Lạm phát với nền kinh tế thị trường - Pdf 23

Lạm phát và kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
Lời Nói đầu
Hiện nay, nền kinh tế của toàn thế giới có nhiều sự thay đổi, các quốc gia
dần chuyển mình để hoà nhập với xu thế toàn cầu hoá. Cùng với sự phát triển của
nền kinh tế có nhiều vấn đề bất cập xảy ra. Một trong những vấn đề luôn song
hành với nền kinh tế đặc biệt là với thị trờng tài chính tiền tệ là lạm phát. Lạm
phát là một trong những vấn đề kinh tế vĩ mô đã trở thành mối quan tâm lớn nhất
của các nhà chính trị và của cả công chúng. Lạm phát đợc coi nh là một căn bệnh
thế kỉ của nền kinh tế thị trờng, nó là một vấn đề hết sức phức tạp đòi hỏi phải có
sự đầu t lớn về thời gian và trí tuệ mới có thể đạt đợc kết quả khả quan nhất. Lạm
phát ảnh hởng đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đặc biệt là giới lao động,chống
lạm phát không chỉ là việc của doanh nghiệp, của một cá nhân mà còn là nhiệm vụ
của chính phủ.
ở Việt Nam,hiện nay về việc kiềm chế lạm phát, giữ vững sự phát triển ổn
định của nền kinh tế là một mục tiêu quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã
hội, nâng cao đời sống nhân dân.
Thật vậy, vấn đề lạm phát đã đợc nhiều ngời quan tâm, nghiên cứu và cũng đa ra
phơng pháp khắc phục nhằm kiểm soát đợc lạm phát. Từ lâu, tiền giấy xuất hiện
và sau một thời gian sẽ diễn ra tình trạng giảm giá tiền và dẫn đến lạm phát. Nét
đặc trng cơ bản nền kinh tế thị trờng khi có lạm phát là giá cả của hầu hết các
hàng hoá đêù tăng cao và sức mua của đồng tiền ngày càng giảm nhanh.
Nhìn lại lịch sử lạm phát, từ cuối thế kỉ 19 đến đầu thế kỉ 20 ở nớc ta lạm phát
diễn ra kéo dài và nghiêm trọng. Lạm phát đã phá vỡ toàn bộ kế hoạch của nền
kinh tế, phơng hại đến tất cả các mối quan hệ trong nền kinh tế xã hội.
1
Lạm phát và kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
Phần I :Lý thuyết chung về lạm phát
1- Các khái niệm về lạm phát
Lạm phát là một phạm trù vốn có của nền kinh tế thị trờng, nó xuất hiện khi
các yêu cầu của các quy luật kinh tế hàng hoá không đợc tôn trọng, nhất là quy
luật lu thông tiền tệ. ở đâu còn sản xuất hàng hoá, còn tòn tại những quan hệ hàng

CPI (Consumer Price Index). CPI tính chi phí của một giỏ hàng tiêu dùng và dịch
vụ trên thị trờng. Để tính CPI, ta dựa vào tỷ trọng của phần chi cho từng mặt hàng
trong tổng chi tiêu cho tiêu dùng của thời kì có lạm phát.
+ Một chỉ số nữa thờng đợc sử dụng là chỉ số giá cả sản xuất (PPI: Producer
Price Index), đây là chỉ số giá bán buôn. PPI dùng để tính giá cả trong lần bán đầu
tiên do ngời sản xuất ấn định
Ip = ip.d
ip:chỉ số giá của từng loại nhóm hàng
d:tỷ trọng mức tiêu dùng của từng loại hàng
+Ngoài 2 chỉ số trên, chỉ số GNP cũng đợc sử dụng. Đây chính là chỉ số
giảm phát, chỉ số giá cả cho toàn bộ NGP :chỉ số giảm phát GNP = GDP danh
nghĩa / GDP thực tế.
2) Phân loại lạm phát
Có nhiều cách đẻ phân loại lạm phát. Dựa trên các tiêu thức khác nhau sẽ có
các loại lạm phát khác nhau.
a) Căn cứ vào định lợng gồm:
- Lạm phát vừa phải :Còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dới
10% một năm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến động tơng đối. Trong
thời kì này nền kinh tế hoạt động một cách bình thờng, đời sống của ngời lao
động ổn định. Sự ổn định đó đợc biểu hiện : Giá cả tăng chậm, lãi xuất tiền gửi
không cao, không xảy ra tình trạng mua bán và tích trữ hàng hoá với số lợng
lớn
Có thể nói đây là mứclạm phát mà nền kinh tế chấp nhận đợc, những tác động
của nó là không đáng kể. Mặt khác, lạm phát vừa phải tạo tâm lý an tâm cho
ngời lao động chỉ trông chờ vào thu nhập. Trong thời gian này, các hãng kinh
3
Lạm phát và kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
doanh có khoản thu ổn định, ít rủi ro và sẵn sàng đầu t cho sản xuất kinh
doanh.
- Lạm phát phi mã : lạm phát xảy ra khi giá cả tăng tơng đối nhanh với tỷ lệ 2

