LỜI MỞ ĐẦU
Khi đất nước chuyển mình sang nền kinh tế thị trường thì cũng là lúc các doanh
nghiệp bắt đầu cuộc chiến cạnh tranh với những thử thách và khó khăn mà không
phải doanh nghiệp nào cũng có thể vượt qua. Để có thể tồn tại và đứng vững trên thị
trường đang diễn biến đầy phức tạp, khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế ,
các doanh nghiệp đã phải nỗ lực hết mình và cạnh tranh trên tất cả các lĩnh vực: giá
cả, chất lượng, mẫu mã,…Muốn tạo ra được một sản phẩm vừa có chất lượng tốt mà
giá cả hợp lý quả là khó khăn cho NQT. Các NQT phải nắm bắt được nguồn thông
tin nhanh chóng, kịp thời, dự đoán và ra quyết định một cách đúng đắn.
Vấn đề đặt ra cho các NQT là phải xem xét chi phí bỏ ra cho một sản phẩm là
bao nhiêu để đem lại lợi nhuận cao nhất. Phân tích mối quan hệ CP - SL - LN là một
công cụ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó không chỉ giúp doanh nghiệp đánh giá quá
trình SXKD và các nhân tố đã ảnh hưởng đến tình hình lợi nhuận mà còn là phương
pháp phân tích nhằm cung cấp những dữ liệu mang tính dự báo phục vụ cho quá trình
ra quyết định của các NQT doanh nghiệp. Nó còn là cơ sở để đưa ra các quyết định
như lựa chọn dây chuyền sản xuất, chiến lược sản xuất, định giá sản phẩm, cung cấp
dịch vụ một cách tốt nhất cho khách hàng.
Công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng là một công ty SXKD với quy mô lớn, thị
trường tiêu thụ rộng rãi. Do đó, tổ chức bộ máy KTQT tại công ty là rất cần thiết, đặc
biệt là việc tổ chức áp dụng phân tích mối quan hệ CP - SL - LN.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề và bước đầu tiếp xúc với thực tế,
trong thời gian thực tập tại công ty Nhựa, em đã chọn đề tài “ Phân tích mối quan
hệ CP - SL - LN tại công ty cổ phần Nhựa Đà Nẵng” với mong muốn lý luận hoá
những kiến thức được trang bị trên ghế nhà trường và đóng góp ý kiến trong việc
phân tích ảnh hưởng của chi phí, sản lượng đối với lợi nhuận của công ty.
Với khối lượng kiến thức vẫn còn ít cũng như thiếu kinh nghiệm trong thực tiễn,
đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong được sự quan tâm và
đóng góp ý kiến của thầy để đề tài hoàn thiện hơn.
Đề tài gồm 4 phần:
- Phần I: Cơ sở lý luận về phân tích mối quan hệ CVP tại công ty cổ phần
Nhựa Đà Nẵng.
1.1.Khái niệm
Nghiên cứu mối quan hệ giữa CP - SL - LN là xem xét mối quan hệ biện chứng
giữa các nhân tố giá bán, SL, CP cố định, CP biến đổi và sự tác động của chúng đến
LN của DN.
Mối quan hệ giữa CP - SL - LN được thể hiện trong phương trình kinh tế cơ
bản xác định LN.
Lợi nhuận = Doanh thu – Chi phí.
Từ phương trình kinh tế cơ bản này có nhiều cách nhìn và khai thác khác nhau
về mối quan hệ giữa CP - SL và LN. Vấn đề là ở chỗ quan niệm và cách ứng xử của
chúng ta về chi phí.
1.2. Vai trò
Phân tích mối quan hệ CP - SL - LN có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc
khai thác khả năng tiềm tàng của DN, là cơ sở để đưa ra các quyết định như chọn dây
chuyền sản xuất, định giá sản phẩm, chiến lược bán hàng,…Trong xu thế cạnh tranh
của cơ chế thị trường, các DN phải luôn tìm mọi cách về giá, chủng loại sản phẩm,
đồng thời phải thõa mãn được nhu cầu khách hàng, …Để giải quyết những vấn đề đó
thì các nhà quản lý cần phải tiến hành công tác phân tích mối quan hệ giữa CP - SL -
LN. Qua đó sẽ đánh giá được thực trạng hoạt động SXKD của mình, từ đó có các
quyết định đúng đắn trong việc thay đổi CP, giá bán, thay đổi dây chuyền sản xuất,
kết cấu mặt hàng nhằm tối đa hóa LN. Và để thực hiện phân tích mối quan hệ giữa
CP - SL - LN, cần thiết phải nắm vững cách ứng xử của CP để tách toàn bộ CP của
DN thành CP khả biến, bất biến, phải hiểu rõ báo cáo thu nhập theo số dư đảm phí,
đồng thời phải nắm vững các khái niệm cơ bản sử dụng trong phân tích.
