1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm mũi xoang mạn tính (VXMMT) là sự rối loạn quá trình viêm kéo
dài tại mũi và các xoang cạnh mũi [1]. Là một trong những bệnh mạn tính phổ
biến thường gặp nhất trong chuyên khoa Tai Mũi Họng [1]. Ngày nay bệnh có
xu hướng gia tăng do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá, ô nhiễm môi
trường và biến đổi khí hậu. Do đặc điểm kéo dài, dai dẳng và khó chữa nên
VMX mãn tính được xếp vào danh mục các bệnh mãn tính như hen, cao huyết
áp Viêm mũi xoang ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ và chất lượng cuộc sống
của người bệnh.
Viêm mũi xoang mạn tính đứng thứ hai trong các bệnh mạn tính thường
gặp nhất tại Mỹ, ước tính khoảng 15% dân số mắc bệnh [1]. Viêm mũi xoang
mạn là một gánh nặng kinh tế cho xã hội và người bệnh bởi chiếm nhiều phí tổn
do những lần đi khám bệnh, dùng kháng sinh, mất ngày công làm việc và nghỉ
học. Theo nghiên cứu năm 1994 của trung tâm phỏng vấn và điều tra sức khỏe
Hoa Kỳ NHIS (National Health Interview Survey) hàng năm mất 12,5 triệu
ngày nghỉ việc [2]. Năm 2011 nước Mỹ tiêu tốn khoảng 8,6 tỷ đô la cho chi phí
điều trị bệnh VMXMT [3].
Trong hai thập kỷ qua, với những tiến bộ và những hiểu biết sâu sắc về
mũi xoang, về cơ chế bệnh sinh cùng với những kỹ thuật tân tiến về hình ảnh
và nội soi, đã tạo ra một cuộc cách mạng trong điều trị bằng phẫu thuật đối
với bệnh viêm mũi xoang, nhưng khi theo dõi lâu dài sau phẫu thuật thì bệnh
lý niêm mạc vẫn là vấn đề tồn tại dai dẳng gây tình trạng VMXMT. Đây là
những minh chứng cho giới hạn của hiệu quả điều trị VMXMT bằng phẫu
thuật nội soi. Do đó đã có nhiều công trình nghiên cứu khẳng định kết hợp
điều trị nội khoa kéo dài cả trước và sau phẫu thuật là không thể thiếu và
mang lại hiệu quả lâu dài.
2
Mặc dù những hiểu biết về sinh lý bệnh của VMXMT phần lớn được mở
rộng trong hai thập kỷ qua nhưng nguyên nhân chính xác vẫn còn chưa được
trước sau [4]
1.1.1.2. Thành ngoài
Thành ngoài là vách mũi xoang, có khối bên xương sàng gồm nhiều
nhóm xoang sàng. Mặt ngoài khối sàng là một phần của thành ngoài hốc mắt,
đây là vùng rất nhạy cảm trong phẫu thuật nội soi vì rất dễ bị tổn thương.
1.1.1.3. Các cuốn mũi
Thông thường có 3 cuốn mũi đi từ dưới lên trên gồm : cuốn dưới, cuốn
giữa, cuốn trên. Cấu tạo của cuốn gồm có xương ở giữa và bên ngoài được
bao phủ bởi niêm mạc đường hô hấp. Cuốn mũi giữa là một phần xương sàng,
phía trước gắn với mái trán- sàng qua rễ đứng theo bình diện đứng dọc, rễ này
ra phía sau xoay ngang dần theo bình diện đứng ngang rồi nằm ngang bám
vào khối bên xương sàng gọi là mảnh nền cuốn giữa [5].
4
Bình thường cuốn giữa có chiều cong lồi vào phía trong hốc mũi,
trường hợp ngược lại, cuốn giữa cong ra phía ngoài sẽ chèn ép, làm hẹp
đường dẫn lưu của PHLN, gọi là cuốn giữa đảo chiều, đây là một trạng thái
giải phẫu tạo điều kiện thuận lợi dẫn đến viêm xoang.
Hình 1.1 Thành ngoài hốc mũi [6]
1. Xoang trán
2. Xoăn mũi trên
3. Ngách mũi trên
4. Xoăn mũi giữa
5. Đê mũi
6. Tiền đình ngách mũi giữa
7. Nách mũi giữa
8. Xoăn mũi dưới
9. Thềm mũi
10. Tiền đình mũi
11. Ngách mũi dưới
gây chèn ép làm hẹp đường dẫn lưu của các xoang ở vùng khe bán nguyệt [4,7].