dân đã quen với tình trạng lạm phát đó và đã có sự chuẩn bị trớc.Do đó
không gây ảnh hởng đến đời sống, đến kinh tế.
* Lạm phát bất thờng: xảy ra đột biến mà có thể từ trớc cha xuất hiện. Loại
lạm phát này ảnh hởng đến tâm lý, đời sống ngời dân vì họ cha kịp thích
nghi. Từ đó mà loại lạm phát này sẽ gây ra biến động đối với nền kinh tế và
niềm tin của nhân dân vào chính quyền có phần giảm sút
Trong thực tế lịch sử của lạm phát cho thấy lạm phát ở nớc ta đang phát
triển thờng diễn ra trong thời gian dài, vì vậy hậu quả của nó phức tạp và
trầm trọng hơn. Và các nhà kinh tế đã chia lạm phát thành 3 loại với tỷ lệ
khác nhau : lạm phát kinh liên kéo dài trên 3 năm với tỷ lệ lạm phát dới
50% một năm, lạm phát nghiêm trọng thờng kéo dài hơn 3 năm với tỷ lệ
lạm phát trên 50% và siêu lạm phát kéo dài trên một năm với tỷ lệ lạm phát
trên 200% một năm.
3) Tác Động của lạm phát :
Lạm phát có nhiều loại,cho nên cũng có nhiều mức độ ảnh hởng của lạm
phát đối với nền kinh tế. Xét trên góc độ tơng quan, trong một nền kinh tế lạm
phát là một nỗi lo của toàn xã hội và ta cũng thấy đợc các tác động của nó.
a) Tác động đến lĩnh vực sản xuất :
ở vị trí các nhà sản xuất, khi tỷ lệ lạm phát cao sẽ làm cho giá đầu vào và
đầu ra biến động không ngừng gây ra sự ổn định giả tạo của quá trình sản xuất. Sự
mất giá của đồng tiền làm cho vô hiệu hoá hoạt động hoạch toán kinh doanh. Hiệu
quả sản xuất kinh doanh ở một vài doanh nghiệp có thể thay đổi gây ra những
biến động về kinh tế. Nếu một doanh nghiệp nào đó có tỷ xuất lợi nhuận thấp hơn
lạm phát sẽ có nguy cơ phá sản rất lớn.
Tuy nhiên, xét ở góc độ nào đó, khi tỷ lệ lạm phát thấp, không gây ảnh hởng
đến kinh tế thì có thể sẽ kích thích tăng trởng kinh tế. Từ đó sẽ khuyến khích các
doanh nghiệp đi vay để mở rộng sản xuất, sản lợng sẽ tăng lên. Ngoài ra cũng
khuyến khích tiêu dùng, cầu tiêu dùng tăng lên, do đó hàng hoá bán chạy và cũng
làm sản lợng tăng.
5

Lạm phát và kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
làm cho thị trờng bị rối loạn. Khi đó ngời ta khó phân biệt đợc những doanh
nghiệp làm ăn tốt và kém. Đồng thời làm cho nhà nớc thiếu vốn, các khoản thu
cho ngân sách nhà nớc không tăng. Do đó, nhà nớc không còn đủ sức cung cấp
tiền cho các khoản dành cho phúc lợi xã hội, các nghành, các lĩnh vực dự định đợc
chính phủ đầu t hỗ trợ vốn bị thu hẹp lại hoặc không có gì. Một khi ngân sách nhà
nớc bị thâm hụt thì các mục tiêu cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ
không có điều kiện để thực hiện.
4) Nguyên nhân gây ra lạm phát :
a) Lạm phát do cầu kéo:
Đây chính là sự mất cân đối trong quan hệ cung cầu. Nguyên nhân chính là
do tổng cầu tăng quá nhanh trong khi tổng cung không tăng hoặc tăng không kịp.
Việc tăng cung ứng tiền tệ là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc tăng cầu về
hàng hoá và dịch vụ. Nhng đây không phải là nguyên nhân duy nhất làm tăng cầu.
áp lực lạm phát sẽ tăng sau từ 1 đến 3 năm, nếu cầu về hàng hoá vợt quá mức
cung, song sản xuất vẫn không đợc mở rộng hoặc do sử dung máy móc với công
suất giới hạn hoặc vì nhân tố sản xuất không đáp ứng đợc sự ra tăng của cầu. Sự
mất cân đối sẽ đợc giá cả lấp đầy từ đó mà lạm phát do cầu tăng lên (lạm phát do
cầu kém xuất hiện. Chẳng hạn nh ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc là một chỉ số
có ích phản ánh lạm phát trong tơng lai ở Mỹ, sử dụng công suất máy móc trên
83% dẫn tới lạm phát tăng.
7
Lạm phát và kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
(Tổng mức giá)
AS
3

