Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
rong thời đại khoa học công nghệ đang ngày càng phát triển vượt bậc, với sự ra
đời của các dịch vụ điện thoại di động, internet, tryền hình kỹ thuật số với
nhiều chức năng ứng dụng rất phổ biến và cần thiết trong đời sống sinh hoạt cũng như
lao động của con người. Giống như các dịch vụ 2G và thị trường di động phát triển
nhanh như hiện nay, giới chuyên gia cũng đang kỳ vọng vào một “làn gió mới” 3G
sôi động hơn nhiều. Với 65% dân số trẻ dưới 30 tuổi, phù hợp với đặc thù dịch vụ 3G,
các chuyên gia cho rằng, 3G chắc chắn sẽ thành công tại Việt Nam. Cơ hội để triển
khai 3G tại Việt Nam đã chín muồi. Nó dựa trên những điều kiện cần và đủ như: bề
dày những thử nghiệm, trải nghiệm và kinh nghiệm của công nghệ này trên thế giới,
giá cả thiết bị hạ tầng và thiết bị đầu cuối đã giảm ở chặng đường cuối để tương đối
phù hợp với điều kiện sống của người dân Việt Nam, thị trường di động và Internet
Việt Nam đã phát triển đến một mức nhất định…
T
Tốc độ phát triển nhộn nhịp của 3G đã nảy sinh yêu cầu về trình độ hiểu biết
về các dịch vụ cải tiến đó đối với các doanh nhân hay các nhà trí thức thời đại mới,
đặc biệt là lớp trẻ sinh viên. Là những người chủ tương lai của nước nhà, để có thể bắt
kịp thời đại, tiếp cận với công nghệ mới, sinh viên cần nâng cao trình độ hiểu biết và
nhu cầu về sử dụng dịch vụ 3G. Trường Đại học kinh tế Huế là trường đào tạo về các
ngành liên quan đến lĩnh vực kinh doanh, là lĩnh vực mà việc nắm bắt thông tin là cực
kỳ quan trọng và cần thiết. Theo chúng em, dịch vụ 3G rất có ích cho sinh viên kinh
tế trong việc tìm hiểu các thông tin về lĩnh vực kinh tế-xã hội một cách nhanh chóng
và tiện lợi. Sử dụng 3G sẽ giúp các sinh viên kinh tế năng động hơn. Tuy nhiên phần
lớn sinh viên hầu như vẫn chưa làm được điều này. Một bộ phận lớn trong sinh viên
vẫn mơ hồ chưa hiểu thế nào là dịch vụ 3G, ích lợi của nó ra sao, cũng như cách sử
1
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
3.2Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Nghiên cứu tại trường đại học kinh tế Huế, cụ thể là sinh
viên K42 ngành QTKD
2
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
+ Về thời gian: Các số liệu thu thập trong quá trình nghiên cứu từ tháng
03/2010 đến nửa đầu tháng 05/2010
4.Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài: Khảo sát nhu cầu của sinh viên khoá 44QTKD về
dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH Kinh tế Huế” nhóm đã được tiếp cận
kiến thức từ học phần phương pháp nghiên cứu trong kinh doanh, kinh tế lượng và
nguyên lý thống kê để áp dụng các phương pháp luận khoa học đó trong qua trình
nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu nhóm sử dụng chủ yếu phương pháp thống
kê mô tả, so sánh mối liên hệ giữa các biến định tính do một vài nguyên nhân nên
nhóm đã không sử dụng phương pháp kiểm định để có thể làm rõ hơn nhưng các
phương pháp trên cũng đã dựa trên sự phù hợp về khả năng, dễ tiến hành cũng như
điều kiện của nhóm thực hiện đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu nhóm đã trải qua 5 bước chính cụ thể như sau:
Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu
Bước 2: Lựa chọn mô hình nghiên cứu
Bước 3: Quá trình thu thập dữ liệu
Bước 4: Phân tích xử lý dữ liệu
Bước 5: Đánh giá nghiên cứu
Dựa trên thiết kế 5 bước tiến hành này đã giúp cho nhóm phát hiện được vấn
đề và thu thập được các dữ liệu cần thiết trong quá trình phần tích của đề tài. Cụ thể
nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập từ bảng hỏi điều tra cụ thể như sau về phần thiết
kế cỡ mẫu nhóm đã xác định tổng thể mục tiêu nghiên cứu là các bạn sinh viên khóa
42 khoa QTKD trường ĐHKT Huế với số lượng 360 sinh viên trong khuôn khổ đề tài
và điều kiện cho phép nhóm đã chọn 120 mẫu tương ứng với 120 người được điều tra.
quê quán của đối tượng điều tra.
