Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng việt nam - Pdf 23

NGHIÊN CỨU RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG KINH
DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM
Chương 1 : Phần mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Các nhà kinh tế dự báo tăng trưởng kinh tế có chiều hướng
suy giảm xuống mức thấp hơn so với năm 2010 và 2011. Năm
2012, nhìn chung chính phủ sẽ tiếp tục ưu tiên kiềm chế lạm
phát, ổn định kinh tế vĩ mô; NHNN sẽ tiếp tục thực hiện chính
sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; chính sách tài khóa theo hướng
tăng cường quản lý thu, tiết kiệm chi, giảm bội chi ngân sách.
Như vậy, thắt chặt chính sách tiền tệ để kiềm chế lạm phát đồng
nghĩa với việc hạn chế nguồn vốn dành cho nền kinh tế. Và
không phải tổ chức, cá nhân nào cũng có thể đáp ứng được yêu
cầu để được cấp tín dụng của ngân hàng, từ đó làm phát sinh
nhiều sai phạm để có thể tiếp cận được nguồn vốn này. Theo
NHNN, năm 2011 cơ quan quản lý đã phát hiện nhiều vi phạm
lên tới hàng ngàn tỉ đồng do sai phạm của cán bộ ngân hàng
như: cho vay khi tài sản thế chấp chưa đăng ký giao dịch đảm
bảo, không đủ điều kiện vay vốn, thẩm định giám sát điều kiện
vốn vay chưa chặt chẽ… Vì vậy, trong bối cảnh hiện nay khi nền
kinh tế có những biến động khôn lường thì quản lý rủi ro càng
phải được quan tâm hàng đầu, đặc biệt là rủi ro hoạt động.
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam

Đề tài: "NGHIÊN CỨU RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG
KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM"
được đưa ra nhằm nghiên cứu các vấn đề liên quan đến rủi ro hoạt
động của các NHTM VN hiện nay: phân loại nguyên nhân của rủi
ro, thực trạng một số giải pháp ngăn ngừa rủi ro hoạt động cho các
ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu

biến cố không định trước hay những vấn đề hoạt động khác có
thể dẫn đến mất mát không định trước hay những vấn đề về
danh tiếng. Phạm vi và thời gian xảy ra những rủi ro tác nghiệp
rất rộng lớn, nó có thể xảy ra bất ḱỳ lúc nào trong thời gian
hoạt động của ngân hàng
Rủi ro hoạt động trước đây được hiểu bao gồm tất cả các loại rủi
ro khác không phải rủi ro thị trường, tín dụng, hay thanh khoản. Tuy
nhiên, ủy ban Basel đã thu hẹp phạm vi khái niệm này trong Hiệp ước
Basel II : Rủi ro tác nghiệp là nguy cơ xảy ra tổn thất trực tiếp
hay gián tiếp do các quy trình, con người và hệ thống nội bộ
không đạt yêu cầu hoặc thất bại hay do các sự kiện bên ngoài
Rủi ro hoạt động bao gồm cả rủi ro pháp lý nhưng loại trừ về
rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam
Các ví dụ về rủi ro hoạt động thường gặp như: việc cấu
trúc hạn mức không phù hợp trong lĩnh vực kinh doanh nguồn
vốn, quản trị tồi các quy tŕnh quản lý tín dụng, nhân viên yêu
cầu bồi thường về tai nạn lao động hoặc bị đối xử phân biệt,
khách hàng yêu cầu bồi thường do không đáp ứng đúng theo
yêu cầu hợp đồng( thanh toán L/C chậm hoặc sai quy
trình…) do những hành vi lừa đảo bên trong một tổ chức( cán
bộ tham ô, trôm cắp, giao dịch nội gián,…), do những hành vi
phạm tội bên ngoài một tổ chức (tội phạm máy tính) thiếu các
kế hoạch khôi phục kinh doanh trong trường hợp xảy ra thảm
họa
2.2. Phân loại rủi ro hoạt động
2.2.1 Rủi ro từ bên trong nội bộ ngân hàng
Rủi ro do cán bộ ngân hàng
Trong bối cảnh kinh tế gặp nhiều khó khăn, sức khỏe doanh
nghiệp giảm sút, trong khi cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng ngày

