luận án tiến sĩ dạy học cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo trong đào tạo giáo viên công nghệ - Pdf 23

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học s phạm hà nội
====== o0o ======
TRN TUYN
DY HC C K THUT
THEO Lí THUYT HC TP KIN TO
TRONG O TO GIO VIấN CễNG NGH
Chuyờn ngnh : Lý lun v PPDH b mụn K thut
cụng nghip
Mó s : 62.14.01.11
LUậN áN tiến sĩ giáo dục học
Ngi hng dn khoa hc:
1. TS. Nguyn Th Thu H
2. PGS.TS Nguyn Vn Bớnh
H NI - 2014
LI CAM OAN
H Ni - 2009
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công
trình nào khác.
Xin trân trọng cảm ơn !
Tác giả
Trần Tuyến
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới:
Quý thầy, cô hướng dẫn khoa học:
1) TS Nguyễn Thị Thu Hà
2) PGS.TS Nguyễn Văn Bính
đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tác giả nhiều năm để hoàn thành luận án này.
Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Bộ môn Phương pháp dạy học - Khoa
Sư phạm kỹ thuật Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Khoa Công nghệ Trường

Trang
Chương 1 6
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC 6
THEO LÝ THUYẾT HỌC TẬP KIẾN TẠO 6
DANH MỤC CÁC BẢNG
T
T
rang
rang
Bảng 1.1: Ý kiến của SV về sử dụng PPDH 36
Bảng 1.2: Ý kiến của SV học tập CKT 37
Bảng 1.3: Ý kiến của GV về sử dụng PPDH 40
Bảng 2.1: Đề cương môn Cơ kỹ thuật 47
Bảng 3.1: Bảng phân phối thực nghiệm 115
Bảng 3.2: Bảng tần số điểm 115
Bảng 3.3: Bảng tần suất điểm 116
Bảng 3.4: Bảng tần suất hội tụ tiến 117
Bảng 3.5: Bảng tổng hợp tính phương sai ở nhóm lớp ĐC 119
Bảng 3.6: Bảng tổng hợp tính phương sai ở nhóm lớp TN 119
Bảng 3.7: Bảng so sánh phương sai, phương sai hiệu chỉnh, độ lệch chuẩn
hiệu chỉnh và hệ số biến thiên của nhóm lớp ĐC và TN 122
Bảng 3.8: Danh sách chuyên gia 124
Bảng 3.9: Kết quả xin ý kiến chuyên gia 125
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
T
T
rang
rang
Hình 1.1: Sơ đồ quá trình đồng hóa và điều ứng trong học tập 23
Hình 2.1: Sơ đồ quy trình học tập kiến tạo CKT 53

nhận thức của người học.
1
1.2. Đổi mới phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng phát huy tính
tích cực chủ động của người học
Trong giáo dục truyền thống, người dạy là “trung tâm” của mọi hoạt
động, chủ động truyền đạt kiến thức và kỹ năng đến người học. Nhưng hiện
nay Đảng và Nhà nước ta chủ trương đổi mới phát triển giáo dục và đào tạo
theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học. Theo đó, giáo dục
phải phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học phù hợp với đặc
điểm từng lớp học, môn học. Đặc biệt trong đào tạo bậc đại học, cần tạo cho
cho sinh viên môi trường thuận lợi để họ chủ động xây dựng kiến thức, làm
chủ tri thức dựa trên những hiểu biết của bản thân. Do đó, dạy học cần chú
trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, quan tâm sự tương tác tích cực với môi
trường, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động vào tình
cảm, đem lại niềm vui cho người học.
Thế giới mỗi ngày một thay đổi, xã hội ngày một phát triển, khối lượng
kiến thức ngày càng tăng, để việc lĩnh hội kiến thức được hiệu quả và bắt kịp
với thời đại bên cạnh kiến thức thì vấn đề quan trọng là phải có phương pháp
chiếm lĩnh tri thức. Do đó, dạy phương pháp chiếm lĩnh tri thức là bước quan
trọng tiên quyết hiện nay; dạy người học cách giải quyết vấn đề bằng kiến tạo
kiến thức để họ có kỹ năng trong cuộc sống hiện đại; cần hình thành năng lực
kiến tạo tri thức khi người học còn ngồi trên ghế nhà trường.
1.3. Lý thuyết học tập kiến tạo đối với đổi mới phương pháp dạy học
môn học Cơ kỹ thuật
Tạo môi trường học tập thích hợp để người học chủ động kiến tạo tri
thức đó là tư tưởng cốt lõi của Lý thuyết học tập kiến tạo. Trong khi đó, dạy
học Cơ kỹ thuật cần được đổi mới theo hướng tích cực hóa hoạt động của sinh
viên. Và thực tế cho thấy có thể vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo trong dạy
học Cơ kỹ thuật góp phần đổi mới phương pháp dạy học, phát triển giáo dục
theo hướng hiện đại.