5
+ Bóng sàng: Là một tế bào sàng trung gian, thành trước bám ngang vào
mái trán- sàng, đi vòng xuống dưới và ra sau để tiếp nối với mảnh nền cuốn
giữa. Bóng sàng quá phát sẽ gây bít lấp phức hợp lỗ ngách làm cản trở đường
dẫn lưu tự nhiên của xoang.
+ Khe bán nguyệt: Là một khe lõm nằm giữa mỏm móc và bóng sàng có
hình trăng lưỡi liềm cong ra sau, từ khe giữa đi qua rãnh bán nguyệt sẽ vào
một rãnh hình máng chạy dọc từ trên xuống. Phần trên rãnh này nằm phía
trước dưới rãnh bán nguyệt. Rãnh này có hình phễu nên được gọi là phễu
sàng. Rãnh bán nguyệt có thể coi như cửa vào phễu sàng. Trong khe này có
các lỗ dẫn lưu của hệ thống xoang sàng trước, xoang trán và xoang hàm[7].
+ Phức hợp lỗ ngách:
Hình 1.2 Phức hợp lỗ ngách [13]
Là phần trước của ngách mũi giữa, giới hạn bởi các xoang sàng trước,
cuốn giữa và mỏm móc, gồm chủ yếu là ngách trán - sàng và khe bán nguyệt,
có lỗ thông của các xoang hàm, xoang trán và xoang sàng trước. Đây có thể
coi là vùng ngã tư dẫn lưu của các xoang vào hốc mũi. Bất kỳ một cản trở nào
ở vùng này đều có thể gây tắc nghẽn sự dẫn lưu các xoang và dẫn đến viêm
xoang. Đây là vùng giải phẫu đóng vai trò quan trọng trong cơ chế sinh bệnh
viêm xoang.
- Ngách mũi trên: Có lỗ thông của các xoang sau, dẫn lưu xuống cửa mũi sau.
6
1.1.1.5. Mạch máu và thần kinh của mũi
- Động mạch:
Mũi được cung cấp bởi các nhánh của cả hệ cảnh trong (ĐM mắt) và hệ
cảnh ngoài (ĐM hàm trong)
- Tĩnh mạch: Đổ vào TM hàm trong, TM mắt và TM mặt.
- Thần kinh: Thần kinh giác quan là dây khứu giác. Thần kinh cảm giác là
trưởng thành của bộ môn Tai Mũi Họng ĐH Y - Dược TP Hồ Chí Minh do
Võ Thị Ngọc Hân thực hiện là 12 cm
3
[11].
1.1.2.2. Xoang trán
Xoang trán là hốc rỗng nằm trong xương trán ngay trên hố mũi, có vách
xương ngăn đôi thành hai xoang trán. Thành trước dày khoảng 3-4 mm, thành
sau dày khoảng 1 mm, liên quan trực tiếp đến màng não cứng và thùy trán.
Thành trong là vách xương giữa 2 xoang. Đáy xoang nằm trên ổ mắt và các
xoang sàng trước, thu hẹp dần thành hình phễu (phễu trán), đi chếch xuống
dưới và ra sau tạo nên ngách
Hình 1.4. Sơ đồ lỗ thông xoang trán [9]
1
2
3
4
5
6
7
8
1. Xoang trán2. Ống trán mũi3. Phễu trán4. Rãnh bán nguyệt5.
Đê mũi6. Mỏm móc7. Cuốn mũi8. Bóng sàng
8
1.1.2.3. Xoang sàng
Là một hệ thống có từ 5-15 hốc xương nhỏ gọi là các tế bào sàng, nằm
trong hai khối bên của xương sàng, bên trong có nhiều vách ngăn chia thành
các ô nhỏ, đó chính là các TB sàng. Mỗi tế bào có lỗ dẫn lưu riêng đường
kính khoảng 1-2mm [12]. Mảnh nền cuốn giữa chia xoang sàng thành các
nhóm sàng trước và sàng sau.
- Xoang sàng trước: gồm những TB nằm ở phía trước mảnh nền cuốn
mao kích thước 2 x 0,1µ, làm tăng diện tích bề mặt của biểu mô. Theo
Mygind và Petruson, các nhung mao này còn cung cấp chất dịch cho khoảng
liên lông chuyển, một phần quan trọng đối với hoạt động lông-nhầy.
