LỜI MỞ ĐẦU
Thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI về phát triển kinh tế
nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế theo định hướng xã hội chủ nghĩa;
Nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VII, VIII về công nghiệp hoá hiện, đại hoá
đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã tiến hành cải cách
thuế bước I (1990- 1995) và cải cách thuế bước II (1996 đến nay). Qua hai
cuộc cải cách thuế, chúng ta đã hình thành được một hệ thống chính sách
thuế bao quát được hầu hết các nguồn thu của đất nước và luôn được sửa
đổi,bổ sung hoang thiện kịp thời phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã
hội của đất nước; đã trở thành công cụ của Đảng và Nhà nước điều tiết vĩ
mô nền kinh tế theo hướng khuyến khích đầu tư, khuyến khích xuất khẩu,
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển sản xuất kinh doanh và chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế.Hệ thống quản lý thuế đã được xây dựng và
không ngừng được kiện toàn, đảm bảo thực thi tốt và thống nhất các luật
thuế trong cả nước.Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý thuế ngày càng
được nâng cao.
Tổ chức bộ máy quản lý thuế có vai trò quyết định đến toàn bộ hệ thống
thuế. Bộ máy quản lý thuế được tổ chức hợp lý, thực hiện đầy đủ các chức
năng quản lý thuế thì sẽ phát huy được tối đa hiệu lực của toàn bộ hệ thống
thuế và hiệu quả quản lý sẽ cao.Ngược lại, một cơ cấu tổ chức quản lý không
phù hợp sẽ kìm hãm, làm suy yếu tổ chức và hạn chế tác dụng của bộ máy.
Vì vậy việc nghiên cứu kiện toàn bộ máy quản lý đáp ứng yêu cầu
hiện đại hoá quản lý thuế có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao.
1
Với sự hiểu biết và nhận thức còn hạn chế, em xin trình bày những
hiểu biết và nhận thức của mình về vấn đề: "Kiện toàn tổ chức bộ máy
quản lý thuế đáp ứng yêu cầu cải cách và hiện đại hoá ngành thuế." Em
xin chân thành cảm ơn sự nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo của thầy cô giáo đã
giúp đỡ em trong quá trinh nghiên cứu. Em cũng xin chân thành cảm ơn
thư viện nhà trường đã cung cấp tư liệu cho bài viết.
PHẦN NỘI DUNG
thuộc cơ quan thuế các cấp trực tiếp hay gián tiếp thực hiện chức năng
quản lý thuế và mối quan hệ giữa chúng), đội ngũ cán bộ, công chức thuế
và các cơ quan khác có liên quan đến công tác thuế theo quy định của pháp
luật... Trong đó, cơ cấu tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ thuế (gọi chung
là bộ máy quản lý thuế) là bộ phận cực kỳ quan trọng trong hệ thống quản
lý thuế.
*/Tổ chức bộ máy quản lý thuế:
Là một khâu quan trọng trong công tác quản lý thuế, bao gồm việc
xác định cơ cấu tổ chức bộ máy và phân bổ nguồn nhân lực một cách hợp
lý, nhằm xây dựng hệ thống quản lý thuế khoa học, phù hợp, đảm bảo tính
3
thống nhất, thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các chức năng quản lý thuế nhằm
thực thi chính sách, pháp luật thuế một cách nghiêm chỉnh, bảo đảm thu
đúng, đủ kịp thời tiền thuế vào NSNN.
1.1.2/ Vai trò của tổ chức bộ máy quản lý thuế:
- Con người luôn là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại
trong mọi lĩnh vực quản lý. Trong bộ máy quản lý thuế, đội ngũ cán bộ
công chức thuế là bộ phận quan trọng, góp phần vào việc xây dựng hệ
thống chính sách thuế phù hợp, khoa học minh bạch và quyết định để đề
xuất, áp dụng các phương pháp, quy trình và các biện pháp nghiệp vị quản
lý thuế hợp lý, khoa học bảo đảm tính tiên tiến, hiện đại, đạt hiệu quả kinh
tế cao.