trình độ cao đẳng.
3
3.2. Đối tượng nghiên cứu
- Khả năng ứng dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học và vận dụng
vào dạy học môn Cơ kỹ thuật.
- Các biện pháp dạy học môn Cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập kiến tạo.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu lý thuyết học tập kiến tạo và vận dụng vào
dạy học môn Cơ kỹ thuật trong chương trình đào tạo giáo viên Công nghệ
trình độ cao đẳng.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất và vận dụng hợp lý các biện pháp dạy học môn Cơ kỹ
thuật (trong chương trình đào tạo CĐSP) theo lý thuyết học tập kiến tạo thì
sẽ dạy được cho SV không chỉ nắm vững kiến thức mà cả phương pháp
chiễn lĩnh (phương pháp nghiên cứu) kiến thức đó, giúp cho họ có khả
năng học tập suốt đời.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Xây dựng cơ sở lý luận về lý thuyết học tập kiến tạo, và ứng dụng
trong dạy học nói chung và trong dạy học Cơ kỹ thuật của chương trình đào
tạo giáo viên Công nghệ trung học cơ sở.
5.2. Tìm hiểu thực trạng dạy học Cơ kỹ thuật ở trường cao đẳng sư phạm
trên quan điểm của lý thuyết học tập kiến tạo.
5.3. Phân tích logic kiến thức Cơ kỹ thuật trong chương trình đào tạo
giáo viên trung học cơ sở làm cơ sở cho dạy học các nội dung của môn học
theo lý thuyết học tập kiến tạo; xây dựng quy trình dạy học theo lý thuyết học
tập kiến tạo cho môn Cơ kỹ thuật.
5.4. Kiểm nghiệm và đánh giá dạy học Cơ kỹ thuật theo lý thuyết học tập
kiến tạo để kiểm chứng giả thuyết của đề tài.
6. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phối hợp hệ thống phương pháp nghiên cứu sau:

5
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC
THEO LÝ THUYẾT HỌC TẬP KIẾN TẠO
1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu lý thuyết học tập kiến tạo
1.1.1. Những nghiên cứu về lý thuyết học tập kiến tạo trên thế giới
Trên thế giới, lý thuyết học tập kiến tạo có từ cổ xưa, thời Socrate (một
triết gia thành Athènes). Cụ thể từ cuộc hội thoại của ông với những người
học trò, ông đã đưa ra những câu hỏi trực tiếp để dẫn dắt người học tự nhận ra
điểm yếu trong suy nghĩ của họ. Cách trao đổi này đến nay vẫn được coi là
công cụ quan trọng trong kiến tạo mà các nhà giáo dục vận dụng để kiểm tra
kiến thức của người học và chuẩn bị cho việc hình thành kiến thức mới. Đến
cuối thế kỷ 18, đánh dấu sự ra đời quan điểm kiến tạo trong dạy học xuất phát
từ tuyên bố của nhà triết học Giam Battista Vico với đại ý: con người chỉ hiểu
một cách rõ ràng những gì mà họ tự xây dựng nên cho chính mình [27].
Sau đó Jean Piaget và John Dewey đã phát triển quan điểm kiến tạo
thành các học thuyết về sự phát triển và giáo dục trẻ em - điều này đã tạo nên
bước tiến cho lý thuyết học tập kiến tạo.
Piaget cho rằng “nền tảng cơ bản của việc học là khám phá”. Nhà tâm lý
học người Thụy Sĩ này còn xây dựng lý thuyết học tập dựa trên quá trình
“đồng hóa” và “điều ứng” trong nhận thức của người học với nội dung: con
người học tập thông qua việc thiết lập nên chuỗi logic liên tiếp nhau, cái này
nối tiếp cái kia. Những kiến thức mà người học hôm nay biết được có mối
liên hệ với những kiến thức mà họ đã được học hôm qua, đây chính là cơ sở
của việc giáo dục dựa trên lý thuyết học tập kiến tạo [27, tr.24].
John Dewey, triết gia hàng đầu ở thế kỷ 20, nhà tâm lý học, nhà giáo dục
học người Mỹ yêu cầu giáo dục phải dựa trên kinh nghiệm thực tế. Ông cho
rằng việc học tập là một quá trình liên tiếp, những dữ liệu có được hôm nay là
6
bằng chứng cho quá trình học tập ở ngày mai. Đây là cơ sở ra đời của lý