Ngoài ra còn kết hợp phương pháp phân tích số liệu trên SPSS và phần mềm kế
toán Exel, việc giải thích các kết quả nghiên cứu cũng được thực hiện rất cơ bản và
dễ hiểu để nhằm phục vụ cho nhiều đối tượng có thể tiếp cận được với đề tài.
4
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
PHẦN II
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương I
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1. Dẫn nhập
Việt Nam là một quốc gia đang ngày càng có tốc độ phát triển, tăng trưởng
mạng di động rất cao. Theo số liệu tại một cuộc triển lãm về công nghệ viễn thông ở
Singapore, 2 hãng điện thoại Samsung và Nokia cho biết, tốc độ tăng trưởng về điện
thoại di động trên thế giới hiện đạt khoảng 50%/năm, riêng Việt Nam, một quốc gia
đang phát triển đạt tốc độ tăng trưởng cao nhất 150%/năm (Theo nguồn Vietbao.vn).
Điều này cho thấy rằng các mạng di động ở Việt Nam đang đứng trước cơ hội rất lớn
trong việc khai thác các dịch vụ mạng của mình đặc biệt là với sự ra đời của thế hệ
mạng di động với dịch vụ mới mạng 3G sẽ tạo nên sức hút lớn hơn đối với khách
hàng. Bên cạnh đó cũng xuất phát từ yêu cầu làm đề tài của bộ môn học phần phương
pháp nghiên cứu trong kinh doanh nên nhóm đã quyết định nghiên cứu đề tài “Đánh
giá phân tích nhu cầu sử dụng dịch vụ mạng di động 3G của sinh viên K42 tại trường
ĐHKT Huê”. Trong suốt quá trình một tháng nhóm đã tiến hành lập đề cương chi tiết,
xây dựng bảng hỏi rồi tiến hành phát phiểu điều tra cho đối tượng nghiên cứu là các
bạn sinh viên khóa 42 đang học tại trường ĐHKT Huế nhờ đó mà có cách nhìn đầy
đủ mà xác thực hơn để đánh giá một phần nào về nhu cầu sử dụng dịch vụ mạng 3G
của các bạn sinh viên khóa 42 trường ĐHKT Huế. Như vậy các thông tin thu được từ
hoạt động điều tra tin rằng sẽ phục vụ có hiệu quả hơn về việc xây dựng hoạch định
chiến lược quảng cáo tiếp thị hổ trợ bán hàng và trên cơ sở đó xây dựng các gọi dịch
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
học chế niên chế. Nhưng trải qua quá trình lựa chọn các lớp học dựa vào thời khóa
biểu chung của các học phần nên việc tiếp cận các bạn sinh viên khóa 42 cũng khá
thuận lợi hơn trên cơ sở đó đã giúp quá trình điều tra tiến hành một cách nhanh chóng
và hiệu quả hơn. Bên cạnh đó nhằm có sự đa dạng hơn cho các đối tượng nghiên cứu
nhóm nhận thấy các bạn sinh viên khóa 42 cũng khá thường xuyên xuất hiện ở phòng
đọc và thư viện trường nên nhóm đã thích ứng nhanh để tiếp cận điều tra một số đối
tượng ấy nhằm giúp kết quả điều tra chính xác hơn.
