TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
WY
ZX TIỂU LUẬN MARKETING CƠ BẢN
Đề tài: Chiến lược sản phẩm thị trường cho WPC
TTMT của doanh nghiệp.Khi đó, doanh nghiệp sẽ định vị dòng sản phẩm của mình để thỏa
mãn nhu cầu TTMT đã lựa chọn.Việc sản xuất ra loại sản phẩm thỏa mãn cho khúc thị trường
đó chính là sự liên kết sản phẩm với thị trường .Các đề xuất nhằm liên kết hiệu quả sản phẩm
với thị trường chính là các chiến lược. Các quá trình này có thể mô tả qua sơ đồ sau:
Trong bài tiểu luận này ta chỉ xét đến các “chiến lược sản phẩm thị trường” ,có nghĩa là
các khâu phân khúc thị trường, lựa chọn TTMT, định vị sản phẩm đã được hoàn tất và sản
phẩm đã được sản xuất ra để chào bán. Bây giờ ta phải đi xem xét các chiến lược để liên kết
hiệu quả sản phẩm với TTMT.
2
2. Lý thuyết “chiến lược sản phẩm thị trường”
Cái bắt đầu của Marketing là nhu cầu thị trường, sau đó mới tính đến sản phẩm để
thỏa mãn nhu cầu đó.Trong marketing, sản phẩm là đầu ra của sản xuất nhưng đồng thời là
đầu vào của nhu cầu thị trường, do vậy trong toàn bộ hệ thống chiến lược, marketing rất chú
trọng chiến lược liên kết thị trường sau đây:
a. Chiến lược sản phẩm hiện hữu – thị trường hiện hữu:
• Thời gian áp dụng:
9 Chiến lược này thường được sử dụng phổ biến và có hiệu quả ở giai đoạn tăng
trưởng và chín muồi trong vòng đời sản phẩm. Đối tượng áp dụng là sản phẩm
mà doanh nghiệp đang cung cấp ở thị trường đang hoạt động trên một phạm vi
địa lý nhất định như địa phương ( tỉnh, đô thị,…), vùng, quốc gia hoặc khu
vực.
• Mục đích yêu cầu:
9 Khai thác được triệt để nhóm khách hàng độc quyền. Đây là nhóm khách hàng
hầu như chỉ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp vì họ tin cậy hơn ( có thể do
chất lượng đảm bảo tốt, dịch vụ tiện lợi hoặc giá cả hợp lý…). Doanh nghiệp
cần phải đảm bảo ổn định giá cả và lượng cung cấp đều đặn, củng cố giữ vững
9 Yêu cầu phải có điều kiện về công nghệ và vốn.
• Ý nghĩa:
9 Chiến lược này đem lại hiệu quả cao và lợi ích lâu dài trên thị trường.
c. Chiến lược sản phẩm hiện hữu – thị trường mới:
• Thời gian ( điều kiện ) áp dụng:
9 Khi sản phẩm hiện hữu ở cuối pha chín muồi sang pha suy tàn.
9 Sản phẩm đó lại tiêu thụ được ở thị trường khác.
• Mục đích yêu cầu:
9 Kéo dài được vòng đời sản phẩm.
9 Giảm bớt được tổn hại.
9 Vẫn khai thác được sản phẩm hiện hữu.
9 Yêu cầu phải nghiên cứu thị trường năng động.
• Ý nghĩa:
9 Chiến lược này giúp doanh nghiệp không phải đầu tư, cải tiến hay sáng chế sản
phẩm mới nhưng vẫn có hiệu quả, tuy hiệu quả đó có thể không lớn vì vòng
đời sản phẩm ở thị trường mới khó kéo dài như mong muốn.
d. Chiến lược sản phẩm mới – thị trường mới:
• Thời gian ( điều kiện ) áp dụng:
4
9 Có thể tiến hành ở cuối pha chín muồi và suy tàn.
9 Cũng có thể áp dụng một khi doanh nghiệp có cơ hội tốt về thị trường mới và
công nghệ sản phẩm mới.