tạo, người học không chỉ tham gia vào quá trình khám phá, phát minh mà còn
tham gia vào cả quá trình xã hội bao gồm việc giải thích trao đổi, đàm phán
và đánh giá. Những tri thức mới của người học nhận được từ việc điều chỉnh
lại thế giới quan của họ để cho tri thức đó phải đáp ứng yêu cầu mà thực tế tự
nhiên và thực trạng xã hội đặt ra [13].
Douglas H. Clementes và Michael T. Battista vận dụng lý thuyết học tập
kiến tạo vào dạy học Toán với quan điểm: Kiến thức được người học chủ
động và phát hiện chứ không phải thụ động tiếp nhận từ người khác mang đến
hay do môi trường đem lại. Người học tạo dựng nên kiến thức mới cho bản
thân thông qua hoạt động thể chất và trí tuệ. Sự biểu đạt thế giới và hiểu biết
về tri thức khoa học mang tính cá nhân của người học. Học là một hoạt động
xã hội trong đó người học dần hòa mình vào hoạt động trí tuệ của những
người xung quanh [13].
Trên con đường đi tìm lý thuyết kiến tạo cho dạy học, nhà nghiên cứu
Paul Ernest đã phân chia lý thuyết học tập kiến tạo thành hai loại: Kiến tạo cơ
bản và kiến tạo xã hội. Cùng quan điểm kiến tạo cơ bản, Nerida F. Ellerton
và M. A. Clementes cho rằng: tri thức được kiến tạo một cách cá nhân, thông
qua cách thức hoạt động của mỗi cá nhân. Quan điểm này giống với luận
điểm của Ernt Von Glaserfeld là: kiến thức là kết quả của hoạt động kiến tạo
của chính chủ thể nhận thức, không phải là thứ sản phẩm mà bằng cách này
hay cách khác tồn tại bên ngoài chủ thể nhận thức và có thể được truyền đạt
hoặc thấm nhuần bởi sự cần cù nhận thức hoặc giao tiếp. Về quan điểm kiến
tạo xã hội có nhà nghiên cứu Nor Joharudeen, ông nghiên cứu học tập ở góc
độ xã hội, nghiên cứu chỉ rõ sự kiến tạo kiến thức bằng việc nhấn mạnh đến
vai trò của các yếu tố văn hóa, các điều kiện xã hội và sự tác động của các yếu
tố xã hội đến nhận thức của người học [13].
8
Bruner, nhà tâm lý học người Mỹ trong quá trình nghiên cứu đã đề xuất
thay đổi chương trình dạy học dựa trên quan điểm học tập là một quá trình
tích cực và mang tính xã hội; trong đó, người học tổ chức nên những ý kiến