- Bộ máy quản lý thuế có vai trò quyết định đến toàn bộ hệ thống
thuế.Bộ máy quản lý thuế được tổ chức hợp lý, thực hiện đầy đủ chức năng
quản lý thuế thì sẽ phát huy được hiệu lực của toàn bộ hệ thống thuế và
hiệu quả quản lý sẽ cao. Ngược lại, một cơ cấu tổ chức quản lý không phù
hợp sẽ kìm hãm, làm suy yếu tổ chức và hạn chế tác dụng của bộ máy.
1.2/ Cơ sở khoa học để tổ chức bộ máy quản lý thuế:
Cơ sở khoa học để tổ chức bộ máy quản lý thuế là những căn cứ về lý
luận đã được đúc kết và các cơ sở thực tiễn của quốc gia có ảnh hưởng, tác
tắc quản lý hành chính nhà nước.Vì vậy,cơ cấu tổ chức của hệ thống thuế
được tổ chức theo 3 cấp:Cấp Trung ương(có tổng cục thuế);Cấp tỉnh,Thành
phố trực thuộc trung ương(có cục thuế tỉnh,Thành phố);Cấp quận,huyện(có
chi cục thuế quận, huyện).Riêng cấp xã,không có tổ chức cơ quan thuế độc
lập mà chỉ tổ chức bộ phận quản lý thuế thuộc chi cục thuế quận,
huyện.Công tác thuế cũng gắn chặt và phục vụ hoạt động của chính quyền
địa phương.
1.2.2/ Chức năng,nhiệm vụ,quyền hạn của cơ quan Thuế các cấp:
Mục tiêu của việc tổ chức bộ máy quản lý thuế là nhằm xác định và
phân chia các chức năng và quyền hạn quản lý thuế một cách hợp lý,trên cơ
sở đó hình thành các bộ phận, các đơn vị thuộc cơ quan thuế các cấp đẻ
thực hiện đầy đủ,có hiệu quả các chức năng,nhiệm vụ quản lý thuế,bảo đảm
pháp luật thuế được thực thi một cach nghiêm chỉnh,cơ quan thuế hoàn
thành nhiêm vụ động viên ngân sách nhà nước.Cơ cấu tổ chức bộ máy quản
lý thuế các cấp:Trung ương,Tỉnh,Huyện phải được xác định phù hợp với
chức năng,nhiệm vụ,quyền hạn và yêu cầu công tác quản lý thuế ở từng
cấp,bảo đảm sự chỉ đạo thông suốt,thống nhất trong cả nước.
- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan thuế các cấp được
nhà nước quy định tại các văn bản pháp quy hiện hành (Quyết định
218/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính Phủ; Quyết định 189/2003/QĐ-
BTC của Bộ trưởng bộ Tài chính; Quyết định 1682QĐ/TCT-TCCB của
Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế). Cơ quan thuế các cấp đều có chung chức
năng cơ bản là quản lý thu thuế và thu khác vào ngân sách Nhà nước. Tuy
nhiên, ở mỗi cấp khác nhau thì nhiệm vụ của cơ quan thuế lại được quy
6
định khác nhau. Cơ quan Tổng cục thuế có nhiệm vụ quản lý toàn diện việc
thực hiện công tác thu thuế và thu khác thống nhất trong cả nước; đề xuất
các quy trình, biện pháp quản lý thuế phù hợp và chỉ đạo thực hiện trong
toàn ngành. Ngoài ra, còn có nhiệm vụ tham gia với Bộ tài chính trong
công tác xây dựng chính sách thuế. Hiện nay, Tổng cục thuế không có chức
nợ, chức năng khởi tố điều tra các vụ vi phạm về thuế lớn. Vì vậy, cần phải
hoàn thiện các chức năng quản lý này.Khi được nhà nước giao một cách
đầy đủ các chức năng này thì cơ quan thuế các cấp phải thực hiện các bộ
phận độc lập để thực hiện.
