và khi đó số lợng ngời
tiêu dùng, các tổ chức, doanh nghiệp tham gia TMĐT sẽ tăng lên gấp bội, lại
là một trong những nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ hơn của
TMĐT.
Mặt khác, trong thực tiễn TMĐT không thể tránh khỏi việc phát sinh
các tranh chấp, các thắc mắc. Và khi phát sinh tranh chấp, các chủ thể thờng
có hai cách lựa chọn: tự giải quyết và nhờ đến một bên thứ ba, thông thờng là
Toà án, hoặc Trọng tài. Nhng lúc này chính các cơ quan đợc giao quyền cầm
cân nảy mực này lại lúng túng trong việc không biết sử dụng nguồn luật nào
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
23
Khoá luận tốt nghiệp
để giải quyết các tranh chấp nh vậy. Và thực tế cho thấy các cơ quan Trọng tài
hay Toà án này thờng xử qua quýt hay áp dụng các quy định mà thực tế là
hoàn toàn không phù hợp. Chính việc làm đó đã gây tâm lý không ổn định,
mơ hồ cho các bên tham gia TMĐT. Kết quả là các bên tự thu hẹp hoạt động
của mình hay thận trọng hơn với các giao dịch mà họ cha biết chắc nếu có
tranh chấp thì sẽ đợc giải quyết nh thế nào. Chính tâm lý này đã cản trở sự
phát triển của TMĐT.
Có lẽ đến đây, chúng ta đã hiểu tại sao xây dựng hành lang pháp lý cho
TMĐT là một trong những điều kiện cần có để TMĐT có thể tồn tại và phát
triển.
3.Lý do thứ ba:
TMĐT có cái gốc vẫn là hoạt động thơng mại vì mục đích lợi nhuận,
vậy tại sao lại không sử dụng pháp luật TMTT để xử lý các vấn đề liên quan
đến TMĐT?
Nếu nói rằng chúng ta không thể sử dụng pháp luật của TMTT để điều
chỉnh TMĐT là không chính xác vì giữa TMĐT và TMTT vẫn có những điểm
chung. Tuy nhiên chính những điểm khác biệt giữa TMĐT và TMTT nh đã đ-

Trên đây là ba lý do cơ bản nhất giải thích vì sao phải xây dựng khuôn
khổ pháp lý cho hoạt động TMĐT. Xây dựng hành lang pháp lý cho TMĐT
thực sự rất cần thiết, nhng các quy định pháp lý đó phải đợc xây dựng nh thế
nào? Chúng ta sẽ tham khảo một số quy định pháp luật liên quan đến TMĐT
của một số tổ chức quốc tế và một số quốc gia trên toàn thế giới ở chơng II
của khoá luận này.
Nguyễn Thu Trang - A12-K37-ĐHNT
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status