4. Đề xuất các hợp tác nghiên cứu tiếp theo
Qua quá trình nghiên cứu đề tài “Đánh giá phân tích nhu cầu sử dụng dịch vụ
mạng 3G của sinh viên khóa 42 tại trường ĐHKT Huế” nhóm nhận thấy quá trình
chọn lựa mẫu chưa thật sự chuẩn lắm nên đề xuất có sự hợp tác hoặc các đề tài nghiên
cứu sau sẽ chọn mẫu dựa vào tên danh sách sinh viên theo lớp hay theo từng khoa đối
với đề tài nghiên cứu ở cấp độ sinh viên và tên các nhân viên, doanh nhân, giảng viên
của từng cơ sở đối với phạm vi đề tài nghiên cứu rộng hơn phải chọn lựa ngẫu nhiên
theo một hệ số k nhất định hoặc dựa vào bảng chọn số để việc điều tra được hoàn
chỉnh hơn góp phần tạo nên kết quả nghiên cứu có độ chính xác cao hơn giúp cho
việc định hướng được tốt hơn.
Mỗi bảng câu hỏi phỏng vấn được xây dựng theo tiêu chuẩn điều tra gồm 3
phần: Phần sàng lọc,phần nội dung và phần thông tin cá nhân của người được phỏng
vấn.Tất cả các câu hỏi trên được mã hóa bằng ki hiệu nhằm thuận tiện khi sử dụng
phần mềm thống kê SPSS trong quá trình nhập dữ liệu. Trong đó:
Phần sàng lọc :gồm 2 câu hỏi,được thiết kế nhằm sàng lọc đối tượng nghiên
cứu để chọn ra mẫu phù hợp với các tiêu chí đã đề ra về yêu cầu “sử dụng điên thoại
di động” và phân loại “mạng điện thoại di động đang sử dụng”.
Phần nội dung :gồm hai phần nhỏ với 8 câu hỏi
Phần câu hỏi “Hâm nóng”:Gồm hai câu hỏi đơn giản ,mục đích để hướng
người được phỏng vấn vào nội dung chính của cuộc điều tra và gợi nhớ lại một số
7
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển
Để hiểu rõ hơn về dịch vụ mạng 3G, chúng ta tìm hiểu lịch sử hình thành và
phát triển của các hệ thống điện thoại di động, đặc biệt là mạng dịch vụ 3G. Thế hệ
đầu tiên có thể nhắc đến là 1G (1st Generation) được nghiên cứu từ những năm 1930
– 1940. Tuy nhiên được thực sự giới thiệu trên thị trường là vào những năm 1980.
Một trong những công nghệ 1G phổ biến là NMT (Nordic Mobile
Telephone) được sử dụng ở các nước Bắc Âu, Tây Âu và Nga. Cũng có một số công
nghệ khác như AMPS (Advanced Mobile Phone Sytem – hệ thống điện thoại di động
tiên tiến) được sử dụng ở Mỹ và Úc; TACS (Total Access Communication Sytem –
hệ thống giao tiếp truy cập tổng hợp) được sử dụng ở Anh, C-45 ở Tây Đức, Bồ Đào
Nha và Nam Phi, Radiocom 2000 ở Pháp; và RTMI ở Italia.
Tuy nhiên, với nhu cầu sử dụng ngày càng lên cao, số lượng người sử dụng
mạng di động ngày càng nhiều nên đòi hỏi cần có những biện pháp để nâng cao chất
9
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
lượng cuộc gọi và các ứng dụng khác. Chính vì thế, đã xuất hiện thế hệ thứ 2 của hệ
thống di động. Người ta gọi là 2G (Second Generation) với sóng Digital.Thế hệ thứ
hai 2G của mạng di động chính thức ra mắt trên chuẩn GSM của Hà Lan, do công ty
Radiolinja (Nay là một bộ phận của Elisa) triển khai vào năm 1991. Và thực sự, “làn
sóng” 2G đã lan tỏa với tốc độ nhanh, nhờ vào các tính năng vượt trội của nó so với
mạng 1G:
Thứ nhất, dữ liệu số của giọng nói có thể được nén và ghép kênh hiệu quả hơn
so với mã hóa Analog nhờ sử dụng nhiều hình thức mã hóa, cho phép nhiều cuộc gọi
cùng được mã hóa trên một dải băng tần.
Thứ hai, hệ thống kĩ thuật số được thiết kế giảm bớt năng lượng sóng radio
phát từ điện thoại. Nhờ vậy, có thể thiết kế điện thoại 2G nhỏ gọn hơn; đồng thời
giảm chi phí đầu tư những tháp phát sóng.
