Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
MỤC LỤC
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 1
Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
LỜI CẢM ƠN
Qua một quá trình nghiên cứu tích cực và nghiêm túc dưới sự hướng dẫn
nhiệt tình của cô “Đặng Thị Vân Anh”, chúng em đã hoàn thành đề tài “Nghiên
cứu vấn đề thanh toán qua mạng”. Chúng em xin chân thành cảm ơn cô trong
suốt thời gian qua đã hướng dẫn, chỉ bảo chúng em tận tình trong suốt quá trình
thực hiện đề tài.
Chúng em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô trong trường Đại học Sư
phạm Kỹ thuật Hưng Yên nói chung và quý thầy cô khoa Công nghệ thông tin nói
riêng đã tạo điều kiện cho chúng em được hoàn thành một cách tốt nhất đề tài này.
Do thời gian không có nhiều, vì vậy chúng em rất mong nhận được sự
hướng dẫn, chỉ bảo nhiều hơn nữa của quý thầy cô và các bạn để chúng em tiếp tục
nghiên cứu và phát triển đề tài này.
Chúng em xin chân thành cảm ơn !
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 2
Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT TỪ VIẾT TẮT TỪ HOÀN CHỈNH GIẢI THÍCH
1 TMĐT Thương mại điện tử
Bao gồm tất cả các dịch vụ trao
đổi, mua bán trong môi trường
mạng
2 ĐH Đại học Đại học
3 SV Sinh viên Sinh viên
4 TTQM Thanh toán qua mạng
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 3
Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
Phân tích được thực trạng của vấn đề thanh toán trực tuyến trong thực tế
hiện nay.
Đưa ra kiến nghị hoặc phương hướng phát triển, cải thiện hệ thống thanh
toán trực tuyến trong thực tế của thương mại điện tử nước nhà.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể
Các doanh nghiệp, cá nhân tham gia thương mại điện tử.
3.2. Đối tượng
Vấn đề thanh toán trực tuyến của các cá nhân, doanh nghiệp tham gia
thương mại điện tử.
4. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài này là:
Các doanh nghiệp, cá nhân có hệ thống thương mại điển lớn trong môi
trường mạng.
Vấn đề thanh toán trực tuyến và các vấn đề xoay quanh thanh toán trực
tuyến của thương mại điện tử.
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 5
Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
PHẦN 2. NỘI DUNG
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN QUA MẠNG
Từ năm 2005 trở về trước, các website thương mại điện tử Việt Nam chủ
yếu chỉ cung cấp thông tin sản phẩm và dịch vụ. Các giao dịch B2C và C2C tự
phát triển theo nhu cầu của thị trường một cách nhỏ lẻ do thiếu sự bảo hộ về pháp
luật. Lúc đó, cơ sở hạ tầng cho thanh toán điện tử trong các giao dịch thương mại
điện tử chưa được xây dựng. Đến năm 2006, khung pháp lý về thương mại điện tử
cơ bản đa hình thành, thanh toán điện tử bắt đầu được nhắc đến, một số ngân hàng
tiên phong triển khai thanh toán điện tử nhưng vẫn có tính chất đơn lẻ, manh mún
với dịch vụ thanh toán hoá đơn qua ATM, dịch vụ ngân hàng trực tuyến chỉ dừng
lại ở tiện ích cung cấp thông tin.
Tuy nhiên, từ đầu năm 2007, thanh toán điện tử đa có bước phát triển mạnh
hàng khác hoặc được qui thành tiền. Giao dịch này làm cho lượng tiền của người
mua giảm đi và người bán tăng lên.
Thanh toán qua mạng
Là hình thức thanh toán có sử dụng các thiết bị điện tử công nghệ cao, các
giao dịch được tiến hành qua mạng. Thanh toán qua mạng là việc thanh toán tiền
qua các thông điệp điện tử thay cho việc thanh toán bằng tiền mặt. Về mục đích
thanh toán qua mạng là hệ thống cho phép các bên tham gia có thể tiến hành mua
bán được. Tuy nhiên, các bên giao dịch thì lại hoàn toàn mới, người thực hiện giao
dịch xử lý thanh toán bằng phương pháp thông qua các khâu được thực hiện trên
máy tính.