hiệu quả hoặc chồng chéo gây khó khăn, ách tắc cho bộ phận
nghiệp vụ.
+ Do cơ chế, quy chế về công tác hỗ trợ chưa phù hợp, chưa
đáp ứng các yêu cầu hỗ trợ cho bộ phận nghiệp vụ.
Rủi ro do quy định, quy trình nghiệp vụ
 Có nhiều điểm bất cập, chưa hoàn chỉnh, tạo kẽ hở cho kẻ
xấu lợi dụng gây thiệt hại cho NHCT.
 Chưa phù hợp, gây khó khăn cho cán bộ tác nghiệp trong
NHCT.
2.2.2 Rủi ro do các tác động bên ngoài
 Rủi ro do hành vi lừa đảo, trộm cắp hoặc phạm tội của các
đối tượng bên ngoài NH (như hành động phá hoại, đánh
bom ).
 Rủi ro do các sự kiện bên ngoài hoặc do tự nhiên (động đất,
bão ) gây gián đoạn /thiệt hại cho hoạt động kinh doanh của
NH.
 Rủi ro các văn bản, quy định của chính phủ, các ban ngành
liên quan có sự thay đổi hoặc có những quy định mới làm
ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam
2.3 Ảnh hưởng của rủi ro hoạt động trong kinh doanh ngân
hàng
2.3.1 Ảnh hưởng đối với nền kinh tế
Hệ thống ngân hàng được ví như mạch máu của nền kinh
tế, với vai trò thúc đẩy quá trình sản xuất, là nơi dẫn vốn từ nơi
thửa vốn đến nơi thiếu vốn đảm bảo quá trình luân chuyển tiền
tệ một cách hiệu quả nhất. Với đặc điểm là một tổ chức kinh
doanh đặc thù, hệ thống ngân hàng chịu tác động của rủi ro hệ
thống. Rủi ro hoạt động xảy ra ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến
ngân hàng bị rủi ro, còn tác động dây chuyền trong hệ thống

nghiệp có thể là hành vi vi phạm pháp luật trong vấn đề kết
thúc hợp đồng lao động….
- Đối với uy tín của ngân hàng: Thái độ với khách hàng không
tốt, các sai phạm trong tác nghiệp dẫn tới mất khách hàng hoặc
ṭaọ uy tín không tốt về ngân hàng , tạo tâm lý hoang mang, mất
lòng tin ở một bộ phận lớn khách hàng, đặc biệt là khách hàng
cá nhân , có thể gây nên làn sóng rút tiền ồ ạt tạo rủi ro thanh
khoản làm giảm vốn kinh doanh hay mất vốn do những đối tác
của ngân hàng thay đổi chính sách hợp tác, cũng như rút vốn
đầu tư . Từ đó dẫn đến hậu quả làm mất vốn hoặc làm giảm lợi
nhuận của ngân hàng. Nếu nghiêm trọng, ngân hàng có thể
phải tuyên bố phá sản
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam
2.3.3 Ảnh hưởng đối với khách hàng
Rủi ro hoạt động xảy ra trong lĩnh vực thanh toán sẽ làm
chậm tiến độ kinh doanh hoặc bỏ lỡ cơ hội kinh doanh cùa
khách hàng. Quy trình thủ tục rườm ra hay sai sót trong việc tư
vấn của ngân hàng gây ra nhiều phiền hà trong việc sử dụng
các dịch vụ. Quyền lợi của khách hàng không được đảm bảo
khi nhân viên ngân hàng tính toán sai ( hoặc cố tình gian lận)
trong việc hạch toán lãi, chuyển nhầm tiền trong tài khoản
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG RỦI RO HOẠT ĐỘNG TRONG
KINH DOANH NGÂN HÀNG. KINH NGHIỆM QUẢN TRỊ
RỦI RO & GIẢI PHÁP HẠN CHẾ
4.1 Thực trạng rủi ro hoạt động trong kinh doanh ngân
hàng
4.1.1 Thực trạng rủi ro hoạt động của các ngân hàng trên
thế giới
Cách đây 4 năm, khi khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn

dịch sai lầm.
Ngoài những thiệt hại liên quan đến danh tiếng của ngân
hàng cũng như những thiệt hại tài chính mà các cổ đông phải
gánh chịu, có 1 điều mà công chúng nhận thấy rõ ràng: đạo đức
của ngành ngân hàng đang bị đổ vỡ.
Bên cạnh rủi ro đạo đức ở trên hệ thống ngân hàng trên
thế giới cũng đang phải đối mặt với các rủi ro liên quan tới hệ
thống công nghệ thông tin trong ngân hàng như các vụ làm giả
thẻ tín dụng, làm giả thẻ ATM hay hàng loạt thông tin cá nhân
của khách hàng bị đánh cắp và làm giả gây nên thiệt hại vô
cùng to lớn cho các ngân hàng cũng như khách hàng của họ. Ta
có thể dẫn chứng điều này qua một số phi vụ nổi tiếng gần đây:
Đó là vụ là trộm cắp và lừa đảo bằng thẻ tín dụng giả quy
mô lớn nhất lịch sử Mỹ. Đã được Cảnh sát quận Queens và
thành phố New York đã triệt phá vào đầu tháng 10-2011,
Trong vòng 16 tháng, tổ chức gồm 5 đường dây tội phạm có
mắt xích khắp châu Âu, châu Á, châu Phi và Trung Đông này
đã lừa đảo khoảng 13 triệu USD theo phương thức lấy cắp
thông tin cá nhân để dùng thẻ tín dụng giả mua hàng hóa.
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam
Trong chiến dịch mang tên “Kẻ cắp” suốt 2 năm, cảnh sát đã
bắt giữ 86 nghi can và truy nã 25 nghi can. Chân rết của đường
dây này chính là các nhân viên phục vụ nhà hàng, nhân viên
ngân hàng, khách sạn, nhân viên thu ngân ở các điểm bán lẻ.
Khi khách hàng đến giao dịch, mua hàng bằng thẻ tín dụng,
những kẻ phạm tội trong lốt nhân viên đã dùng thiết bị điện tử
lấy cắp thông tin cá nhân từ thẻ tín dụng của khách. Thông tin
này sau đó lại được chuyển cho “một nhà sản xuất” để nhập dữ
liệu vào những chiếc thẻ tín dụng rỗng mang thương hiệu nổi
tiếng như Visa, MasterCards, Discover và American

Cách đây không lâu câu chuyện rủi ro đạo đức trong hệ
thống NH Việt Nam dường như còn khá xa xôi vì mới chỉ dừng
lại của những sự vụ nhỏ lẻ lộ ra. Nhưng rồi, với sự biến động
nhanh chóng trong những năm vừa qua, nhất là sau những biến
cố gần đây đã cho thấy rủi ro đạo đức là một căn bệnh tiềm
tàng, một tảng băng chìm đang đe dọa sự ổn định và kỷ cương
của hệ thống NH Việt Nam. Những rủi ro dạng này trong hệ
thống NH Việt Nam có nhiều cấp độ. Trước hết, đơn giản nhất
có thể chỉ là những vụ gian lận trong vay vốn, thụt két tiền tỷ
nhà băng của những cán bộ biến chất hay nhân viên ngân hàng
bắt tay với các đối tượng xấu để chiếm dụng tiền vốn từ những
hợp đồng tín dụng sai phạm… cao hơn là những vụ làm giả
giấy tờ, cố tình lừa đảo để chiếm dụng tiền.Tuy nhiên, xét cho
cùng đó cũng chỉ là những hành vi mang tính cá nhân và nhỏ
lẻ. Cho nên việc xử lý cũng không khó và hậu quả dễ khắc
phục.
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam
Ở một mức độ cao hơn, gần đây chúng ta đã chứng kiến
những sự vụ quy mô lớn, được thực hiện một cách cố tình
trong cả một tổ chức và gây thiệt hại rất lớn. Trong số đó phải
kể đến những sai phạm ở Công ty ALC II thuộc (Agribank) gây
thiệt hại lên đến hơn 500 tỷ đồng và điều làm mọi người bất
ngờ nhất là các quan chức ở DN này đã thể hiện “tài năng đặc
biệt” trong nâng khống giá tài sản lên đến cả ngàn lần khi định
giá và cho vay .Tiếp theo đó, các vụ lừa đảo rất nghiêm trọng
như Huỳnh Thị Huyền Như và 17 bị can khác công tác tại một
ngân hàng TMCP đã bị khởi tố theo 2 nhóm tội danh là "vi
phạm quy định cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín
dụng" và "thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” lừa
đảo trên thị trường chứng khoán và ngân hàng hơn 4000 tỷ