- Tế bào tuyến (TB hình đài, TB nhu mô hay TB Goblet): còn gọi là TB
chế tiết vì có chức năng chính là tiết ra chất nhầy giàu hydrate carbone, dịch
tiết này tạo nên độ dày của lớp chất nhầy trên bề mặt biểu mô.
- Tế bào đáy: Nằm trên màng đáy của tế bào biểu mô, đây là các tế bào nguồn
có thể biệt hóa trở thành tế bào biểu mô để thay thế cho các tế bào đã chết [17]
(Theo Kaschke O Rhinochirurgie endoscopique, Karl Storz
GmbH&Co.,1995)
1
2
3
4
6
5
1. Lớp thảm nhầy2. Lông chuyển3. Dịch giam lông chuyển4. Tế bào lông chuyển5.
Tế bào tuyến6. Màng đáy
10
Hình 1.6. Sơ đồ niêm mạc mũi xoang.
1.2.1.2. Lớp màng đáy.
Ngăn cách giữa lớp biểu mô và mô liên kết, thành phần gồm các sợi liên
võng và một chất vô định hình. Bề mặt của màng không kín mà có các lỗ
thủng nhỏ li ti, do đó bạch cầu và các chất có thể di chuyển qua lại giữa mô
liên kết và các biểu mô [18,19].
1.3.1.3. Lớp mô liên kết dưới biểu mô.
Gồm các tế bào thuộc hệ thống võng và các thành phần mạch máu- thần
kinh, nằm giữa biểu mô và màng sụn (hoặc màng xương), gồm các tế bào
thuộc hệ thống liên võng. Chia thành 3 lớp :
- Lớp lympho: là nguồn tế bào cung cấp các globulines miễn dịch.
1.2.2. Sinh lý niêm mạc mũi xoang.
Có 3 yếu tố chủ yếu trong sinh lý bình thường của các xoang cạnh mũi là:
độ thông thoáng của lỗ thông xoang, chức năng lông chuyển và chất lượng
của sự chế tiết nhầy.
1.2.2.1. Hoạt động thanh thải của lông nhầy.
- Vận động của lông chuyển: lông chuyển trên bề mặt niêm mạc mũi
xoang vận động không ngừng trong lớp thảm nhầy. Đó là chuyển động tròn
của các lông chuyển theo chiều kim đồng hồ, mỗi lông sẽ tạo nên một sóng
kích thích đối với các lông bên cạnh làm cho nó chuyển động theo, sau đó các
lông căng ra và quét theo cùng một hướng tạo nên một làn sóng liên tục vận
chuyển chất nhầy. Độ đàn hồi và độ nhớt của lớp chất nhầy là hai yếu tố cơ
bản quyết định hoạt động lông chuyển .
- Hoạt động thanh thải: là một quá trình sinh lý cơ bản của niêm mạc mũi
xoang, nó chỉ hoạt động có hiệu quả khi có hoạt động của lông chuyển và một
thảm chất nhầy tương ứng. Có 3 yếu tố chính quyết định sự di chuyển bình
thường của chất nhầy, đó là số lượng, chất lượng dịch nhầy và vận động lông
chuyển [12,17]. Về lý thuyết, lớp sol quá mỏng hoặc ngược lại, quá dầy đến
12
mức các đầu mút của lông chuyển không tới được lớp gel, đều ảnh hưởng tới
hoạt động thanh thải. Ngoài ra, cấu trúc lông chuyển và chất lượng của lớp
niêm dịch quanh lông cũng ảnh hưởng đến quá trình di chuyển của dịch nhầy.
1.2.2.2. Sự thông khí và sự dẫn lưu bình thường của xoang.
Hai chức năng đảm bảo toàn bộ vai trò của xoang là sự thông khí và sự
dẫn lưu.
- Sự thông khí: bình thường của xoang liên quan đến hai yếu tố là kích
thước của lỗ thông mũi xoang và đường dẫn lưu của lỗ thông mũi xoang vào
hốc mũi.
- Sự dẫn lưu: bình thường của xoang nhờ sự phối hợp của hai chức năng:
tiết dịch và vận chuyển của tế bào lông chuyển. Dịch nhầy cùng các hạt dị vật
và vi khuẩn sẽ được vận chuyển từ trong xoang ra mũi qua các lỗ thông xoang
đầu vận chuyển từ thành trong của xoang, đi lên phía trên rồi dọc theo thân
của xoang trán ra phía sau và ra phía ngoài, rồi đi dọc theo thành trước và
thành sau của xoang để cùng hội tụ về lỗ thông xoang. Tuy vậy, chỉ có một
phần dịch thoát ra ngoài, phần còn lại đi qua lỗ thông xoang, đến thành trong
của xoang, để tiếp tục lặp lại chu trình vận chuyển trong xoang [20].