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 7
Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
Với thanh toán qua mạng, các bên mua – bán có thể giao dịch với nhau,
không phải gặp nhau, không cần dùng tiền mặt. Các bên trong hệ thống TTQM sẽ
trao đổ với nhau các chứng từ số hóa. Bên được thanh toán có thể thông wua ngân
hàng của mình để chuyển tiền vào tài khoản của mình. Các quá trình này được
phản ánh trong các giao thức thanh toán của hệ thống, đó là thứ tự các bước gửi
thông tin và xử lý số liệu giữa các bên, mục đích là chuyển đầy đủ các chứng từ
thanh toán, đảm bảo an toàn và công bằng cho bên theo yêu cầu tường minh ban
đầu.
1.2. Lợi ích của thanh toán qua mạng
1.2.1. Một số lợi ích chung của TMĐT
- Hoàn thiện và phát triển thương mại điện tử
Xét trên nhiều phương diện, TTQM là nền tảng của các hệ thống thương mại
điện tử. Sự khác biệt cơ bản giữa TMĐT với các ứng dụng khác cung cấp trên
Internet chính là nhờ khả năng thanh toán trực tuyến này. Do vậy, việc phát triển
TTQM sẽ hoàn thiện hóa TMĐT, để TMĐT được theo đúng nghĩa của nó – các
giao dịch hoàn toàn qua mạng, người mua chỉ cần thao tác trên máy tính cá nhân
của mình để mua hàng, các doanh nghiệp có những hệ thống xử lý tiền số tự động.
Một khi thanh toán trong TMĐT an toàn, tiện lợi, việc phát triển TMĐT trên toàn
• Mở rộng thị trường thông qua Internet, ngân hàng thay vì mở nhiều chi
nhánh ở các nước khác nhau có thể cung cấp dịch vụ Internte banking để
mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ.
- Đa dạng hóa dịch vụ sản phẩm
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 9
Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
Ngày nay, dịch vụ ngân hàng đang vươn tới từng người dân. Đó là dịch vụ
ngân hàng tiêu dùng và bán lẻ. Ngân hàng điện tử với sự trợ giúp của công nghệ
thông tin cho phép tiến hành các giao dịch bán lẻ với tốc độ cao và liên tục.
- Nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo nét riêng trong kinh doanh.
Ngân hàng điện tử giúp các ngân hàng tạo và duy trì một hệ thống khách
hàng rỗng rãi và bền vững. Thay vì phải xếp hàng rất lâu chờ rút tiền tại chi nhánh
1 khách hàng có thể đi tới máy rút tiền tự động của 1 ngân hàng khác và thực hiện
giao dịch trong vài phút. Thế mạnh về dịch vụ ngân hàng điện tử cũng là 1 đặc
điểm để các ngân hàng hiện đại tạo dựng nét riêng của mình.
- Thực hiện chiến lược toàn cầu hoá
Một lợi ích quan trọng khác mà ngân hàng điện tử đem lại cho ngân hàng, đó
là việc ngân hàng có thể thực hiện chiến lược toàn cầu hóa, chiến lược bành trướng
mà không cần phải mở thêm chi nhánh. Ngân hàng có thể vừa tiết kiệm chi phí do
không phải thiết lập quá nhiều các trụ sở hoặc văn phòng, nhân sự gọn nhẹ hơn,
đồng thời lại có thể phục vụ một khối lượng khách hàng lớn hơn.
- Xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu toàn cầu
Thông qua Internet, ngân hàng có thể đăng tải tất cả những thông tin tài
chính, giá trị tài sản, các dịch vụ của ngân hàng mình, để phục vụ cho mục đích
xúc tiến quảng cáo. Có thể ngân hàng chưa thể tiến hành các giao dịch tài chính
trực tuyến, song bằng cách thiết lập các trang web của riêng mình với chức năng
ban đầu là cung cấp thông tin và giải đáp ý kiến thắc mắc của khách hàng qua
mạng, ngân hàng cũng được coi là đã bước đầu tham gia áp dụng dịch vụ ngân
hàng điện tử và hòa mình vào xu thế chung.