P AS
2
P3 3

8
Lạm phát và kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
lên. Nếu nhà sản xuất có thể chuyển việc tăng chi phí này cho ngời tiêu dùng thì
giá bán sẽ tăng lên, công nhân và các công đoàn sẽ yêu cầu tiền lơng cao hơn trớc
đẻ phù hợp với chi phí sinh hoạt tang lên điều đó tạo vòng xoáy lợng giá.
Một yếu tố chi phí khác là giá cả nguyên nhiên vật liệu tăng do tỷ giá tăng
hợac khả năng khả thác hạn chế.Một ví dụ điển hình cho thấy giá cả nguyên
nhiên vật liệu là giá dầu thô tăng. Trong năm 1972-1974 hầu nh giá dầu quốc tế
tăng 5 lần dẫn đến lạm phát tăng từ 4,6% đến 13,5% bình quân trên qoàn thế giới.
Ngoài ra sự suy sụp của giá dầu (1980) làm cho lạm phát giảm xuống mức thấp
cha từng thấy.
Bên cạnh đó giá cả nhập khẩu cao hơn đợc chuyển cho ngời tiêu dùng nội
địa cũng là một yếu tố gaay lên lạm phát. Nhập khẩu càng trở lên đắt đỏ khi đồng
nội tệ yếu đi hợac mất giá so với đồng tiền khác
ASRL ASSL
P

P
1
E
1

AD
1
P
0
E
0

AD

P0
E1
AD
ASLR
ASSR1
ASSR2
Lạm phát và kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học thuộc phía tiền tệ, khi cung tiền tệ
tăng lên kéo dài làm cho mức giá tăng lên kéo dài và gây ra lạm phát. Có thể thấy
ngỡng tăng cung tiền để gây lạm phát là nền kinh tế toàn dụng. Khi nền kinh tế
cha toàn dụng thì nguồn nguyên nhiên vật liệu còn nhiều, cha khai thác nhiều.
Có nhiều nhà máy xí nghiệp bị đóng cửa cha đi vào hoạt động. Do đó nhân viên
nhàn rỗi lớn và tỷ lệ thất nghiệp cao Trong tr ờng hợp này, khi tăng cung tiền thì
dẫn đến lãi xuất giảm đến một mức độ nào đó, các nhà đầu t thấy rằng có thể có
lãi và đầu t tăng nhiều.từ đó các nhà máy, xí nghiệp mở cửa để sản xuất, kinh
doanh. Lúc này nguyên nhiên vật liệu bắt đầu đợc khai thác, ngời lao động có việc
làm và sản lợng tăng lên.
ở nền kinh tế toàn dụng, các nhà máy, xí nghiệp đợc hoạt động hết công
suất, nguồn nguyên nhiên vật liệu đợc khai thác tối đa. Khi đó lực lợng lao động
đợc sử dụng một cách triệt để và làm sản lợng tăng lên rất nhiều. Tuy nhiên tình
hình sẽ dẫn đến một vài kênh tắc nghẽn trong lu thông. Chẳng hạn khi các nhà
máy, xí nghiệp hoạt động hết công suất sẽ dẫn đến thiếu năng lợng, thiếu lao
động, nguyên vật liệu dần bị han hiếm Vai trò của chính phủ và các nhà quản
lý phải xác định đợc kênh lu thông nào bị tắc nghẽn và tìm cách khơi thông nó.
Nếu không sẽ gây ra lạm phát.Lúc đó sản lợng không tăng mà giá cả tăng nhiều
thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra.
Trong việc chống lạm phát các Ngân hàng trung ơng luôn giảm sút việc
cung tiền.
Trờng hợp tăng cung tiền có thể đạt đợc bằng hai cách :
Ngân hàng trung ơng in nhiều tiền hơn (khi lãi xuất thấp và điều kiện kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status