14
Hình 1.8. Sự vận chuyển niêm dịch các xoang trán, sàng, bướm [12].
* Vận chuyển niêm dịch trong xoang bướm.
Vận chuyển niêm dịch trong xoang bướm tùy thuộc vào lỗ thông của
xoang. Thông thường niêm dịch được vận chuyển theo đường xoáy trôn ốc mà
đỉnh đường xoáy là lỗ thông xoang bướm. Từ lỗ thông của xoang bướm, niêm
dịch đi xuống phía dưới để đổ vào ngách bướm sàng [20].
Hình 1.9. Sơ đồ thông khí - dẫn lưu - tự làm sạch của các xoang [20]
* Vận chuyển niêm dịch trên vách mũi xoang
Có hai con đường vận chuyển niêm dịch trên vách mũi xoang:
- Con đường thứ nhất: Dịch tiết từ xoang hàm, xoang trán và phức hợp
sàng trước tập trung ở phễu sàng hoặc ngay cạnh đó. Từ vùng này, dịch tiết vượt
15
qua phần sau mỏm móc, đi dọc theo mặt trong cuốn dưới, vượt qua phần trước
và dưới của loa vòi để đến vùng họng mũi.
- Con đường thứ hai: Dịch tiết từ xoang sàng sau và xoang bướm đổ ra rồi
hội tụ ở ngách bướm sàng. Từ đây dịch được vận chuyển qua phần sau trên của
loa vòi ra vùng họng mũi. Đôi khi có một dòng dịch tiết từ ngách trên đi xuống
gần đuôi cuốn giữa đổ vào con đường thứ nhất và thứ hai [20].
1.3. BỆNH HỌC VIÊM MŨI XOANG MẠN TÍNH.
1.3.1. Nguyên nhân.
1.3.1.1. Các nguyên nhân kinh điển.
Theo Parsons D [22] viêm mũi xoang do các nhóm nguyên nhân chính như sau:
- Trên phim CLVT ngoài hình ảnh mờ xoang còn có hình ảnh vách
xương của xoang dày.
- Trong phẫu thuật nội soi thấy bệnh tích xương dày, quá sản, đặc biệt
trong những trường hợp tái phát, mổ lại.
- Nghiên cứu của Kennedy [24] cho thấy:
+70% VMX mạn tính có tổn thương tiêu xương và tạo xương. VMX
mạn tính được xếp vào loại viêm xương tuỷ mạn tính (chronic osteomyelitis).
+ Tổn thương viêm xương bắt đầu từ rất sớm trong quá trình viêm xoang.
+ Viêm xương phối hợp với viêm niêm mạc làm cho điều trị viêm xoang
khó khăn và kéo dài.
1.3.2. Cơ chế bệnh sinh:
Parsons D [22] đã mô tả cơ chế bệnh sinh của VMXMT diễn ra qua ba bước:
Bước 1. Tắc lỗ thông mũi xoang
Sinh bệnh học đầu tiên có ý nghĩa nhất là sự phù nề niêm mạc quanh lỗ
thông tự nhiên, dẫn đến bít tắc lỗ thông xoang làm cho sự thông khí trong
xoang bị giảm, áp lực trong xoang giảm. Tình trạng thiếu oxy và giảm áp lực
17
trong xoang kéo dài dẫn đến hiện tượng viêm dày niêm mạc trong xoang, suy
yếu các tế bào biểu mô gây tăng xuất tiết và rối loạn chức năng hệ thống nhầy
lông chuyển.
Bước 2. Ứ đọng dịch trong xoang
Do hiện tượng phù nề và tăng xuất tiết niêm mạc, rối loạn chức năng hệ
thống lông nhầy dẫn đến mất chức năng dẫn lưu dịch trong xoang làm ứ đọng
dịch trong xoang
Bước 3. Viêm nhiễm trong xoang
Áp lực âm trong xoang tăng giúp mao dẫn vi khuẩn từ mũi vào trong
xoang. Độ quánh dịch tiết tăng làm tăng nguy cơ xâm nhập và phát triển của vi
trùng, vi khuẩn, virus và độc tính của chúng có thể phá hủy toàn bộ niêm mạc
mũi xoang. Các tế bào lông mất chức năng hoạt động nên không thể vận chuyển
được niêm dịch, các chất bẩn bị ứ lại có thể tạo thành mủ làm tăng thêm phản
+ Mệt mỏi, uể oải, giảm khả năng làm việc, không tập trung ảnh hưởng
đến sức làm việc trí óc.