1.3.Nội dung phân tích mối quan hệ CVP.
- Phân tích điểm hòa vốn.
- Phân tích SL tiêu thụ cần thiết để đạt mức lãi mong muốn.
- Phân tích ảnh hưởng của những thay đổi về CP - SL đối với LN của DN.
2. Cách ứng xử chi phí - Cơ sở của phân tích CP - SL - LN.
Nhằm mục đích đáp ứng yêu cầu lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết
CP của NQT DN, KTQT phân loại CP theo cách ứng xử của CP, nghĩa là khi mức độ
khó khăn khi nhu cầu sau đó lại giảm đi.
Đồ thị biểu diễn BP cấp bậc.
CP
Mức độ hoạt động
0
2.2. Định phí.
ĐP là những khoản CP không biến đổi khi mức độ hoạt động thay đổi nhưng
khi tính cho một đơn vị hoạt động căn cứ thì ĐP thay đổi. Khi mức độ hoạt động tăng
thì ĐP tính cho một đơn vị hoạt động căn cứ giảm, và ngược lại.
ĐP thường bao gồm các khoản CP như khấu hao thiết bị sản xuất, CP quảng
cáo, lương của các bộ phận quản lý phục vụ,…
ĐP không có ngụ ý là CP không thể thay đổi mà chỉ chú ý nó không khả biến.
Do đó một số loại ĐP có thể được thay đổi dễ dàng hơn và nhanh hơn các ĐP khác
nên ĐP được chia làm hai loại : ĐP bắt buộc và ĐP tùy ý.
Tổng ĐP ĐP đơn vị
y = B/x
y = B
Mức độ hoạt động Mức độ hoạt động
2.2.1. Định phí tùy ý.
ĐP tùy ý là ĐP có thể được thay đổi nhanh chóng bằng hành động của NQT.
Các NQT quyết định mức độ và SL ĐP này trong các quyết định hàng năm.
Thí dụ về loại ĐP này gồm CP quảng cáo, đào tạo nhân viên, nghiên cứu,…
2.2.2. Định phí bắt buộc.
ĐP bắt buộc là ĐP không thể thay đổi một cách nhanh chóng vì chúng thường
liên quan đến TSCĐ và cấu trúc cơ bản của DN.
Thí dụ về loại ĐP này gồm khấu hao TSCĐ, thuế tài sản, tiền lương của các
thành viên trong cơ cấu tổ chức cơ bản của DN.
ĐP bắt buộc có hai đặc điểm:
ĐP Thay đổi Cố định
2.3. Chi phí hỗn hợp.
CP hỗn hợp là loại CP mà bản thân nó gồm cả các yếu tố BP lẫn ĐP. Ở mức độ
hoạt động căn bản, CP hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của ĐP, quá mức đó lại thể
hiện đặc tính của BP.
Đồ thị biểu diễn CP hỗn hợp
CP CP
BP BP
ĐP ĐP
0 Mức hoạt động 0 Mức hoạt động
-Phần bất biến của CP hỗn hợp thường phản ánh CP căn bản, tối thiểu để duy
trì phục vụ và để giữ dịch vụ đó luôn ở tình trạng sẵn sàng phục vụ.
-Phần khả biến thường phản ánh CP thực tế hoặc CP sử dụng quá định mức. Do
đó yếu tố khả biến sẽ biến thiên tỷ lệ thuận với mức dịch vụ phục vụ hoặc mức sử
dụng vượt định mức.
Nhằm mục đích lập kế hoạch, kiểm soát hoạt động kinh doanh và chủ động
trong quản lý CP thì vấn đề đặt ra với những CP hỗn hợp là việc xác định thành phần
của nó như thế nào? Vì vậy cần phân tích nhằm lượng hoá và tách riêng yếu tố bất
biến, khả biến trong CP hỗn hợp sau đó đưa về dạng công thức để thuận tiện cho việc
sử dụng trong phân tích và trong quản lý kinh doanh.
Phương trình tuyến tính dùng lượng hoá CP hỗn hợp là: Y= A + bx
Trong đó, Y là CP hỗn hợp cần phân tích
A là tổng CP bất biến cho mức hoạt động trong kỳ.
b là CP khả biến cho 1 đơn vị hoạt động.
x là số lượng đơn vị hoạt động.