học tập kiến tạo vào dạy học. Thực tế đã cho thấy nền giáo dục của các nước
này rất phát triển. Đó là kết quả của nhiều tác động trong đó các nước này đã
áp dụng các phương pháp dạy học tích cực theo lý thuyết học tập kiến tạo.
Trên thế giới tiêu biểu có Thụy Điển, đất nước thực hiện cuộc cải cách
giáo dục từ mẫu giáo cho đến hết trung học phổ thông theo “chủ thuyết xây
dựng kiến thức” (lý thuyết học tập kiến tạo) kết hợp với việc chuẩn bị cho lực
lượng lao động trong nền kinh tế toàn cầu. Đây là hướng cải cách mà Dewey
một nhà cải cách Giáo dục Mỹ đã khởi xướng từ cách đây gần một thế kỷ.
Đến nay, tiến trình cải cách giáo dục của Thụy Điển đã được hơn mười năm
và đạt được những thành công to lớn. Thừa nhận đây là đường lối giáo dục
tiên tiến nhất và cũng mong muốn áp dụng, Mỹ đã cử một phái đoàn điều tra
tại hiện trường tìm hiểu, xem xét các kết quả của công cuộc cải cách này.
Hiện nay, Thụy Điển được đánh giá là đất nước có “nền giáo dục tiên tiến
nhất trên thế giới” [102].
Ở Phần Lan, Bộ Giáo dục của nước Bắc Âu này cho rằng: “Nguyên tắc
chỉ đạo của nền giáo dục Phần Lan là sinh hoạt dân chủ, lấy học sinh làm gốc.
Các trường không hề thực hiện việc tuyển chọn học sinh trong bất cứ giai
đoạn nào. Tất cả học sinh được học chung một lớp và hoàn toàn không có
chuyện ở lại lớp hay học nhảy cóc lớp. Học sinh được tự do lựa chọn những
gì các em muốn học và tự quyết định việc nên học tiếp bậc Trung học đệ nhị
cấp hay vào học ở các trường Chuyên nghiệp. Giáo viên chỉ hướng dẫn các
em trong việc lựa chọn” [100].
Cùng với Thụy Điển, Phần Lan các nước Na Uy, Đan Mạch, cũng thực
hiện nền giáo dục mà người học được làm chủ việc học tập. Người học được
10
hướng dẫn, khuyến khích tự lập và triển khai kế hoạch học tập của riêng
mình. Người dạy là người hướng dẫn, chứ không chỉ thị, áp đặt, độc đoán; tuy
nhiên họ được sự tín nhiệm và giám sát hoạt động của người học. Đó là mô
hình của dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo, và thực tế cho thấy giáo dục
của các nước này đã đạt được những thành tựu nhất định đáng để nhiều nước

để thiết kế các hoạt động dạy học [27].
Luận án tiến sỹ của Lương Việt Thái, “Nghiên cứu tổ chức quá trình dạy
học một số nội dung vật lí trong môn Khoa học ở tiểu học và môn Vật lí ở
trung học cơ sở trên cơ sở vận dụng tư tưởng của lí thuyết kiến tạo”. Là luận
án về dạy học theo lý thuyết học tập kiến tạo dựa trên quan niệm của học sinh
lớp 4 và lớp 7 về ánh sáng và âm thanh [71].
Trong những năm gần đây, cùng với phong trào đổi mới phương pháp
dạy học, nước ta có nhiều nghiên cứu đã đề cập đến lý thuyết học tập kiến tạo
với những góc độ khác nhau. Tiêu biểu có Nguyễn Hữu Châu, Thái Duy
Tuyên, Đỗ Tiến Đạt, Đào Tam, Nguyễn Quang Lạc, Bùi Phương Nga, …các
nghiên cứu đã tìm hiểu lịch sử dạy học kiến tạo và tổng kết những đặc điểm
cơ bản của việc vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học [13],[14],
[69], [78]. Tuy chưa được nhiều và chưa được triển khai rộng rãi, nhưng công
trình của các tác giả ở Việt Nam trong thời gian gần đây đã cho thấy quá trình
đổi mới giáo dục ở nước ta đang được các nhà sư phạm hưởng ứng mạnh mẽ,
đặc biệt là việc vận dụng các phương pháp dạy học tích cực vào dạy học,
trong đó bước đầu vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo vào dạy học.
Nghiên cứu của các tác giả trong nước cho người đọc cách tiếp cận lý
thuyết học tập kiến tạo ở nhiều phương diện khác nhau. Các nghiên cứu cho
thấy có thể vận dụng lý thuyết học tập kiến tạo trong dạy học với quan điểm
kiến tạo nhận thức, kiến tạo cơ bản, kiến tạo xã hội. Điều này nói lên giáo dục
Việt Nam trong những năm gần đây đang dần thay đổi theo hướng dạy học
12
tập trung vào người học. Đây là sự đổi mới dạy học, trong đó có sự vận dụng
tư tưởng của lý thuyết học tập kiến tạo. Tuy mới ở bước đầu, kết quả chưa rõ
ràng nhưng công trình của các tác giả đã chứng tỏ nghiên cứu phát triển lý
thuyết học tập kiến tạo phù hợp với thực tế hoàn cảnh và điều kiện giáo dục
của nước ta.
Một số tác giả nghiên cứu lý thuyết học tập kiến tạo theo hướng vận
dụng vào dạy học bộ môn đặc trưng. Như nghiên cứu đổi mới dạy học Hóa