1.3.3.2. Triệu chứng thực thể.
* Nội soi mũi xoang
- Tình trạng niêm mạc hốc mũi: Màu sắc có thể đỏ do viêm xung huyết,
màu tím do viêm mạn, nhợt nhạt do viêm dị ứng. Hình thái niêm mạc phù nề
mọng thoái hóa tạo thành polip hoặc sần sùi, xơ chắc do thoái hóa.
- Khe mũi giữa: quan sát dịch thấy dịch nhầy trong, dịch mủ nhày, mủ
vàng xanh đặc bẩn chảy ra, có thể thấy polip ở khe giữa.
Ngoài ra có thể quan sát thấy các thành phần trong khe giữa như:
+ Mỏm móc: bình thường hoặc niêm mạc phù nề xung huyết, quá phát
hoặc đảo chiều gây cản trở dẫn lưu.
+ Bóng sàng: có thể thấy niêm mạc phù nề thoái hóa hoặc quá phát.
19
- Khe sàng bướm: quan sát thấy mủ chảy xuống khe sàng bướm ra cửa
mũi sau.
- Vách ngăn: Bình thường vách ngăn thẳng, trường hợp có dị hình vách
ngăn thì có các hình thái sau: cong, vẹo sang bên, mào và gai vách ngăn.
- Cuốn giữa: niêm mạc nề mọng, xung huyết hoặc có thể thấy thoái hóa
polip, cong ngược đảo chiều chạm vào vách ngăn hoặc quá phát (nghi ngờ
bóng khí)
- Cuốn mũi dưới: co hồi kém, quá phát đuôi cuốn gây hẹp lối thông khí
ở cửa mũi sau.
- Soi vòm đánh giá tình trạng vòm mũi họng, cửa mũi sau.
* Chẩn đoán hình ảnh.
- Phim X-Quang kinh điển Blondeau, Hirtz:
+ Hình ảnh mờ đều hoặc không đều toàn bộ các xoang
+ Mất vách ngăn giữa các xoang sàng.
+ Hình ảnh mức dịch, mờ dày niêm mạc xoang.
- Phim CT Scan mũi xoang:
* Đánh giá sự thanh thải niêm lông( Saccharine Time Test ): Đặt tinh thể
Saccharine ở mũi trước (sau tiền đình 1cm) và tính thời gian cảm thấy vị ngọt.
Ở người bình thường, thời gian này không quá 12s. Thời gian kéo dài trên 20s
thể hiện sự rối loạn chức năng thanh thải niêm lông.
* Các thử nghiệm dị ứng và tế bào học mũi và các xét nghiệm vi sinh miễn
dịch học
- Các thử nghiệm dị ứng:
+ Thử nghiệm da bao gồm Prick –Tets ( tets lẩy da).
+ Thử nghiệm hấp thu bức xạ dị ứng RAST (Radio allergosorbent test).
21
+ Định lượng Ig E huyết thanh toàn phần.
+ Đếm số lượng tế bào ái toan trong máu.
- Xét nghiệm tế bào học mũi tìm bạch cầu ái toan.
- Lấy dịch mũi xoang xét nghiệm tìm vi khuẩn và nấm.
- Huyết thanh chẩn đoán miễn dịch.
* Đánh giá sự thông thoáng của hố mũi :
+ Đo khí áp mũi.
+ Đo kích thước mũi bằng sóng âm.
* Soi bóng mờ: Ngày nay ít dùng vì nó chỉ có giá trị trong một số bệnh lý
xoang trán và xoang hàm.
1.3.5. Điều trị.
1.3.5.1. Điều trị nội khoa
* Điều trị hỗ trợ
- Xịt rửa mũi: Bằng nước muối sinh lý 0,9% hoặc nước muối biển có tác
dụng làm sạch, thông thoáng mũi giảm phù nề, xung huyết, giảm ngạt mũi.
Làm tăng hiệu quả của các thuốc điều trị tại chỗ như steroid xịt mũi.
- Xông mũi: Hơi nóng ẩm với các chất tinh dầu cải thiện chức năng mũi,
sát khuẩn nhẹ, ngăn cản tình trạng khô niêm mạc và tạo vảy mũi.