quản lý, cán bộ tín dụng các ngân hàng liên tục trên các mặt
báo vì những hành vi sai phạm của mình. Các hành vi phổ biến
như thiếu trách nhiệm trong thẩm định, cấu kết với khách hàng,
ăn chia hoa hồng trên số tiền vay được, liên kết với nhau để
vay mượn lòng vòng, thậm chí là vay ké của khách hàng…
Tuy nhiên, các rủi ro đạo đức không chỉ xảy ra với cán bộ
tín dụng mà có thể ở các bộ phận nghiệp vụ khác của ngân
hàng, thậm chí là giao dịch viên, thủ quỹ. Các hình thức quen
thuộc vẫn là lập khống, tất toán khống sổ tích kiệm của khách,
cạo sửa sổ tiết kiệm, cầm cố khống các giấy tờ giả. Vì vậy cần
phải có biện pháp kiểm soát, kiềm chế các vấn đề này một cách
chặt chẽ. Tuy nhiên, đây là chuyện không dễ nhất là khi các
ngân hàng Việt Nam còn yếu kém về kiểm soát, chủ quan và dễ
dãi trong quản lý”. Hiện nay ở Việt Nam rất nhiều ngân hàng
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam
đã bắt đầu công cuộc tái cơ cấu, nhưng vấn đề các ngân hàng
quan tâm là đi tìm mô hình tổ chức hợp lý cho mình, tổ chức,
sắp xếp lại… Nhưng khi xét đi xét lại, nhiều ngân hàng thành
lập gần 20 năm mà quy định nội bộ gần như không có gì, hoặc
có thì rất chung chung. Thực tế này cộng với các quy định nội
bộ lờ mờ thì rất dễ dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật để
trục lợi. Trong khi đó, cơ chế kiểm soát tín dụng của nhiều
ngân hàng đang bộc lộ nhiều nhược điểm. Trong những năm
qua, các ngân hàng đều phát triển nóng với các đơn vị kinh
doanh (chi nhánh, phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm) trải dài trên
cả nước dẫn đến sự phân tán nhất định của các nguồn lực. Đặc
biệt là sự phân tán thẩm quyền phán quyết tín dụng. Theo đó,
việc giao quyền cho các giám đốc chi nhánh quá lớn còn hội sở
ở xa, quy định nội bộ lờ mờ, công tác quản lý giấy tờ, con dấu
thiếu chuẩn chỉnh, chặt chẽ thống nhất… rất dễ dẫn đến các