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 10
thẻ dễ bị lừa ăn cắp thẻ cùng với số PIN. Việc để lộ số PIN có thẻ là do chủ thẻ vô
tình để lộ hoặc bị ăn cắp một cách tinh vi. Bên cạnh đó chủ thẻ còn gặp phải tình
trạng làm giả thẻ tín dụng ngày càng tinh vi.
• Rủi ro đối với ngân hàng phát hành
Rủi ro thứ nhất là việc chủ thẻ lừa dối sử dụng thẻ tại nhiều điểm thanh toán
thẻ khác nhau với mức thanh toán thẻ khác nhau với mức thanh toán thấp hơn mức
thanh toán nhưng tổng số tiền thanh toán lại cao hơn hoạn mức thanh toán trong
thẻ. Một hình thức lừa dối khác từ phía chủ thẻ là do việc lợi dụng tính chất thanh
toán quốc tế của thẻ để thông đồng với người khác chuyển thẻ ra nước khác để
thanh toán ngoài quốc gia chủ thẻ cư trú.
• Rủi ro đối với ngân hàng thanh toán
Tuy chỉ là đơn vị trung gian trong hoạt động thanh toán thẻ song các ngân
hàng thanh toán cũng có thể gặp rủi ro nếu họ có sai sót trong việc cấp phép cho
các khoản thanh toán có giá trị lớn hơn hạn mức quy định. Bên cạnh đó, nếu không
kịp thời cung cấp cho các đơn vị chấp nhận thẻ danh sách các thẻ bị mất hoặc bị vô
hiều mà trong thời gian đó các thẻ này vẫn được sử dụng thì các ngân hàng phát
hành sẽ từ chối thanh toán cho những khoản này.
• Rủi ro cho các đơn vị chấp nhận thẻ
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 12
Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
Rủi ro cho các đơn vị chấp nhận thẻ chủ yếu là bị từ chối thanh toán cho số
hàng hóa cung ứng ra vì các lý do liên quan đến thẻ. Đó là việc thẻ bị hết hiệu lực
nhưng các đơn vị chấp nhận thẻ không phát hiện ra mặc dù đã được thông báo. Tự
ý sửa đối các hóa đơn (vô tình hoặc cố ý) và bị các ngân hàng phát hiện ra thì cũng
sẽ không được thanh toán.
- Vấn đề bảo mật thông tin
Việc đảm bảo an toàn thông tin tiền gửi và tài sản gửi của khách hàng là
nghĩa vụ của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, với
trình độ khoa học rất phát triển, số lượng các vụ xâm nhập trái phép vào hệ thống
ngân hàng qua mạng internet ngày càng phát triển và tinh vi thì việc lưu chuyển
này có thể dễ dàng chuyển sang ngoại tệ khác với tỷ giá tốt nhất.
- Hiệu quả
Chi phí cho mỗi giao dịch nên chỉ là một con số rất nhỏ (gần bằng 0), đặc
biệt với những giao dịch giá trị thấp.