• Mục đích yêu cầu:
9 Nhằm đem lại hiệu quả cao, mục tiêu lợi nhuận lớn.
9 Áp đảo cạnh tranh, mở rộng và chiếm lĩnh thị trường.
9 Nâng cao địa vị, uy tín của doanh nghiệp.
9 Yêu cầu phải có tiềm lực về công nghệ và vốn ( thường là công ty lớn ).
9 Nghiên cứu thị trường năng động, sâu sắc để tránh rủi ro.
• Ý nghĩa:
Ngọc Hải mới trình làng đang hứa hẹn khả năng ứng dụng lớn trong ngành thủy sản và
nội thất cao cấp.
Thành lập từ năm 1986, cái tên Ngọc Hải có lẽ không xa lạ với nhiều nhà chế biến
thủy sản và ngư dân trong nước, vì từ lâu đây là nhãn hiệu quen thuộc của những sản phẩm
như khay hải sản, rổ, rá và thùng chứa nguyên liệu vẫn dùng trong các nhà máy chế biến, cơ
sở sơ chế thủy sản và trên các tàu cá, nhất là khu vực miền bắc và miền trung.
Trong một lần đi công tác nước ngoài cuối những năm 1990, lúc đi qua khu nhà đang
thi công tình cờ giám đốc Nguyễn Hồng Nhật nhặt được một mảnh vật liệu mà người ta đang
l
ắp đặt nội thất, hỏi ra mới biết đó là nhựa gỗ - một loại vật liệu rất được ưa chuộng vì có khả
năng thay thế gỗ tự nhiên, trong đó thành phần chính là bột xenlulo và PVC . Miếng vật liệu
lạ nửa nhựa nửa gỗ ấy đã làm anh suy nghĩ: tại sao mình không thử sản xuất WPC để thay thế
gỗ tự nhiên đang dần cạn kiệt do khai thác r
ừng bừa bãi ở trong nước?
Qua tìm tòi nghiên cứu tài liệu, học hỏi kinh nghiệm các đối tác nước ngoài, đầu năm
2002, Ngọc Hải mạnh dạn nhập khẩu toàn bộ dây chuyền từ Đài Loan để có thể sản xuất loại
vật liệu làm nội thất này mặc dù biết rằng để được thị trường chấp nhận là cả một quá trình
lâu dài để đưa sản phẩm đến gần với thị trường Việt Nam nói chung và người tiêu dùng nói
riêng. “Chúng tôi có kế hoạch phát triển sâu hơn, mặc dù nhu cầu về loại vật liệu này chưa
6
cao. Đó là sử dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có trong nước, như bột gỗ, tre, nứa... được lấy
từ trồng rừng” - giám đốc Hồng Nhật cho biết.
WPC là gì?
Nhựa gỗ là một loại hợp chất có thành phần cơ bản là xenluloza (như bột gỗ, sợi lanh,
sợi đay,...) kết hợp với các loại vật liệu polime (như PP, PE, PVC) và các phụ gia khác. Chính
các vật liệu trên làm sản phẩm có độ bền cao, giá thành thấp và điều quan trọng làm làm
chúng rất giống với gỗ tự nhiên. Hỗn hợp nhựa gỗ được đưa vào khoang chứa nguyên liệu
của máy đùn , dưới sự tác động của áp lực và nhiệt độ lên tới hơn 180
o
Hiện nay trên thị trường có những sản phẩm tương tự nhưng là sản phẩm nhập khẩu
nên giá rất cao. Sản phẩm rất dễ bị nhầm với gỗ MDF - một sản phẩm làm từ bột gỗ thô trộn
với keo, được cán ép để tạo hình và phủ sơn bóng trên bề mặt. MDF không chịu được độ ẩm
cao và dễ bắt lửa. Tiếp xúc với nước nhiều, loại sản phẩm này sẽ dãn nở và lớp sơn bề mặt bị
bong. Ngược lại, các sản phẩm WPC có thể ngâm nước hàng tuần liền mà không làm thay đổi
hình dạng cũng như chất lượng của nó.