Mục đích là phải xác định được A và b, còn x là ẩn số. Chúng ta sẽ nghiên cứu
ba phương pháp phân tích các CP hỗn hợp thành yếu tố bất biến, khả biến :
2.3.1. Phương pháp cực đại, cực tiểu
Phương pháp cực đại, cực tiểu trong phân tích CP hỗn hợp đòi hỏi phải quan sát
các CP phát sinh cả ở mức độ thấp nhất và cao nhất của hoạt động trong phạm vi phù
2 phương trình như sau :
∑xy = A∑x + b∑x
2
∑y = nA + b∑x
Trong đó, x là biến số độc lập ( mức hoạt động căn cứ)
y là biến số phụ thuộc ( CP hỗn hợp)
A và b là thông số cần xác định ( BP và ĐP )
Giải hệ phương trình trên ta suy ra phương trình y = A + b.x
Phương pháp này cho ta độ chính xác cao hơn 2 phương pháp trên, vì phương
pháp này quan tâm đến tất cả các quan sát thực nghiệm. Trong thực tế tuỳ theo hoạt
động kinh doanh cụ thể mà DN có thể áp dụng các phương pháp để phân tích CP hỗn
hợp.
3. Các giả thiết khi phân tích CP - SL - LN.
-Mối quan hệ giữa khối lượng sản phẩm, mức độ hoạt động với CP và thu nhập
là mối quan hệ tuyến tính trong suốt phạm vi thích hợp.
-Phân tích một cách chính xác CP của xí nghiệp thành khả biến và bất biến.
-Khi DN kinh doanh nhiều loại sản phẩm, DT phải theo tỷ lệ có thể dự tính
được, nghĩa là kết cấu sản phẩm tiêu thụ không đổi.
- ĐP không đổi trong phạm vi hoạt động.
- Năng suất lao động không đổi.
- DN phải áp dụng phương pháp tính giá trực tiếp.
4. Phân tích điểm hoà vốn.
4.1. Khái niệm điểm hoà vốn.
ĐHV là điểm mà tại đó DT vừa đủ bù đắp hết CP hoạt động kinh doanh đã bỏ
ra, trong điều kiện giá bán sản phẩm dự kiến hay giá thị trường chấp nhận được.
Phân tích ĐHV cung cấp cho các NQT cách nhìn toàn diện về mối quan hệ CP -
SL - LN trong quá trình điều hành công việc. Đó chính là việc chỉ rõ :
- SL, DT ở mức nào để DN đạt được ĐHV.
- Phạm vi lời, lỗ của DN theo những cơ cấu CP - SL tiêu thụ, DT.
- Phạm vi đảm bảo an toàn về DT để đạt được một mức LN mong muốn.
hoà vốn.
4.2.2. Xác định điểm hoà vốn bằng số dư đảm phí.
Phương pháp này dựa trên quan điểm, cứ một sản phẩm tiêu thụ cung cấp một
SDĐP là (g – vc) để trang trải ĐP. Vì vậy khi biết được ĐP và SDĐP một sản phẩm
thì :
Q
hoà vốn
=
vcg
TFC
−
Q
hoà vốn
. g =
g
vcg
TFC
g
vcg
TFC
−
=×
−
=
g.Q
vc.Qg.Q
TFC
−
hoà vốn
SL
Tại Q = 0, LN = - TFC.
Trong trường hợp DN kinh doanh nhiều loại sản phẩm.
- Xác định tỷ lệ kết cấu của các mặt hàng tiêu thụ :
Tỷ lệ kết cấu mặt hàng i =
DT của mặt hàng i
x 100%
Tổng DT
- Xác định tỷ lệ số dư đảm phí bình quân của các mặt hàng :
Tỷ lệ SDĐP
bq
= Tỷ lệ SDĐP mặt hàng
i
(x) kết cấu sản phẩm
i
Suy ra : Q
hoà vốn i
= Q
hoà vốn
(x) kết cấu sản phẩm i.
4.3. Các thước đo tiêu chuẩn hoà vốn
Ngoài khối lượng hoà vốn, DT hoà vốn, ĐHV còn được quan sát dưới các góc
nhìn khác nhau : chất lượng của ĐHV. Mỗi phương pháp đều cung cấp một tiêu
chuẩn đánh giá hữu ích về HQKD và sự rủi ro.