- Tính linh hoạt
1.5. Thực trạng của hoạt động thanh toán
1.5.1. Lượng tiền mặt lưu thông còn cao
Nhìn chung, thanh toán bằng tiền mặt còn rất phổ biến trong các giao dịch
hàng ngày của người dân. Tiền mặt vẫn là phương tiện thanh toán chiếm tỷ trọng
lớn trong khu vực doanh nghiệp và người tiêu dùng cá nhân. Theo khảo sát của
Ngân hàng Nhà nước về thực trạng thanh toán năm 2003 tại 750 doanh nghiệp trên
cả nước (trong đó doanh nghiệp nhà nước chiếm hơn 80%), đối với những doanh
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 14
Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
nghiệp lớn có trên 500 công nhân, khoảng 63% số giao dịch của doanh nghiệp
được tiến hành qua hệ thống ngân hàng; doanh nghiệp có ít hơn 25 công nhân thì
tỷ lệ này chỉ còn 47%. Đối với hộ kinh doanh, 86,2% hộ chi trả hàng hoá bằng tiền
mặt. Kết quả điều tra cho thấy việc sử dụng tiền mặt trong giao dịch của doanh
nghiệp, đặc biệt là giao dịch với người tiêu dùng còn ở mức rất cao. Tuy nhiên,
khoảng hai năm trở lại đây, hoạt động thanh toán trong ngân hàng đã có những dấu
hiệu khả quan với sự ra đời của nhiều phương thức thanh toán mới. Những dịch vụ
này đa phần nào giảm thiểu việc sử dụng tiền mặt trong thanh toán của doanh
nghiệp và người tiêu dùng. Theo Đề án Thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn
2006-2010 và định hướng đến năm 2020, tỷ trọng tiền mặt so với tổng phương tiện
thanh toán có xu hướng giảm dần. Năm 1997 tỷ trọng này là 32,2%, nhưng đến
năm 2001, con số này giảm xuống còn 23,7%, năm 2004 là 20,3%, năm 2005 là
19% và đến đầu tháng 3 năm 2006 còn 18,5%
Hình 1.1. Tỷ trọng tiền mặt so với tổng phương tiện thanh toán
Nguồn: Đề án Thanh toán không dùng tiền mặt giai đoạn 2006- 2010 và định
hướng đến năm 2020.
Hình 1.2. Số lượng tài khoản cá nhân giai đoạn 2000- 2007
Số lượng tài khoản tăng nhanh là một dấu hiệu đáng mừng cho ngành ngân
hàng trong việc phát triển các dịch vụ thanh toán. Đây cũng là giải pháp hữu hiệu
để giảm lượng tiền mặt sử dụng trong thanh toán thời gian tới. Do đó, hệ thống các
ngân hàng thương mại Việt Nam cần chú trọng hơn nữa việc nâng cao hiệu quả
hoạt động thanh toán điện tử trong bối cảnh lượng tài khoản cá nhân ngày càng
nhiều.
1.5.3. Mở rộng đối tượng tham gia cung ứng dịch vụ thanh toán
Thị trường dịch vụ thanh toán đang trở nên cạnh tranh hơn khi đối tượng
tham gia cung ứng dịch vụ không chỉ giới hạn ở ngân hàng mà được mở rộng sang
các tổ chức khác như Công ty Dịch vụ tiết kiệm bưu điện, các công ty cung cấp
giải pháp thanh toán, v.v Vì vậy, cạnh tranh không chỉ diễn ra trong ngành ngân
hàng mà còn giữa ngân hàng với các tổ chức làm thanh toán khác. Mức độ cạnh
tranh ngày một tăng khiến các đơn vị phải nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như
giới thiệu thêm nhiều dịch vụ mới, nhờ đó nhu cầu đa dạng của khách hàng sẽ ngày
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 17
Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
càng được đáp ứng tốt hơn. Xu hướng liên doanh, liên kết giữa các ngân hàng đa
bắt đầu hình thành. Lợi ích của xu hướng này là giúp các ngân hàng thương mại
nhỏ vượt qua được những hạn chế về vốn đầu tư cho trang thiết bị công nghệ phục
vụ việc hiện đại hoá hệ thống thanh toán, đặc biệt là hình thức thanh toán thẻ.
Chính nhờ mối liên kết giữa các ngân hàng riêng lẻ mà tính tiện ích trong thanh
toán được cải thiện, tạo đà cho thanh toán điện tử phát triển tại Việt Nam. Như vậy,
hoạt động thanh toán thời gian qua đa có những bước tiến khá rõ nét. Việc sử dụng
tiền mặt trong giao dịch vẫn cao nhưng đa có xu hướng giảm dần. Các nhà cung
cấp dịch vụ thanh toán buộc phải tự cải tiến dưới sức ép của môi trường cạnh tranh
cũng như yêu cầu của khách hàng ngày càng cao cả về chất và lượng. Thanh toán
điện tử được coi là chìa khoá củacác doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thanh toán
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời đại công nghệ và hội nhập như hiện
nay.