Được sản xuất trong nước, nhưng công nghệ cũng như các loại hạt nhựa và phụ gia
hoàn toàn nhập khẩu, chỉ có bột gỗ được sản xuất tại chỗ, WPC mang lại cho khách hàng sự
yên tâm v
ề chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế như các sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ
hoặc Châu Âu, nhưng với giá rẻ.
Thích hợp với môi trường có độ ẩm cao
Thoạt đầu, khi đưa sản phẩm ra thị trường giám đốc Trần Hồng Nhật chưa nảy ra ý
định đưa sản phẩm này đến với các DN chế biến thủy sản, nhưng m
ột lần tình cờ đến thăm cơ
sở chế biến thủy sản của một người bạn, ông thấy phần lớn cửa sổ, cửa ra vào đều được làm
bằng nhôm và sau một thời gian ngắn sử dụng chúng bị ăn mòn rất nhanh vì môi trường ẩm
ướt trong các phân xưởng chế biến. “Nếu sử dụng nhựa gỗ Ngọc Hải để nâng cấp nhà xưởng
như ốp tường, lát sàn, làm cửa sổ và cửa ra vào thì đây là loại vật liệu lý tưởng, vừa bền vừa
đẹp” - ông Nhật nhận định.
Kết quả thử nghiệm cho thấy các sản phẩm WPC có khả năng chống ẩm rất cao (độ
hấp thụ nước 0,7% so với 17,2% của gỗ thông), với độ mỏng hơn (0,2% so với 2,6%).
Chính khả năng này làm cho trên bề mặt của WPC không bao giờ xuất hiện hiện tượng
nấm mốc và phân hủy. Ngoài ra, kết quả phân tích trong phòng thí nghiệm cũng cho thấy
hợp chất WPC không chứa những thành phần có thể gây nguy hại cho môi trường và sức
khoẻ người sử dụng.
Hệ số giãn nở nhiệt của WPC tương tự như nhôm, nhưng có tính ổ định cao hơn nhôm
ở nhiệt độ thấp và chịu nén tốt hơn gỗ ở mọi điều kiện nhiệt độ. Các thí nghiệm cũng ghi nhận
khả năng chống cháy của WPC tốt hơn gỗ (46 so với 100 theo tiêu chuẩn Stradex). Khả năng
này cũng được cải thiện nếu trong quá trình trộn hỗn hợp được bổ sung chất làm chậm cháy.
được những nhu cầu về thẩm mỹ của người tiêu dùng nữa do tính lão hóa cao ( bạc màu, dễ
giòn vỡ sau một thời gian sử dụng ), độc hại ở nhiệt độ cao và dễ bắt cháy…Cùng lúc đó, sản
phẩm gia dụng và nội thất từ inox bắt đầu lên ngôi và chiếm lĩnh thị trường do tính năng bền
đẹp, cao cấp hơn hẳn.
WPC là sản phẩm rất mới ở Việt Nam, hiện nay chưa được ứng dụng vào Việt Nam
nhưng tiềm năng của sản phẩm này lại rất lớn – nó sẽ là vật liệu cao cấp tốt nhất tham gia
được vào mội lĩnh vực đời sống, đặc biệt là nội thất cao cấp.
Như vậy rõ ràng là WPC không phải dòng sản phẩm gia dụng thông thường của Nhự
a
Ngọc Hải nữa, chính vì thế thị trường tiêu thụ của công ty bây giờ cũng không phải các chợ,
các đại lý nhựa phân phối nhỏ lẻ tới người tiêu dùng nữa mà sẽ phải là một thị trường hoàn
toàn mới – thị trường cao cấp hơn hẳn để tương xứng với sản phẩm cao cấp này.