Thứ 3, mạng 2G trở nên phổ biến cũng do công nghệ này có thể triển khai một
số dịch vụ dữ liệu như Email và SMS. Đồng thời, mức độ bảo mật cá nhân cũng cao
- Thanh toán điện tử (Mobile Payment): Cho phép thanh toán hóa đơn hay giao
dịch chuyển tiền… qua tin nhắn ĐTDĐ (nếu khách hàng có tài khoản mở tại ngân
hàng và có liên kết với nhà cung cấp dịch vụ di động).
- Truy cập Internet di động (Mobile Internet): Cho phép người dùng có thể
kếtnối từ xa trên ĐTDĐ với các thiết bị điện tử tại văn phòng hay ở nhà.
- Quảng cáo di động (Mobile Advertizing)
2.1.4 Ưu nhược điểm của mạng 3G
Ưu điểm:
Mạng 3G có hệ thống hạ tầng cao hơn so với mạng 2G. Hệ thống UMTS dựa trên
các dịch vụ được phân tầng. Ở trên cùng là tầng dịch vụ, đem lại những ưu điểm như
triển khai nhanh các dịch vụ, hay các địa điểm được tập trung hóa. Tầng giữa là tầng
điều khiển, giúp cho việc nâng cấp các quy trình và cho phép mạng lưới có thể được
phân chia linh hoạt. Cuối cùng là tầng kết nối, bất kỳ công nghệ truyền dữ liệu nào
cũng có thể được sử dụng và dữ liệu âm thanh sẽ được chuyển qua ATM/AAL2 hoặc
IP/RTP.
Nhược điểm:
- Tín hiệu của mạng 3G gây đau đầu buồn nôn
- Khó khăn khi triển khai mạng 3G ở Việt Nam trong đó những vấn đề về thủ tục là
khó khăn lớn nhất. Khó khăn trong việc cấp giấy phép cho triển khai hoạt động băng
11
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
rộng di động đang cản trở cho các doanh nghiệp muốn đưa dịch vụ này vào thị trường
Việt Nam.
- Vùng phủ sóng rộng chất lượng tốt đang là bài toán khá đau đầu với các mạng di
động trong việc bảo đảm để các thượng đế đi đâu cũng có thể xài được điện thoại 3G,
lướt net, gửi mail, xem TV hay gọi điện thấy hình Cho đến nay, Vinaphone cung
cấp được tại 13 tỉnh, thành; MobiFone cung cấp tại Hà Nội và TP.HCM, trong khi
Viettel tiếp tục thử nghiệm tại một số trung tâm thương mại.
- Thiết bị đầu cuối hỗ trợ 3G giá thành vẫn cao cũng là một trong những rào cản để
13
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
2.2.2 Tình hình sử dụng và các nhà mạng phân phối 3G tại Việt Nam
Mặc dù công nghệ 3G đã được đưa
vào sử dụng từ năm 2001. Nhưng nó
chỉ thực sự xâm nhập vào thị trường
Việt Nam trong mấy tháng gần đây. Rất
ít người biết đến mạng 3G, thậm chí có
thể họ không biết họ đang sử dụng hệ
thống di động loại gì ? Tuy nhiên, từ
khi các mạng viễn thông lớn ở Việt
Nam như vinaphone, mobifone, viettel,
liên danh EVN Telecom –Hanoi
Telecom) tung ra các chiến dịch quảng cáo về mạng 3G thì lúc này khái niệm 3G mới
thực sự trở nên phổ biến.
Nhà phân phối mạng 3G lớn nhất, có thể xem là người tiên phong trong việc phân
phối mạng 3G tại Việt Nam.là Vinaphone. Ngày 12/10/2009, khi VinaPhone chính
thức cung cấp dịch vụ 3G tại Việt Nam, câu cửa miệng của các chuyên gia viễn thông
và của rất nhiều người tiêu dùng là giấc mơ công nghệ đã thành hiện thực. Chúng ta
dễ dàng bắt gặp các băng rôn quảng cáo dọc đường phố hay là các thông tin được phổ
cập rộng rải trên internet, báo chí, truyền thông…Với chiến dịch quảng cáo rầm rộ,
cùng với lễ khai trương “sôi động và hoành tráng”. Vinaphone đã thực sự thu hút sự
chú ý của rất nhiều khách hang.