Trong đời sống, kiến tạo được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực liên
quan đến những hoạt động. Động từ kiến tạo chỉ hoạt động của con người tác
động lên một đối tượng, hiện tượng, quan hệ nhằm mục đích hiểu chúng và sử
dụng chúng như những công cụ ký hiệu để xây dựng nên các đối tượng, các
hiện tượng, các quan hệ mới hơn.
Thực tiễn lịch sử loài người đã chứng tỏ con người không bao giờ khuất
phục trước thiên nhiên; trái lại luôn chinh phục thiên nhiên, bắt thiên nhiên
phục vụ cuộc sống con người. Chính điều này đã làm cho con người khác với
các động vật khác; từ thế hệ này qua thế hệ khác những kinh nghiệm được
con người đúc rút và truyền cho thế hệ sau; để rồi càng ngày con người càng
chinh phục được thiên nhiên làm cho họ càng khác xa với động vật. Quá trình
đó còn gọi là sự kiến tạo trong đời sống để con người tồn tại và phát triển.
Tóm lại, kiến tạo là hoạt động của con người dựa vào khả năng hiện có
của mình để chinh phục thế giới quan tồn tại xung quanh cá nhân và trở thành
kỹ năng.
Trong những nghiên cứu về dạy học, người ta xem xét kiến tạo là một
học thuyết mà mô hình lý thuyết của nó chính là cơ sở tâm sinh học để giải
thích cơ chế học tập [83]. Tư tưởng nền tảng cơ bản của thuyết kiến tạo là đặt
vai trò của chủ thể nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức.
14
Thực tiễn cho thấy mỗi người hình thành thế giới quan riêng của mình. Tất cả
những gì mà mỗi người trải nghiệm thì sẽ được sắp xếp chúng vào trong "bức
tranh toàn cảnh về thế giới" của người đó, tức là tự kiến tạo riêng cho mình
một bức tranh thế giới. Điều đó cho thấy cơ chế học tập theo thuyết kiến tạo
khác thuyết hành vi, thuyết phản xạ, thuyết nhận thức.
Lý thuyết về kiến tạo khá phong phú cho việc nghiên cứu và vận dụng.
Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu kiến tạo và vận dụng vào dạy học dựa
trên quan điểm nhận thức (kiến tạo nhận thức). Nghiên cứu về lý thuyết học
tập kiến tạo và quá trình tổ chức dạy học trên cơ sở lý thuyết của Piaget. Đó là
lý thuyết về quá trình nhận thức của người học mà hoạt động học tập (học tập