* Điều trị bằng thuốc
- Kháng sinh: Các nhóm kháng sinh thường được sử dụng trong điều trị
Trung bình = VAS 3-7 : Khó chịu vừa.
Nặng = VAS 7-10 : Rất khó chịu.
1.4.2. Tiêu chuẩn chẩn đoán.
- Thời gian: Các triệu chứng kéo dài > 12 tuần.
- Cơ năng: 4 triệu chứng
+ Chảy mũi.
+ Ngạt tắc mũi.
+ Đau nhức sọ mặt.
+ Giảm hoặc mất ngửi.
23
Tiêu chuẩn chẩn đoán:
+ Có ít nhất 2 triệu chứng: trong đó phải có 1 triệu chứng chính là
ngạt tắc mũi hoặc chảy mũi.
+ Có thể có đau nhức sọ mặt hoặc giảm, mất ngửi.
- Thực thể: khe giữa có mủ hoặc/ và polyp hoặc/ và phù nề niêm mạc.
- Và/ hoặc CT Scan mũi xoang có mờ phức hợp lỗ ngách, mờ các xoang.
1.4.3. Hướng dẫn về điều trị VMXMT người lớn không có polyp mũi.
1.4.3.1. VMXMT có VAS 0->3 điểm.
• Triệu chứng:
- Các triệu chứng không gây khó chịu cho bệnh nhân.
- Niêm mạc mũi tổn thương mức độ nhẹ, khe giữa có ít dịch nhầy hoặc
bình thường.
• Điều trị:
- Rửa mũi.
- Steroids xịt mũi.
Khám lại sau 3 tháng điều trị :
- Nếu đáp ứng -> tiếp tục rửa mũi + steroids xịt mũi.
- Nếu không đáp ứng -> Kết hợp rửa mũi + steroids xịt mũi + kháng
sinh kéo dài.
1.4.3.2. VMXMT có VAS 3 -> 10 điểm.
thấp kéo dài.
25
1.4.4. Hướng dẫn lựa chọn kháng sinh trong điều trị [26,27].
- Lựa chọn đầu tiên là kháng sinh nhóm β Lactam.
- Nếu dị ứng nhóm β Lactam thì sẽ chọn nhóm Macrolide hoặc Quinolone.
- Nếu mủ có mùi hôi thối thì dùng nhóm Lincosamid, Nitroimidazon.
- Thời gian điều trị: 3 tuần nếu đáp ứng + 1 tuần nữa = 4 tuần.
- Điều trị kháng sinh liều thấp kéo dài (nhóm Macrolide ) khi:
+ IgE không cao trong máu (IgE < 100 UI/lit).
+ Thuốc lựa chọn là nhóm Macrolid:
Clarithromycin 250mg x 1 viên/ngày x 12 tuần.
1.4.5. Tiêu chuẩn đánh giá.
Đánh giá kết quả dựa vào mức độ kiểm soát các triệu chứng:
• Kết quả tốt (kiểm soát hoàn toàn các triệu chứng):
- Ngạt tắc mũi: Hết hoặc không còn gây khó chịu.
- Chảy mũi trước hoặc chảy mũi sau: Hết, nếu có thì còn ít và dịch nhầy trong.
- Đau nhức sọ mặt: không còn hoặc chỉ đau nhẹ không gây khó chịu.
- Ngửi: bình thường hoặc còn giảm ngửi nhẹ.
- Rối loạn giấc ngủ: không còn.
- Nội soi mũi: niêm mạc mũi bình thường hoặc còn xung huyết rất nhẹ.
• Kết quả trung bình (kiểm soát không hoàn toàn các triệu chứng).
- Ngạt tắc mũi: Giảm nhiều tuy nhiên vẫn còn một số ngày trong tuần.
- Chảy mũi trước hoặc mũi sau: Giảm tuy nhiên bệnh nhân còn khịt khạc
hầu hết các ngày trong tuần.
- Đau nhức sọ mặt: Giảm hoặc còn đau mức độ nhẹ.
- Rối loạn ngửi: còn giảm ngửi hoặc mất ngửi.
- Rối loạn giấc ngủ: còn rối loạn giấc ngủ.
- Nội soi mũi: niêm mạc còn phù nề hoặc xung huyết nhẹ, khe giữa sạch
hoặc có thể có ít mủ nhầy.
• Kết quả xấu (Không kiểm soát được các triệu chứng)