Tuy nhiên, không phải là độc quyền phân phối dịch vụ mạng 3G mà nó còn có
các đối thủ cạnh tranh “nặng ký” như Mobifone (15/12/2009 chính thức cung cấp
mạng 3G) và Viettel (Ngày 25/3/2010)… Cả 3 nhà mạng này đã lần lượt ký hợp đồng
với Apple và đưa mạng 3G vào sử dụng. Tuy nhiên, họ đều không biết rằng còn có
“kẻ” đang chạy đua với mình. Chính vì thế, sau khi Viettel và mobifone công bố
chính thức phân phối mạng 3G, cũng lúc đó cả 3 nhà mạng bắt đầu tăng tốc cuộc
giản sang dịch vụ dữ liệu di động (và dữ liệu vô tuyến) phong phú, các tiềm năng
đáng kể sẽ chậm đến tại thị trường này.” Chính vì thế, rõ rang để chiếm được “miếng
bánh ngon” thì các nhà mạng phải cạnh tranh trên cả mặt giá cả lẫn chất lượng.
Chương III
15
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ VỀ NHU CẦU SỬ DỤNG MẠNG 3G
CỦA SINH VIÊN K44QTKD TRƯỜNG ĐHKT HUẾ
3.1 Tổng quan về trường Đại học Kinh tế Huế
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Huế là một trong 7 trường đại học thành
viên thuộc Đại học Huế, được thành lập theo Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày
27/9/2002 của Thủ tướng Chính Phủ trên cơ sở Khoa Kinh tế - Đại học Huế. Sự ra
đời của Trường Đại học Kinh tế bắt nguồn từ Khoa Kinh tế nông nghiệp-Đại học
Nông nghiệp II Hà Bắc (giai đoạn 1969-1983), Khoa Kinh tế - Đại học Nông nghiệp
II Huế (giai đoạn 1984-1995) và Khoa Kinh tế-Đại học Huế (giai đoạn 1995-2002).
Hiện tại Trường có hơn 7000 sinh viên đang theo học các chuyên ngành:
+ Kinh tế Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
+ Kinh doanh Nông nghiệp
+ Quản trị Kinh doanh tổng hợp
+ Quản trị kinh doanh Marketing
+ Quản trị kinh doanh Thương mại
+ Kế toán Doanh nghiệp
+ Kế toán Kiểm toán
+ Tài chính Ngân hàng
+ Thống kê kinh doanh
+ Hệ thống thông tin kinh tế
+ Kinh tế Chính trị
với hai hình thức đào tạo chính quy và không chính quy.
sau:
3.2.1 Khảo sát các mạng điện thoại di động chủ yếu mà sinh viên đang sử
dụng
17
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2009, cả nước hiện có
130,4 triệu thuê bao điện thoại, đạt mật độ 152,7 máy trên 100 dân. Trong đó, thuê
bao di động chiếm 85,4% trong số đó 4 nhà mạng Viettel, Mobiphone, Vinaphone và
Beeline chiếm trên 90% số lượng thuê bao di động trên thị trường viễn thông ở Việt
Nam. Đáng lưu ý trong 4 nhà mạng này thì 3 trong số đó là Viettel, Mobiphone và
Vinaphone là những doanh nghiệp được cấp giấy phép triển khai dịch vụ 3G sớm
nhất vào khoảng tháng 8 năm 2009 và đây cũng là những nhà mạng mà sinh viên hiện
đang sử dụng khá phổ biến. Chính vì những lý do cơ bản trên mà nhóm chúng tôi mới
đưa ra 5 lựa chọn cho các bạn sinh viên bao gồm Viettel, Mobiphone, Vinaphone,
Beeline và mạng Khác. Trong quá trình điều tra đã thu được 85 mẫu hợp lệ cụ thể với
tỷ lệ như sau:
Bảng 1. Mạng di động đang sử dụng
Mạng di động sử dụng Số lượng ý kiến Tỷ lệ (%) theo mẫu hợp lệ
Viettel 56 65.9
Mobiphone 49 57.6