định phương án cho vay và thẩm định khả năng trả nợ. Như
vậy là thiếu khách quan và tính trung thực trong việc ra quyết
định cho vay tại NH, kết quả sau đó là những khoản nợ xấu
không xử lý được gây thiệt hại không nhỏ cho NH.
Ngoài ra, việc quản lý theo hạn mức phân cấp, phân quyền còn
thiếu chặt chẽ hơn. Có trường hợp ngân hàng quản lý chặt chẽ
và chỉ cho phép giám đốc chi nhánh quyết định khoản vay từ
500 triệu đồng trở xuống, những khoản vay lớn hơn phải trình
hội sở chính. Tuy nhiên, cũng có ngân hàng cho phép giám đốc
chi nhánh quyết khoản vay lên tới vài chục tỷ đồng và khi có
rủi ro xảy ra thì thiệt hại rất lớn. Điều này đã từng xảy ra tại
một ngân hàng thương mại quốc doanh khi giám đốc một chi
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam
nhánh, với hạn mức bảo lãnh được phép 70 tỷ đồng, đã cố tình
vi phạm, làm thất thoát tới vài trăm tỷ đồng.
Trong thời kỳ ngân hàng tăng trưởng nóng, phát triển mạng
lưới nhanh chóng, việc tuyển nhân viên ồ ạt song lại không chú
trọng đúng mức đến công tác đào tạo nhân viên, khiến cho
nhân viên không đáp ứng yêu cầu về chuyên môn cũng như
đạo đức nghề nghiệp. Tuy nhiên, điều cốt yếu vẫn phải là tăng
cường công tác quản trị để bịt lỗ hổng dẫn tới sự sai phạm cả từ
trong và ngoài ngân hàng.
Rủi ro do tác động bên ngoài
Rủi ro hoạt động gian lận và tội phạm bên ngoài cũng
ngày càng gia tăng. Năm 2012, lực lượng cảnh sát điều tra về
Trật tự quản lý kinh tế và chức vụ đã phá nhiều vụ án rất
nghiêm trọng trong lĩnh vực ngân hàng, hoạt động phạm tội
chủ yếu là sử dụng công nghệ cao để lấy cắp mật mã rút tiền,
sử dụng công nghệ đột nhập các hệ thống thanh toán, tạo ra các
lệnh chuyển tiền vãng lai để chiếm đoạt tiền ngân hàng có xu

xung quanh mối liên hệ giữa ông này với một số ngân hàng,
gây hoang mang tới một bộ phận người gửi tiền. Mặc dù Thống
đốc Nguyễn Văn Bình khẳng định, theo thông tin mà NHNN
nhận được thì việc ông Kiên bị bắt là xuất phát từ hoạt động
kinh tế của ông ở ba công ty mà ông này nắm cổ phần, chứ
không liên quan tới ACB và các ngân hàng khác trong hệ thống
tài chính Việt Nam. Nhưng khách hàng vẫn ồ ạt kéo tới ACB
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam
để rút tiền dẫn đến ngân hàng này thiếu thanh khoản trầm trọng
và phải cầu cứu tới sự giúp đỡ từ phía NHNN. Mặc dù hiện nay
giai đoạn khó khăn nhất đã qua nhưng tổn thất mà ACB phải
gánh chịu là vô cùng lớn.
Ngoài các rủi ro do các tin đồn bên ngoài như trên thì ở
Việt Nam hiện nay các ngân hàng còn phải chịu rủi ro rất lớn
do các quy định về trần lãi suất trong thời gian qua. Khi quy
định cuả NHNH là lãi suất huy động dưới 12 tháng tối đa la
9%/năm. Còn mức lãi suất trên một năm do các ngân hàng tự
quyết định nên các ngân hàng đã lách luật bằng cách tư vấn
cho khách hàng gửi kỳ hạn trên 1 năm với lãi suất từ 13-14%
khi cần có thể rút ra dưới dạng vay lại với lãi suất thấp và vẫn
đảm bảo mức lãi suất thực nhận của KH là từ 12-13%. Và sau
đó khi NHNN lại ấn định mức lãi suất cho vay tối đa là
15%/năm và hiện nay NHNN tiếp tục xem xét giải pháp đưa
mức lãi suất cho vay về mức 12-13%/năm điều này làm cho
các ngân hàng vô cùng rủi ro khi mà mức lãi suất đã huy động
gần như bằng lãi suất cho vay theo quy định của NHNN. Ngoài
ra còn rất nhiều quy định ban hành bởi chính phủ và NHNN
khác gây khó khăn không nhỏ cho các ngân hàng.
4.2 Các biện pháp hạn chế rủi ro hoạt động
Qua các phân tích ở trên ta nhận thấy rủi ro hoạt động có