4.3.1.Doanh thu an toàn
DT an toàn được định nghĩa là khoản DT vượt quá DT hoà vốn. DT an toàn có
thể đo lường bằng chênh lệch giữa DT thực hiện với DT hoà vốn. Chỉ tiêu này có giá
trị càng lớn càng thể hiện tính an toàn cao của hoạt động SXKD hoặc tính rủi ro trong
csuat
Q
hv
Q
×
Nếu H >100%, DN có hoạt động tối đa công suất cũng không đạt hoà vốn.
Nếu H<100%, SXKD sẽ có lãi khi Q
sản xuất(thực tế)
> Q
hv
Ý nghĩa của thời gian hoà vốn và tỷ lệ hoà vốn nói lên chất lượng ĐHV tức là
chất lượng hoạt động kinh doanh. Nó có thể được hiểu như là thước đo của sự rủi ro.
Trong khi thời gian hoà vốn cần phải càng ngắn càng tốt thì tỷ lệ hoà vốn cũng vậy,
càng thấp càng an toàn.
5. Xác định mức sản lượng tiêu thụ để đạt mức lợi nhuận mong muốn.
Điểm hoà vốn cho ta thấy ranh giới của những mức DT tạo ra LN với những
DT không tạo ra LN và bị lỗ. Căn cứ vào các chỉ tiêu xác định ĐHV, kết hợp với LN
mà DN mong muốn, ta xác định được lượng sản phẩm hoặc DT cần thiết để đạt lợi
tức như mong muốn.
5.1. Trường hợp để đạt được nhuận trước thuế.
Công thức xác định SL tiêu thụ cần thiết để đạt mức LN trước thuế như sau :
LN
trước thuế
= g.Q
cần thiết
– vc.Q
cần thiết
– TFC.
Q
cần thiết
=
TFC +
LN
ST
1 – T
Tỷ lệ SDĐP
bq
6. CVP trong việc ra các quyết định và lựa chọn phương án kinh doanh.
Những vấn đề lý thuyết về mối quan hệ giữa CP, khối lượng, giá cả và LN được
nghiên cứu và ứng dụng rất nhiều trong thực tế. Đây thực sự là nghệ thuật của sự kết
hợp khai thác các yếu tố về CP, giá cả, khối lượng nhằm thực hiện mục tiêu tối đa
hoá LN công ty. Để đạt được mục tiêu này trước sự biến đổi của BP, ĐP, SL tiêu thụ,
đơn giá bán, NQT cần có những quyết định đúng đắn nhất. Sau đây là một số trường
hợp lựa chọn phương án kinh doanh trước sự biến đổi của các yếu tố trên.
6.1. Lựa chọn phương án kinh doanh khi biến phí, sản lượng tiêu thụ thay
đổi trong khi các nhân tố khác không đổi.
Đây là trường hợp khi BP sản phẩm tăng hay giảm sẽ làm cho SL tiêu thụ thay
đổi. Chẳng hạn muốn gia tăng SL tiêu thụ, DN tăng CP hoa hồng bán hàng. Lúc này
DN có nên quyết định thực hiện phương án này hay không ? Ta thấy :
Số dư đảm phí
phương án mới (X
1
)
do thay đổi BP, SL
=
SL tiêu thụ
phương án
cũ
x 100% +
1
)
do thay đổi ĐP, SL
=
DT
phương án
cũ
x
Tỷ lệ tăng
SL tiêu thụ
x
Tỷ lệ SDĐP
phương án cũ
-( X
1
– X
0
) > 0: Nên tiến hành vì phương án mới sẽ làm gia tăng LN cho DN.
-(X
1
– X
0
)
< 0: Không nên tiến hành vì phương án mới làm LN không tăng mà
còn giảm một khoản (X
1
– X
0
). Mức tăng SDĐP phương án cũ là X
phương án mới (∆ TFC) = khâu sản xuất, tiêu thụ, quản lý.
-[ ( X
1
– X
0
) - ∆TFC ] > 0 nên tiến hành vì phương án mới sẽ làm gia tăng lưọi
nhuận cho DN.
-[ (X
1
– X
0
) - ∆TFC ] < 0 không nên tiến hành vì phương án mới làm LN không
tăng mà còn làm giảm một lượng (X
1
– X
0
- ∆TFC ).
6.4. Lựa chọn phương án kinh doanh khi định phí, sản lượng, giá bán thay
đổi trong khi các nhân tố khác không đổi.
Số dư đảm phí
phương án mới do
thay đổi SL, giá
bán (X
1
)
=
SL tiêu thụ
phương án
cũ
x 100% +
- ∆TFC ).
6.5.Lựa chọn phương án kinh doanh khi biến phí, định phí, sản lượng, giá
bán thay đổi trong khi các nhân tố khác không đổi.