Vinaphone 12 14.1
Beeline 9 10.6
Mạng khác 9 10.6
18
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
Dựa vào bảng thống kê cũng như hình vẽ ta có thể thấy rằng trong các nhà mạng
thì Viettle và Mobiphone chiếm số lượng sinh viên sử dụng nhiều nhất. Dẫn đầu là
Viettel với 56/85 ý kiến của sinh viên sử dụng chiếm gần 65.9%, xếp sát theo ở vị trí
nhóm đã tiến hành điều tra bảng hỏi ở mục hiểu biết thông tin về mạng 3G. Qua quá
trình phát 120 phiếu bảng hỏi nhóm đã thu được 85 phiếu hợp lệ trong có có 82 người
đã trả lời về các nguồn thông tin mà họ đã tiếp cận để hiểu biết về dịch vụ 3G. Cụ thể
như sau:
Bảng 2. Nguồn thông tin tiếp cận về 3G
Nguồn thông tin tiếp cận về mạng 3G Số lượng ý kiến Tỷ lệ (%) theo số người trả
lời
Truyền hình 61 74.4
Báo, Internet 31 37.8
Từ bạn bè, người thân 14 17.1
Khác 4 4.9
Dựa vào bảng số liệu về tổng hợp ý kiến cũng như tỷ lệ theo 82 số người trả lời
thì ta có thể nhìn nhận rằng “truyền hình” vẫn là sự kênh lựa chọn phổ biến cho người
tiêu dụng ở Việt Nam nói chung và ở sinh viên Kinh tế Huế nói riêng. Với số lượng ý
kiến 61/82 chiếm 74.4% số ý kiến trả lời thì có thể thấy được tầm quan trọng của việc
quảng cáo qua truyền hình cao như thế nào. Điều này sẽ là một phần quan trọng giúp
cho các nhà mạng sẽ càng đặc biệt chú trong hơn đến khâu quáng cáo trên truyền hình
để nhằm gởi thông tin cũng như thông điệp của mình đến gần khách hàng hơn và cụ
thể là dễ dàng tiếp cận với sinh viên hơn.
20
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
Bên cạnh đó thì so với nhiều đối tượng khác thì sinh viên vẫn luôn là một trong
số đối tượng tiếp cận nguồn thông tin từ “báo, Internet” hiệu quả nhất. Điều này cũng
đã được ghi nhận qua 31 ý kiến sinh viên lựa chọn chiếm tỷ lệ gần 37.8% đây là một
tỷ lệ cũng khá cao chỉ xếp sau sự lựa chọn số 1 về truyền hình. Cùng với sự phát triển
công nghệ thông tin mạnh mẽ trong những năm gần đây thì việc tiếp cận báo và
internet cũng ngày càng phổ biến hơn so với trước đây, sinh viên đã chủ động hơn
trong việc tiếp cận nhiều nguồn thông tin cho riêng mình. Đây cũng chính là điều mà
các nhà mạng phải chú ý nên xây dựng riêng từng chuyên đề, tạp chí hay là những
21
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
Mobifone
Không 30 6 10 26 4 32
Đang sd mạng
Vinaphone
Có 11 1 6 6 6 6
không 61 9 15 55 8 62
Đang sd mạng
beeline
Có 8 1 3 6 1 8
không 64 9 18 55 13 60
Dựa vào bảng so sánh trên thấy rằng tỉ lệ ở 2 nhà mạng Viettel và Mobiphone
vẫn chiếm đa số với tương ứng là 50 và 42 ý kiến biết thông tin từ truyền hình điều
này chứng tỏ rằng công tác quảng cáo của 2 nhà mạng này trên truyền hình rất hiệu
quả đối với sinh viên. Điều này cũng khẳng định cho phân tích ở trên rằng thông tin
từ truyền hình vẫn luôn là sự lựa chọn hàng đầu. Ngoài ra thông tin về mạng 3G từ
báo và internet cũng chiếm số lượng ý kiến khá cao với tương ứng 2 nhà mạng ở trên
là 15 và 11 ý kiến.