ro hoạt động đã xây dựng nên được thực hiện bởi các nhân viên
thành thạo, được đào tạo và hoạt động độc lập. Kiểm toán nội
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam
bộ không nên trực tiếp chịu trách nhiệm về quản lý rủi ro nội
bộ.
Thứ hai, thực hiện quản trị rủi ro thông qua xác định, đánh
giá, giám sát và kiểm soát. Các ngân hàng cần xác định và
đánh giá rủi ro hoạt động trong tất cả các rủi ro hiện có trong
sản phẩm, hoạt động, quy trình và hệ thống của ngân hàng. Cần
phải tuân thủ đầy đủ các thủ tục thẩm định trước khi thực hiện
các yếu tố nêu trên. Các ngân hàng nên thực hiện một quy trình
để thường xuyên giám sát mức độ ảnh hưởng và tổng thất do
rủi ro hoạt động gây ra nhằm tạo điều kiện cho ban lãnh đạo sự
chủ động trong quản lý rủi ro hoạt động. Việc thiết lập các
chính sách, quy trình và thủ tục để kiểm soát và đưa ra chương
trình giảm thiểu rủi ro cũng là một việc làm thiết thực đối với
ngân hàng. Ngân hàng cần định kỳ theo dõi các ngưỡng rủi ro
và chiến lược kiểm soát để điều chỉnh hồ sơ rủi ro hoạt động
thích hợp với rủi ro tổng thể và rủi ro đặc trưng. Và cuối cùng
ngân hàng phải có kế hoạch duy trì kinh doanh nhằm đảm bảo
khả năng hoạt động liên tục, hạn chế tổn thất trong trường hợp
rủi ro xảy ra bất ngờ.
Thứ ba, các cơ quan giám sát ngân hàng cần yêu cầu các
ngân hàng có một khung quản trị rủi ro hoạt động hiệu quả.
Các cơ quan này cần chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp thường
xuyên, độc lập đánh giá chính sách, thủ tục và thực tiễn liên
quan đến rủi ro hoạt động của ngân hàng. Cần đảm bảo có cơ
chế thích hợp cho phép họ biết được sự phát triển của ngân
hàng.
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam

triệt cho toàn thể cán bộ công nhân viên nhằm tạo điều kiện
cho cán bộ nhân viên nắm vững và thực thi các quy trình một
cách đầy đủ và chính xác.
Thứ ba, để hạn chế tối đa các rủi ro hoạt động do các yếu
tố bên ngoài như sự thay đổi chính sách của Nhà nước, thay đổi
về cơ chế, hay sức ép từ việc thực hiện các cam kết và các diễn
biến phức tạp của thị trường mang lại, ngân hàng cần tuân thủ
nội dung các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định của
Nhà nước, Chính phủ, các Bộ ngành liên quan trong quá trình
xây dựng quy chế,quy trình hoạt động, hướng dẫn, nghiệp vụ
cũng như trong quá trình triển khai thực hiện. Thường xuyên
theo dõi những thay đổi về các quy định cũng như chính sách
để có sự điều chỉnh kịp thời trong các quy định, quy chế, quy
trình nghiệp vụ của ngân hàng. Nhằm hạn chế các rủi ro hoạt
động do tác động của nền kinh tế, ngân hàng cần thành lập một
bộ phận chuyên phân tích, đánh giá tổng quan nền kinh tế trong
và ngoài nước theo định kỳ để xác định kịp thời xu hướng phát
triển cũng như những tác động của các yếu tố thị trường. Từ đó
có những tham mưu kịp thời trong việc điều hành chính sách
và định hướng phát triển chiến lược của ngân hàng phù hợp với
từng thời kỳ.
Thứ tư, cần xây dựng một hệ thống công nghệ thông tin
tiên tiến, hiện đại. Thường xuyên kiểm tra bảo trì và nâng cấp
hệ thống thông tin nhằm đảm bảo hoạt động ngân hàng ổn
định.
Nghiên cứu rủi ro hoạt động trong kinh doanh của các ngân hàng Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status