ANZ/Sacombank. Trên lý thuyết, thẻ của mỗi ngân hàng thành viên có thể thực
hiện giao dịch trên máy ATM của các ngân hàng khác trong liên minh. Tuy nhiên,
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 19
Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
hiện nay từng ngân hàng thành viên lại phát triển các dịch vụ khác nhau, dẫn đến
việc khách hàng của ngân hàng này vẫn chưa thể thực hiện thao tác chuyển khoản
trên ATM của những ngân hàng khác trong cùng liên minh.
Nhóm liên minh thẻ do ngân hàng VCB khởi xướng đa thực hiện thành công
việc kết nối thanh toán thẻ giữa 17 ngân hàng thành viên. Đây là nỗ lực rất lớn của
những ngân hàng nói trên trong việc nâng cao giá trị gia tăng cho khách hàng
thông qua tạo lập một mạng lưới thanh toán trên máy ATM.
Ngày 21/4/2007, hệ thống thanh toán thẻ Việt Nam được đánh dấu bằng việc
kết nối thành công 3 ngân hàng bao gồm Ngân hàng Công Th ương Việt Nam
(Incombank), Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Ngân hàng
TMCP Sài Gòn Công Thương (SaigonBank) thông qua dịch vụ kết nối chuyển
mạch của Banknetvn. Theo Banknetvn, hệ thống kết nối của Banknetvn giúp chủ
thẻ có thể thực hiện giao dịch tại gần 25 nghìn máy ATM trong hệ thống
Banknetvn, chiếm khoảng 60% tổng số ATM trên toàn quốc.77 Qua hai tháng vận
hành chính thức, trên 83 ngàn giao dịch với tổng giá trị trên 23 tỷ đồng đa thực
hiện qua hệ thống chuyển mạch 4 ngân hàng trên của Banknetvn và có xu hướng
tăng với tốc độ khá nhanh
Như vậy, từ khi chính thức vận hành đến hết tháng 4/2007 đa có khoảng 450
giao dịch thực hiện qua hệ thống. Con số này tăng gần gấp 3 lần trong tháng
5/2007 và tăng gần gấp 5 lần trong tháng 6/2007. Dự kiến cuối năm số lượng giao
dịch sẽ tăng lên khoảng 4.000 - 4.500 giao dịch/ngày, xấp xỉ gấp 10 lần so với giai
đoạn đầu mới đi vào hoạt động.
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 20
Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
Hình 1.3. Lượng giao dịch/ ngày thông qua hệ thống chuyển mạch Banknetvn
Dự kiến, trong tương lai gần, 4 ngân hàng tiếp theo là Ngân hàng Nông
bán hàng trên mạng (Internet merchant account). Tài khoản bán hàng này bạn có
thể đăng ký với ngân hàng của bạn nếu ngân hàng có dịch vụ này hoặc với các
dịch vụ cung cấp phần mềm xử lý quá trình thanh toán trực tuyến như Cybercash,
Paymentnet, Merchantwarehouse…Các ngân hàng hoặc nhà cung cấp dịch vụ khi
cấp cho bạn Merchant account sẽ được gọi là Acquirer, chịu trách nhiệm xử lý
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 22
Nghiên cứu vấn đề thanh toán qua mạng
thông tin thẻ trong quá trình thanh toán. Trên website bán hàng, người bán phải
trang bị những tính năng sau:
- Shopping cart (giỏ mua hàng): có thể do nhà cung cấp dịch vụ thiết kế website
xây dựng hoặc phần mềm có sẵn bán trên mạng. Người mua hàng khi đang xem
hàng trên website có thể chọn mua sản phẩm bằng cách nhấn nút “Buy”, mặt
hàng sẽ được lưu lại trong giỏ hàng, người mua có thể chọn nhiều mặt hàng, khi
quyết định mua hàng có thể xem giỏ hàng để xem lại các mặt hàng, thay đổi số
lượng hàng, tính tiền. Để kết nối được với dịch vụ thanh toán qua mạng,
shopping cart cần được xây dựng để đạt một số tiêu chuẩn tích hợp.