So với 2 nhà mạng ở trên thì Vinaphone và Beeline có số lượng ý kiến không cao
bằng với 11 và 8 ý kiến tương ứng biết đến 3G từ truyền hình điều này một phần là do
sinh viên ít sử dụng 2 nhà mạng này hơn và một lý do khiến beeline chiếm số lượng
thấp hơn bởi đây là một nhà mạng mới xâm nhập vào thị trường viễn thông Việt
Nam, do đó chỉ mới thực sự chú tâm đến dịch vụ 2G và 2,5G mà thôi.
3.2.3 Mức độ hiểu biết về dịch vụ 3G
Với mục đích tìm hiểu rõ khả năng cũng như mức độ hiểu biết về mạng 3G từ
những nguồn thông tin mà các đối tượng đã tiếp cận ở trên thì nhóm đã mạnh dạn đưa
ra những định nghĩa về 3G để nhằm đánh giá sự hiểu biết của đối tượng khách hàng
về dịch vụ 3G đang ở mức độ nào để trên cơ sở đó đưa ra những chiến lược truyền
mà thôi. Nhìn chung thì một phần nào sinh viên cũng nắm rõ được khái niệm trên
điều này cũng là một sự đánh giá tốt cho công tác truyền thông của 3G về khả năng
phổ biến thông tin đến người tiêu dụng.
Bên cạnh đó thì sự lựa chọn phương án Là các gọi dịch vụ có thể truyền thông
tin xem video thoại giữa các điện thoại với nhau cũng chiếm số lượng ý kiến 21/83
đạt gần 25.3% trên tổng số sinh viên trả lời một phần nào cũng đã phản ánh được
người tiêu dùng đã hiểu được một vài nét ứng dụng cơ bản về gói dịch vụ tối ưu của
mạng 3G đây cũng chính là một trong những gói dịch vụ tạo nên sự khác biệt và nét
đột phá so với các công nghệ trước đây.
Ngoài ra phương án lựa chọn “Là một dạng dịch vụ cải tiến từ mạng 2G” với số
lượng ý kiến 10/83 chiếm 12% mặc dù định nghĩa này không thật sự chính xác nhưng
một phần nào phản ánh được tâm lý cũng như hành vi người tiêu dùng luôn muốn
hướng đến những điều mới hơn và tốt hơn. Điều này đòi hỏi các nhà mạng khai thác
dịch vụ mạng 3G phải chú trọng nhiều hơn đến sự thỏa mãn tâm lý của khách hàng và
cụ thể là đối tượng sinh viên.
Bên cạnh những hiểu biết có thể đầy đủ hay còn thiếu sót thì cũng tồn tại 10/83
số ý kiến không hể biết hay chưa rõ thông tin gì về mạng 3G chiếm 12% đây cũng là
một vấn đề mà công tác truyền thông cần lưu ý hơn.
Sinh viên hiểu thế nào là mạng 3G ? Họ tiếp cận nguồn này từ đâu? Có phải chỉ là
qua internet- nguồn thông tin được sử dụng nhiều nhất hay là còn từ các nguồn thông
tin khác? Để hiểu rõ hơn về mức độ hiểu biết của sinh viên khoá 42-ĐH KT Huế về
khái niệm 3G thì chúng ta có thể dựa vào bảng thống kê ở trên “Mối quan hệ giữa
định nghĩa mạng 3G và nguồn thông tin tiếp cận”.
24
Khảo sát nhu cầu của sinh viên khóa 44QTKD về dịch vụ mạng di động 3G tại trường ĐH
Kinh tế Huế
Bảng 5. Mối quan hệ giữa định nghĩa mạng 3G và nguồn thông tin tiếp cận
Biết thông tin
về mạng 3G từ
nguồn thông tin từ truyền hình vẫn chiếm ưu thế. Và truyền hình vẫn là kênh thông
tin thực sự thu hút sự chú ý của các bạn sinh viên . Nhưng câu hỏi đặt ra ở đây có
phải do các bạn xem tivi nhiều mà biết hay không? Hay là họ sử dụng mạng internet
nhiều hơn. Thực tế cho thấy rằng, điều kiện để có tivi theo dõi thường xuyên là ít
hơn so với đọc báo và internet nhưng theo thống kê thì nguồn thông tin từ truyền
hình cao gấp gần 4 lần so với thông tin từ báo, internet…Bởi vì, có thể quảng cáo
25