1.2.3/ Chính sách thuế và quy trình nghiệp vị quản lý thuế:
- Tổ chức bộ máy quản lý thuế là nhằm mục tiêu tổ chức thực thi tốt
các chính sách thuế hiện hành, đồng thời có xem xét đến xu hướng phát
triển và hoàn thiện hệ thống chính sách thuế hiện hành cũng như hệ thống
quản lý thuế trong tương lai. Khi chính sách thuế thay đổi, nhiệm vụ quản
lý thuế ngày càng tăng, đòi hỏi bộ máy quản lý của cơ quan thuế cũng phải
được kiện toàn, đổi mới phù hợp đáp ứng các yêu cầu của công tác quản lý.
- Quy định quản lý thuếlà căn cứ quan trọng để tổ chức bộ máy quản
lý thuế (số lượng các bộ phận, cơ cấu, năng lực từng bộ phận phải được xác
8
định phù hợp với phương pháp quản lý thuế, bảo đảm thực hiện đầy đủ quy
trình nghiệp vụ, từng khâu quản lý thuế và bảo đảm hiệu quả kinh tế cao.
Trước đây, khi số lượng đối tượng nộp thuế chưa nhiều, loại hình sản
xuất và quản lý kinh doanh còn thấp, công tác quản lý thuế được thực hiện
theo quy trình chuyên quản khép kín, tổ chức bộ máy của cục thuế được tổ
chức thành các phòng chuyên quản đối với từng đối tượng nộp thuế theo
ngành nghề là hoàn toàn phù hợp. Song cùng với xu hướng phát triển của
nền kinh tế, đối tượng nộp thuế cũng ngày càng phát triển nhanh cả về số
lượng và chất lượng, trình độ sản xuất và kinh doanh cũng ngày càng nâng
cao, trình độ quản lý ngày càng phức tạp, đòi hỏi công tác quản lý thuế
ngày cũng ngày càng phải hoàn thiện hơn. Sự tăng lên của đối tượng nộp
thuế đến mức độ nhất định, cơ chế quản lý thuế cũ theo phương pháp
chuyên quản khép kín thủ công đã nảy sinh những bất cập trong quản lý,
đòi hỏi cơ quan thuế phải nghiên cứu, đổi mới quy trình, biện pháp quản lý,
áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến, thay quản lý chuyên quản bằng
quản cơ chế quản lý thuế tách 3 bộ phận độc lập và cơ chế này được hoàn
quy mô của đối tượng nộp thuế nhỏ nên tổ chức bộ máy quản lý thuế
thường gọn nhẹ hơn.
10
Để xây dựng được cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thuế phù hợp, hiệu
lực và hiệu quả, trong quá trình nghiên cứu hoàn thiện tổ chức bộ máy quản
lý của cơ quan thuế các cấp, cần kết hợp tất cả các yếu tố nêu trên.
1.3/ Một số mô hình tổ chức quản lý thuế trên thế giới:
Mô hình tổ chức quản lý thuế là khái quát bộ máy quản lý thuế theo
một nguyên tắc cơ bản nhất, bao trùm và chi phối việc xác định số lượng
các bộ phận, chức năng, nhiệm vụ quản lý thuế của từng bộ phận trong cơ
cấu tổ chức. Các nhà nghiên cứu chính sách và quản lý thuế đã tổng kết các
mô hình tổ chức quản lý thuế đã được các nước trên thế giới áp dụng và
đánh giá các mô hình như sau:
1.3.1/ Mô hình quản lý thuế theo sắc thuế:
Là mô hình lấy việc quản lý theo sắc thuế là nguyên tắc bao trùm.
Theo đó, cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận (gọi chung là phòng) quản lý
một hoặc một số loại thuế cụ thể (VD: Phòng thuế thu nhập; phòng thuế
GTGT; thuế TTĐB.. ) Đặc điểm cơ bản của mô hình này là mỗi phòng thực
hiện tất cả các chức năng để quản lý các loại thuế mà phòng đó chịu trách
nhiệm.