- Payment gateway: là một phần mềm dùng để xử lý việc thanh toán của thẻ tín
dụng bao gồm việc xác nhận thông tin của thẻ tín dụng là có thật và hợp lệ, thực
hiện các lệnh chuyển tiền. (công nghệ tốt sẽ hạn chế rủi ro của thẻ tín dụng giả
mạo)
Hai tính năng trên của website phải được thực hiện trên máy chủ an toàn
(secure server) để đảm bảo tính bảo mật của các thông tin về thẻ tín dụng khi
nhập trên website và trong quá trình thực hiện giao dịch. Qui trình thanh toán
được thực hiện như sau:
- Người mua có thẻ tín dụng (Cardholder) khi quyết định mua hàng sẽ nhập các
thông tin về thẻ tín dụng của mình như: số thẻ, mã số an toàn, thời hạn của thẻ,
họ và tên chủ sở hữu, địa chỉ thanh toán trên website, những thông tin này sẽ
được chuyển đến cho ngân hàng hay nhà dịch vụ cung cấp payment gateway là
các Acquirer. Acquirer sẽ gửi thông tin về thẻ tới dịch vụ cung cấp thẻ và ngân
hàng phát hành thẻ để kiểm tra tính hợp lệ của thẻ và kiểm tra khả năng thanh
Bước 2: Thực hiện chuyển số tiền tương ứng cần thanh toán vào ngân hàng bạn đã
chọn.
2.3. Thanh toán qua đơn vị tín dụng trung gian
Đây là hình thức thanh toán đang dần phổ biến ở Việt Nam. Tùy theo năng
lực và khả năng đàm phán của các công ty tín dụng, một người dùng có tài khoản ở
công ty tín dụng có thể chỉ mua được một vài loại hàng của các công ty bán hàng
trong nước, hoặc mua được khá nhiều loại hàng ở trong nước và trên mạng quốc tế
eBay mà không có tài khoản Paypal.
Cách đây khoảng 1 năm, dịch vụ Mobivi (www.mobivi.com.vn) cho phép
người dùng lập tài khoản trên mạng Mobivi, rồi dùng tài khoản này để đặt tour du
lịch, mua tên miền, hosting, hoa tươi, sách, hàng hóa ở một vài đơn vị chuyên bán
hàng trực tuyến. Mới đây, dịch vụ NganLuong.vn (www.nganluong.vn) của công
ty giải pháp phần mềm Hòa Bình (Peacesoft) ra đời đã mở rộng khả năng thanh
toán và liên kết với các website bán hàng trực tuyến gần như là trực tiếp. Sẵn với
thế mạnh là đối tác tại Việt nam của mạng mua sắm quốc tế eBay, khách hàng có
tài khoản ở NganLuong.vn có thể tự do mua các mặt hàng trên eBay mà không
phải lệ thuộc vào các quy định của eBay mà vốn dĩ người dùng Việt Nam không
đáp ứng được.
Để có tài khoản thanh toán ở các đơn vị tín dụng như NganLuong.vn,
Mobivi, người dùng phải truy cập vào trang web của họ để đăng ký một tài khoản
rồi sau đó chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng vào (chỉ áp dụng ở các ngân hàng
đối tác với họ), hoặc đến trực tiếp các điểm giao dịch của đơn vị tín dụng để nạp
tiền mặt. Bằng cách này, người dùng chỉ cần nạp đủ số tiền cần mua hoặc dư một ít
là có thể mua được hàng nên việc mất cắp số tiền còn lại cũng khó xảy ra. Ông
Nguyễn Hòa Bình, giám đốc công ty Peasoft cho biết: “Sắp tới, có thể chúng tôi sẽ
Nguyễn Thị Dự - Nguyễn Thùy Dung Page 25