Trong trường hợp này mô hình tổng quát lựa chọn phương án kinh doanh của
DN như sau :
Tổng SDĐP do biến
động biến phí sản
lượng, giá cả (X
1
)
=
SL tiêu thụ
phương án
cũ
x 100% +
Tỷ lệ
tăng sản
lượng
x
SDĐP đơn
vị mới
Số dư đảm phí phương án cũ là X
0
. Tổng tăng (giảm) ĐP là ∆TFC. Nếu :
-[ ( X
1
– X
0
) - ∆TFC ] > 0 nên tiến hành vì phương án mới sẽ làm gia tăng LN
cho DN.
bẩy kinh doanh lớn thì tỷ lệ ĐP trong tổng CP lớn hơn BP, do đó LN của DN sẽ rất
nhạy cảm với thị trường khi DT biến động, bất kỳ với sự biến động nhỏ nào của DT
cũng gây ra biến động lớn về LN.
Khái niệm đòn bẩy kinh doanh cung cấp cho NQT một công cụ để dự kiến LN.
Nếu DT tăng lên và DT vượt quá điểm hòa vốn thì chỉ cần tăng một tỷ lệ nhỏ về DT
sẽ có tác động làm tăng tỷ lệ lớn về LN..
Đòn bẩy kinh doanh cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá rủi ro kinh
doanh của DN. Độ lớn đòn bẩy kinh doanh (K) được xác định bằng công thức :
Độ lớn đòn bẩy kinh doanh (K) =
% thay đổi LN kinh doanh
% thay đổi DT
Hệ số K cho thấy: Cứ 1% thay đổi về DT sẽ ảnh hưởng đến K% thay đổi về LN
kinh doanh. LN tính theo độ lớn đòn bẩy kinh doanh không tính đến CP trả lãi vay
nhằm loại bỏ ảnh hưởng của cơ cấu và CP nguồn vốn khi phân tích rủi ro kinh doanh.
Hệ số đòn bẩy kinh doanh cho thấy ứng với một mức hoạt động, hệ số này càng
cao thì DN có thể đạt HQKD lớn nhưng HQKD cũng sẽ biến thiên lớn và như vậy rủi
ro kinh doanh của DN cũng sẽ cao.
Trong thực tế, đòn bẩy kinh doanh thường được xác định tại một mức hoạt
động theo công thức :
TFCQvc)(g
Qvc)(g
K
−×−
×−
=
7.2.Phân tích rủi ro kinh doanh thông qua chỉ tiêu hệ số an toàn
Hệ số an toàn được định nghĩa là tỷ lệ giữa DT với độ lệch giữa DT và DT hòa
vốn của DN.
H
at
CP sẽ khó dẫn đến sự thua lỗ của DN. Và do đó độ lớn đòn bẩy kinh doanh của DN
càng thấp.
PHẦN II:
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA ĐÀ NẴNG.
I.QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
1.Quá trình hình thành.
Công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng trước đây là một công ty tư nhân, sản xuất nhỏ,
lẻ với tên gọi là xí nghiệp Nhựa Đà Nẵng, được thành lập năm 1976 theo quyết định
số 866/QĐUB ngày 22/1/1976 có trụ sở ban đầu tại 280 – Hùng Vương với diện tích
hạn chế chưa đầy 500m
2
.
Do nhu cầu phát triển đòi hỏi xí nghiệp phải mở rộng quy mô sản xuất. Đến
năm 1978, nhà máy được chuyển trụ sở đến 199 – Trần Cao Vân (số cũ ) nay là 371 –
Trần Cao Vân với cơ sở sản xuất mới được xây dựng với diện tích 17400m
2
và được
đưa vào hoạt động năm 1981.
Năm 1993, theo quyết định số 1844/QĐUB ngày 29/11/1993 của UBND tỉnh
QNĐN lúc bấy giờ, xí nghiệp chính thức trở thành DN nhà nước với tên gọi là công
ty nhựa Đà Nẵng .
Trước xu hướng vận động chung của nền kinh tế và yêu cầu cổ phần hóa DN
nhà nước nhằm tăng khả năng cạnh tranh, sản xuất hiệu quả, công ty nhựa Đà Nẵng
đã chính thức trở thành công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng ngày 01/01/2000 theo quyết
định số 90/2000 – QĐ – ttg của thủ tướng chính phủ.