định mô hình thông tin và liên kết mô hình đó với thông tin từ các tình huống
và hoàn cảnh khác nhau. Hệ quả của việc xác định các mối quan hệ mới chưa
được thừa nhận trước đây là người học thay đổi nhận thức của mình, do đó
học làm biến đổi con người. Có thể xem học là sự thông hiểu thế giới bằng
nhiều con đường khác nhau mà kết quả làm biến đổi bản thân con người. Mặt
khác, học là quá trình tự tạo ra sự tiến hóa tổng hợp về tri thức, kỹ năng, thái
độ và giá trị của một con người, nên xét về chiều sâu, học có bản chất cốt lõi
là tự học [75, tr.62]. Như vậy, học là quá trình thông hiểu bản chất thông tin,
liên kết thông tin cũ và mới, lý giải và kiểm nghiệm các giá trị trong thực tiễn,
là quá trình kiến tạo nhận thức, biến đổi nhận thức, biến đổi con người.
Học chính là quá trình người học chiếm lĩnh kiến thức mới bằng nhiều
cách khác nhau. Người học chiếm lĩnh kiến thức mới (học được cái mới) có
thể do người khác (thầy, chuyên gia, bạn bè, ) truyền thụ, giảng giải cho; có
thể do thầy giáo hướng dẫn cho cách thức hành động (cách thức sử dụng công
cụ Toán học, cách thức làm thí nghiệm, ), theo đó mà hành động để chiếm
lĩnh kiến thức. Người học có thể được hướng dẫn sử dụng quy trình giải quyết
vấn đề mà nhà khoa học đã sử dụng khi giải quyết một vấn đề do thực tiễn đặt
16
ra. Các cách học mà người học chiếm lĩnh kiến thức mới từ kinh nghiệm của
mình (kiến thức, kỹ năng đã có) chứ không phải do giáo viên giới thiệu,
truyền thụ cho một cách thụ động đều mang tính chất học tập kiến tạo.
Học tập kiến tạo là hoạt động xã hội được tổ chức và kiểm soát chặt chẽ.
Học tập kiến tạo là hoạt động kiến tạo kiến thức của người học. Người học
diễn ra quá trình đồng hóa và điều ứng kiến thức và kinh nghiệm để xây dựng
nên kiến thức và kinh nghiệm mới, kiến thức và kinh nghiệm này sẽ là
nguyên liệu để người học tiếp tục kiến tạo kiến thức mới hơn. Học tập kiến
tạo đã góp phần làm cho nền văn hóa loài người được giữ gìn và phát triển.
Người học chiếm lĩnh tri thức được thể hiện qua các hình thức:
- Cá nhân kiến tạo hay tự nghiên cứu: Quan sát, đọc, viết, tự hỏi, ghi
chép, nghe băng, xem băng hình, xem tivi, làm việc với máy tính, vẽ biểu đồ,

học sẽ biết cách trình bày, bảo vệ ý kiến của mình, có tinh thần hợp tác, xây
dựng cộng đồng nhỏ học tập của mình. Trong quá trình tương tác do va chạm
với nhiều quan điểm khác nhau, trình độ nhận thức khác nhau, người học sẽ
phát triển được ngôn ngữ, mở rộng chiều sâu khái quát, tổng hợp của tư duy.
Tóm lại, học tập kiến tạo là hoạt động của người học được diễn ra bằng
chính hoạt động của chủ thể nhận thức. Người học xây dựng kiến thức cho
chính mình trên cơ sở những kiến thức vốn có và sự tương tác với môi trường
nhằm sửa đổi hoặc mở rộng kiến thức của bản thân.
1.2.3. Đồng hóa
Tiếng Anh là Assimilation, có nghĩa là sự tiêu hóa, hấp thu được, sự
đồng hóa. Trong giáo dục, Assimilation được xem xét với nghĩa đồng hóa, là
chủ thể tái lập lại một số đặc điểm của khách thể được nhận thức, đưa chúng
vào trong các sơ đồ đã có. Thuật ngữ đồng hóa sử dụng trong đề tài nhằm mô
tả một sự thay đổi trong nhận thức người học có kết quả từ những nhận thức
cũ bằng sự tương tác giữa các thành viên học tập.
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status