Ưu điểm:
- Tạo điều kiện để chuyên sâu quản lý từng sắc thuế cụ thể, hiểu rõ
phương pháp quản lý sắc thuế một cách hiệu quả nhất, cho phép từng
phòng tự phát triển các chương trình chuyên sâu phù hợp nhất theo yêu cầu
quản lý của từng sắc thuế.
11
- Phản ứng kịp thời với những thay đổi của luật thuế hay những biện
pháp quản lý đối với từng sắc thuế (chỉ phải thay đổi thay đổi trong một
phòng quản lý sắc thuế đó), đặc biệt là khi có sắc thuế mới phát sinh.
- Mô hình này thuận lợi và phù hợp với các nước có môi trường tài
đối tượng nôpl thuế.
- Tạo điều kiện thực hiện phương pháp quản lý và phân bổ nguồn
nhân lực phù hợp với những rủi ro về quản lý thuế đối với các nhóm đối
tượng nộp thuế khác nhau, tạo ra sự an toàn cho cho việc thu ngân sách. Ví
dụ phòng quản lý các đối tượng nộp thuế lớn thường được bố trí những cán
bộ có năng lực, có trình độ và kinh nghiệm quản lý cao nhằm giám sát chặt
một số đối tượng có số thu lớn. Sự sắp xếp này nhằm tạo ra những biện
pháp quản lý phù hợp với một nhóm đối tượng nộp thuế đặc biệt, nâng cao
hiệu quả quản lý đối với các nguồn thu lớn của Ngân sách nhà nước.
- Tạo căn cứ để quy trách nhiệm rõ ràng đối với từng bộ phận quản lý
trong trường hợp xẩy ra thất thu thuế hoặc không hoàn thành nhiệm vụ thu
ngân sách. Ví dụ: khi xảy ra thất thu thuế ở một loại doanh nghiệp hoặc
một ngành nghềnào đó thì có thể quy ngay trách nhiệm thuộc phòng nào.
Nhược điểm:
- Không đáp ứng được yêu cầu quản lý thuế khi số lượng và quy
mô của đối tượng nộp thuế thường xuyên ra tăng, loại hình sản xuất kinh
doanh ngày càng đa dạng, phức tạp, phạm vi hoạt động kinh doanh ngày
càng rộng và trên nhiều lĩnh vực thuộc nhiều hình thức sở hữu khác nhau.
- Dễ xảy ra sự không thống nhất trong việc chỉ đạo các luật thuế,
các biện pháp quản lý của cùng một săc thuế nhưng đối với các đối tượng
14
nộp thuế khác nhau, tạo ra sự không công bằng về thuế giữa các đối tượng
về thuế.
- Chi phí quản lý cao do mỗi bộ phòng đều phải thực hiện đầy đủ
các chức năng quản lý đối với nhóm đối tượng nộp thuế do phòng quản lý.
- Dễ dẫn đến quản lý chuyên quản khép kín, móc ngoặc, tham
nhũng, tiêu cực nếu không có sự giám sát chặt chẽ, kiểm tra thường xuyên.
1.3.3/ Mô hình tổ chức bộ máy theo chức năng:
Là mô hình chức năng c\quản lý thuế làm nguyên tắc bao trùm. Theo
đó, cơ cấu tổ chức bao gồm các bộ phận thực hiện một hoặc một số chức
quản lý thuế trên nhiều nước trên thế giới áp dụng mô hình quản lý thuế kết
hợp các nguyên tăc quản lý theo chức năng, theo nhóm đối tượng và theo
sắc thuế, trong đó xác định một nguyên tắc bao trùm. Thông thường có một
số hình thức kết hợp sau (trong đó nguyên tắc đàu tiên là nguyên tắc bao
trùm) :
- Sắc thuế - chức năng – quy mô đối tượng.
16
- Chức năng – quy mô đối tượng- sắc thuế.
- Đối tượng (quy mô ngành nghề)- chức năng- sắc thuế.
Trong 3 hình thức kết hợp trên hình thức thứ 2 và thứ 3 thường được
áp dụng vì có ưu điểm hơn cả.
17