Công ty Cổ phần nhựa Đà Nẵng:
Tên giao dịch: Danang Plastic joint – stock Company
Trụ sở chính: 371 Trần Cao Vân – Thanh Khê – Đà Nẵng
Điện thoại: (0511 ) 714642 – 714460
Fax: 0511.714561 – 714931
II. ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC SẢN XUẤT
1. Chức năng:
Sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu các loại sản phẩm và nguyên liệu nhựa.
Công ty là một đơn vị SXKD theo nguyên tắc hạch toán độc lập, công ty có sử dụng
con dấu riêng theo mẫu quy định của nhà nước để tiện trong giao dịch công tác.
Các sản phẩm được chế biến từ nhựa phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng như:
manh bao dệt PP, túi HDPE, ống nước, tấm lợp trần, vỏ két bia, can, thẩu,…
Ngoài ra chức năng chính là sản xuất và kinh doanh , để đáp ứng nhu cầu thị
trường và mục tiêu phát triển, công ty – với sự đồng ý của các cổ đông – có thể liên
doanh và hợp tác với các DN trong và ngoài nước nhằm phát triển sản xuất và mở
rộng thị trường.
2.Nhiệm vụ:
Sản xuất và kinh doanh đúng nghành nghề đã đăng ký, chịu trách nhiệm trước
pháp luật về sản phẩm của công ty. Tìm hiểu thị trường để xây dựng và thực hiện kế
hoạch nâng cao hiệu quả, mở rộng quy mô SXKD trang trải vốn và có nghĩa vụ nộp
ngân sách nhà nước đầy đủ.
3. Thị trường tiêu thụ:
Thị trường trong nước: Đây là thị trường tiêu thụ chủ yếu sản phẩm của
công ty, trong đó thị trường Miền Trung và Tây Nguyên chiếm 53,8%, Miền Bắc
chiếm 45%, Miền Nam chỉ có 1,2%. Sản phẩm tiêu thụ chủ yếu là mặt hàng ống
nước nhựa, với mặt hàng này công ty đã chiếm gần 80% thị phần cung cấp cho các
công ty cấp nước tại các tỉnh miền trung và trong các chương trình nước sạch nông
thôn..
Thị trường xuất khẩu: Thị trường xuất khẩu trực tiếp gồm các nước Đức,
Bỉ, HồngKông, Đài loan, Pháp,…sản phẩm chủ yếu là các loại bao bì, màng mỏng:
túi PE, bao dệtPP.
4. Đặc điểm tổ chức sản xuất tại công ty Cổ phần nhựa Đà Nẵng
4.1. Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm tại công ty:
Quá trình sản xuất sản phẩm của công ty nhựa được tiến hành trên dây chuyền
công nghệ tự động, theo kiểu chế biến liên tục. Các sản phẩm chính của công ty chủ
nhựaPP,
phụ gia
Máy
trộn
Máy
Máy
kéo
chỉ
Máy
thu
chỉ
Máy
dệt
màng
PP
Máy
cán
tráng
Gấp
miệng
bao
Gấp
định
hình
Dán
ống
Đục lổ
thoát
khí
Máy
In
Nguyên
liệu
phụ gia
Khuôn
mẫu
Khuôn
làm
nguội
Gọt
via
Thành
phẩm
Đóng
gói
Xay
Phế liệu
Máy
ép
phun
Công ty
Bộ phận sản xuất Bộ phận phục vụ sản
xuất
Tổ
can
phao
Tổ
dệt
bao
Tổ
• Tổ cắt manh: Nhận manh ống PP ( bao dệt ) cắt thành sản phẩm theo
đúng yêu cầu của khách hàng.
- Tổ dệt bao: Được chia thành hai công đoạn
- Tổ kéo chỉ: Có nhiệm vụ sản xuất ra sợi chỉ
• Tổ dệt bao: Nhận sợi từ tổ kéo chỉ dệt thành manh ống PP.
• Tổ màng mỏng: Sản xuất các loại sản phẩm như túi PELD, HDPE,…
• Tổ may bao: Nhận bao dệt từ tổ cắt manh hoặc tổ dệt bao để may thành
bao tạo ra sản phẩm PP, PE.
• Tổ bao bì xi măng: Sản xuất bao bì theo quy trình công nghệ của nó.
• Tổ sản xuất PVC: Chuyên sản xuất ống nước, dép ủng các loại.
• Tổ sản xuất tấm lợp trần: Chuyên sản xuất tấm lợp trần.
Bộ phận phục vụ sản xuất :
• Tổ cơ điện: Cung cấp điện cho sản xuất, xử lý sự cố về điện.
• Tổ phối liệu: Pha trộn nguyên liệu phục vụ cho quá trình sản xuất.
• Tổ KCS: Kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi nhập, xuất kho.
Mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại công ty là mô hình trực tuyến chức năng.
Theo mô hình này, giám đốc là người đại diện cho công ty đảm nhận công việc điều
hành hoạt động SXKD ,chịu trách nhiệm trước hội đồng quản trị về hoạt động SXKD
của công ty.
III.TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ TẠI CÔNG TY
1.Sơ đồ tổ chức bộ máy:
Đại hội đồng cổ
Ban kiểm soát Hội đồng quản
Giám đốc
Phòng tổ chức
hành chính
Phòng kỹ
thuật
Phòng kinh
doanh
+ Xây dựng định mức NVL, kế hoạch bảo dưởng và sữa chữa máy móc
thiết bị, xác định tiêu chuẩn chất lượng. Nghiên cứu sản phẩm mới, ứng dụng công
nghệ mới để theo kịp sự phát triển của công nghệ trong nghành.
+ Đào tạo và quyết định nâng bậc công nhân.
- Phòng kinh doanh:
+ Nghiên cứu nhu cầu thị trường, xây dựng kế hoạch trung và dài hạn.
+ Ký kết các hợp đồng kinh tế, thực hiện mua sắm, kiểm soát tồn kho
NVL và thành phẩm. Bảo đảm cung ứng vật tư đúng yêu cầu chất lượng, đúng quy
cách, đúng thời điểm cho các bộ phận sản xuất.
+ Quản lý giao dịch xuất nhập khẩu, giới thiệu hàng, marketing trực tiếp,
ký nhận các đơn hàng của đối tác nước ngoài.
- Phòng kế toán tài chính:
+ Tổ chức công tác hạch toán kế toán, phân tích hoạt động kinh doanh, báo
cáo tình hình kinh doanh, thực hiện đúng nguyên tắc hạch toán kế toán của nhà nước
quy định.
+ Thực hiện các nhiệm vụ kế toán định kỳ như lập quyết toán hàng quý,
hàng năm.
+ Thực hiện nghĩa vụ nộp thuế, thanh toán các CP phát sinh.
+ Thông qua phân tích kinh doanh, đề xuất tham mưu cho ban điều hành về
phân bố sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
IV.ĐẶC ĐIỂM TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY.
1.Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán:
Quan hệ điều hành
Quan hệ nghiệp vụ
2.Chức năng, nhiệm vụ của từng nhân viên:
- Kế toán trưởng: Là người điều hành mọi công việc của phòng kế toán tài
chính, trực tiếp phân công, chỉ đạo công việc của tất cả nhân viên kế toán trong công
ty, tham mưu cho giám đốc xây dựng kế hoạch tài chính, chịu trách nhiệm về tình
hình tài chính của công ty.
- Kế toán tổng hợp kiêm tính giá thành: Phụ trách cho kế toán trưởng
tình hình công nợ và tiêu thụ .
- Kế toán tiền mặt: Theo dõi tiền Việt Nam tại quỹ, tại ngân hàng, tình hình
tạm ứng, thanh toán với cán bộ công nhân viên trong công ty.
- Thủ quỹ: Chịu trách nhiệm quản lý tiền mặt tại quỹ, thực hiện nghĩa vụ thu
chi, báo cáo quỹ theo đúng quy định.
Hiện nay tại công ty công tác kế toán chỉ là kế toán tài chính, chưa xây dựng bộ
máy kế toán quản trị. Do đó, chưa cung cấp thông tin nhiều cho những NQT DN, mà
chỉ mới đặt trọng tâm trong việc cung cấp thông tin cho những cá nhân, tổ chức bên
ngoài DN.
3.Hình thức kế toán áp dụng tại công ty
Công ty áp dụng hình thức kế toán chứng từ ghi sổ cải biên. Công ty đã áp dụng
chương trình kế toán máy được lập trình bằng ngôn ngữ Visual Foxpro trong việc
hạch toán.
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Ghi cuối kỳ
Đối chiếu
Trình tự ghi sổ kế toán:
Hàng ngày căn cứ vào chứng từ gốc, các nhân viên kế toán của từng phần hành
sẽ kiểm tra chứng từ rồi tiến hành ghi vào sổ chi tiết tài khoản. Đối với những phiếu
thu hay phiếu chi, thủ quỹ sẽ ghi vào sổ quỹ.
Chứng từ gốc
Sổ chi tiết tài khoản
Sổ tổng hợp tài khoản
Bảng cân đối tài khoản
Báo cáo kế toán
Sổ quỹ
Sổ kế toán chi tiết
Sổ tổng hợp
chi tiết
nhau thuộc nhiều nhóm. Mỗi sản phẩm sản xuất ra bao gồm nhiều yếu tố cấu thành
về CP như CP NVL chính, CP vật liệu phụ, nhiên liệu, CP nhân công…Mỗi sản
phẩm được cấu thành từ các nguồn NVL khác nhau, CP nhân công khác nhau nên
quá trình phân tích các CP này cho từng sản phẩm là rất khó khăn. Nhưng để phục vụ
cho công tác quản trị của DN công tác phân tích CVP tại công ty cần phải được tiến
hành. Việc ứng dụng CVP sẽ mang lại cho công ty những thông tin cần thiết trong
quá trình ra quyết định kinh doanh như: Xác định được mức SL và DT hòa vốn cũng
như SL và DT để đạt LN mong muốn; tiếp tục sản xuất hay thôi sản xuất sản phẩm,
…
2. Nhận diện và phân tích CP theo cách ứng xử tại công ty cổ phần Nhựa.
Hiện nay công ty sản xuất trên 28 loại sản phẩm, mỗi sản phẩm được sản xuất
ra sử dụng nhiều loại NVL khác nhau. Trong đó có những loại sản phẩm dùng chung
một loại nguyên liệu và sản xuất trên cùng một dây chuyền công nghệ, chỉ khác nhau
về kích cỡ như ống nước PVC có ống nước PVC nhỏ và ống nước PVC lớn, thẩu có
thẩu 1 lit, thẩu 2l, thẩu 4l,…Hầu hết các sản phẩm đều đạt trình độ chất lượng khá trở
lên, đặc biệt là bao bì KPK của công ty đã vượt qua được yêu cầu kỹ thuật rất khắt
khe của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài như Chifon, Nghi Sơn, Luksvaxi Kim
Đỉnh. Và để đáp ứng cho công tác phân tích CVP 1 cách thuận lợi, dễ dàng ta có thể
gộp lại thành 11 nhóm sản phẩm chủ yếu, bao gồm: Bao bì xi măng, cuộn KP, manh
bao dệt PP, HD tráng PP, túi PELD, túi HDPE, ống nước HDPE, ống nước PVC, dép
ủng, tấm ốp trần, sản phẩm khác.
2.1. Chi phí khả biến.
2.1.1. Chi phí nguyên vật liệu
Tại công ty cổ phần nhựa Đà Nẵng , CP NVL được theo dõi chi tiết với từng
loại sản phẩm trên bảng kê vật tư xuất dùng cho sản xuất. Công ty sử dụng hình thức
xuất kho theo định mức, nên khi xuất NVL sẽ căn cứ vào số lượng sản phẩm cần sản
xuất để lập bảng này.
Bảng kê vật tư xuất dùng cho sản xuất tháng 12 năm 2005.
STT Danh mục vật tư ĐVT Tổng số vật tư xuất ra Xuất cho tổ
1 Nhựa PP Kg 3.000 Dệt ống
M
j
: Định mức NVLC
j
để sản xuất sản phẩm.
P
i
:Đơn giá NVLC
j
.
Căn cứ vào bảng tính giá thành của từng quý ta có thể xác định được CP NVL
chính tiêu hao cho một kg thành phẩm theo công thức sau:
CP NVLC
j
tính cho
1 kg thành phẩm
i
=
CP NVLC
j
sử dụng để sản xuất thành phẩm
i
Khối lượng thành phẩm
i
BẢNG TÍNH CP NVLC CHO 1 KG THÀNH PHẨM NĂM 2005.
Tên thành phẩm
Khối lượng
(kg)
CP NVLC
-BP nhiên liệu: Bao gồm xăng, dầu, mỡ,…phát sinh tỷ lệ với khối lượng thành
phẩm
CP nhiên liệu dùng cho sản xuất chủ yếu phát sinh ở bộ phận bao dệt, CP này
lấy ở sổ tổng hợp TK 1523 “nhiên liệu” đối ứng với tài khoản 621;
CP nhiên liệu cho 1 kg TP
i
=
CP nhiên liệu sử dụng sản xuất TP
i
Khối lượng thành phẩm
i
BẢNG TÍNH BIẾN PHÍ VLP, NL CỦA 1 KG THÀNH PHẨM NĂM
2005
Tên thành phẩm
Khối lượng
(kg)
CP VLP
BP VLP
cho 1 kg
TP
BP NL
cho 1 kg
TP
BP VLP,
NL cho 1
kg TP
(1) (2) (3)
(4)=(3) : (2)