TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
BỘ MƠN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG
CỦA THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
GVHD:
Nhóm HVTH:
Nguyễn Văn Tài
Đào Anh Trọng
Lê Văn Lộc
Bùi Mỹ Phụng
Nguyễn Minh Thương
Trương Ngọc Tín
UEH, Tháng 2/2014
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
MỤC LỤC
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 2 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
!"#$%!#&#'()*"(
+,"-!#&#'()*"(
Thuế gắn liền với sự tồn tại, phát triển của Nhà nước và là một
công cụ quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng sử dụng để thực thi
chức năng, nhiệm vụ của mình. Tuỳ thuộc vào bản chất của Nhà nước
và cách thức Nhà nước sử dụng, các nhà kinh tế có nhiều quan điểm
về thuế khác nhau.
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu đánh vào lợi
nhuận của các doanh nghiệp.
Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện rất sớm trong lịch sử phát
triển của thuế. Hiện nay ở các nước phát triển, thuế thu nhập doanh
hàng hóa, dịch vụ gọi chung là các doanh nghiệp.
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 4 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
• Thuế Thu nhập Doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả hoạt động
kinh doanh của các doanh nghiệp hoặc các nhà đầu tư. Thuế Thu nhập
Doanh nghiệp được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế nên chỉ khi
các doanh nghiệp, các nhà đầu tư có lợi nhuận mới phải nộp thuế Thu
nhập Doanh nghiệp
• Thuế Thu nhập Doanh nghiệp là thuế khấu trừ trước thuế
TNCN. Thu nhập mà các cá nhân nhận được từ hoạt động đầu tư như:
lợi tức cổ phần, lãi tiền gởi ngân hàng, lợi nhuận do góp vốn liên
doanh, liên kết…là phần thu nhập được chia sau khi nộp thuế Thu
nhập Doanh nghiệp. Do vậy thuế Thu nhập Doanh nghiệp cũng có thể
coi là một biện pháp quản lý thu nhập cá nhân.
Ở các nước tuy có sự khác nhau về phạm vi bao quát, đối tượng
áp dụng, các mức thuế suất hoặc các các ưu đãi thuế Thu nhập Doanh
nghiệp, nhưng trong cách thiết lập thuế Thu nhập Doanh nghiệp đều
quán triệt các nguyên tắc cơ bản nhất định
. #56!71!&!8'(!#&#'()*"(
Thứ nhất, Thuế Thu nhập Doanh nghiệp phải bao quát được
mọi khoản thu nhập phát sinh trong hoạt động của các doanh nghiệp.
Việc bỏ sót nguồn thu không chỉ làm ảnh hưởng tới thu NSNN mà còn
vi phạm nguyên tắc công bằng khi đánh thuế. Tuy nhiên khi thiết kế
thuế Thu nhập Doanh nghiệp, tùy vào mục đích điều tiết hoặc các mục
đích khác trong quản lý của nhà nước trong từng thời kỳ nhất định,
theo quy định của pháp luật có những khoản thu nhập không nằm
trong phạm vi điều tiết của thuế Thu nhập Doanh nghiệp, hoặc tạm
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 5 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
thời không nằm trong phạm vi điều tiết của thuế Thu nhập Doanh
Thuế Thu nhập Doanh nghiệp thực chất điều chỉnh vào lợi
nhuận của doanh nghiệp, trong khi đó lợi nhuận của doanh
nghiệp có được bằng cách lấy doanh thu từ các hoạt động
kinh doanh trừ đi các khoản chi phí. Pháp luật của mỗi nước
quy định các khoản chi phí được khấu trừ để xác định thu
nhập chịu thuế có khác nhau nhưng thông thường phải là chi
phí hợp lý và khi khấu trừ phải quán triệt các nguyên tắc sau:
Các khoản chi phí được khấu trừ phải là những khoản chi phí
có liên quan tới việc tạo ra thu nhập của doanh nghiệp.
Đó là các khoản chi phí thực sự có chi ra và có căn cứ hợp
pháp.
Là các khoản chi phí có mức trả hợp lý: phù hợp với giá cả
thị trường và các định mức kinh tế, kỹ thuật.
Khoản chi đó phải có tính thu nhập hơn là tính vốn
Trong thực tế, các khoản chi phí được khấu trừ còn tùy thuộc
vào tính chất phát sinh thu nhập và chi phí có liên quan.
Thứ tư, quy định thời gian để xác định thu nhập chịu thuế: Do
tính chất phức tạp của các khoản thu nhập phát sinh và thời gian nhận
được các khoản thu nhập, có những khoản thu nhập doanh nghiệp
nhận được trong một năm, nhưng cũng có những khoản nhận trong
nhiều năm nên việc quy định thời gian để xác định doanh thu và thu
nhập chịu thuế của doanh nghiệp có tính ước định để sao cho việc tính
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 7 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
toán đơn giản, đảm bảo công bằng giữa đối tượng nộp thuế, đảm bảo
nguồn thu cho NSNN và đảm bảo tính khả thi của việc đánh thuế.
Thực tiễn, các nước quy định khác nhau về thời gian xác định doanh
thu làm cơ sở tính thuế, nhưng thông thường là năm tài chính (12
tháng).
Thứ năm, xác định thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hợp lý.
Ngày nay, hướng vào việc xử lý các mục tiêu của kinh tế vĩ mô là
nhiệm vụ trọng tâm của mọi chính phủ. Sự thành công hay thất bại của
việc quản lý Nhà nước, nền kinh tế là giải quyết các mục tiêu của kinh
tế vĩ mô. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, người ta thường xác
định 4 mục tiêu cơ bản của kinh tế vĩ mô mà mọi chính phủ phải theo
đuổi. Bốn mục tiêu đó là:
Đảm bảo thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế một cách hợp lý .
Tạo được công ăn việc làm đầy đủ cho người lao động.
Ổn định giá cả, tiền tệ, chống lạm phát.
Thực hiện sự cân bằng cán cân thanh toán quốc tế.
Với 4 mục tiêu trên ta có thể thấy rõ Thuế là một công cụ hết sức
quan trọng nhằm biến 4 mục tiêu đó thành hiện thực.
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 9 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
-Thuế kích thích sự tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm
Để thực hiện các mục tiêu này, một trong những công cụ quan
trọng mà nhà nước sử dụng là chính sách thuế. Nội dung điều tiết của
thuế gồm hai mặt: Kích thích và hạn chế. Nhà nước đã sử dụng chính
sách thuế một cách linh hoạt trong từng thời kỳ nhất định, bằng việc
tác động vào cung-cầu nhằm điều chỉnh chu kỳ kinh doanh- một đặc
trưng vốn có của nền kinh tế thị trường.
Khi nền kinh tế suy thoái, tức là khi đầu tư ngừng trệ, sản xuất và
tiêu dùng đều giảm thì nhà nước dùng thuế để kích thích đầu tư và
khuyến khích tiêu dùng.
Bằng việc giảm thuế đánh vào sản xuất, giảm thuế đối với hàng
sản xuất ra để khuyến khích tạo lợi nhuận, kích thích việc đầu tư vào
sản xuất.
Bằng việc giảm thế đánh vào tiêu dùng nhằm khuyến khích tiêu
dùng.
Để hạn chế và gây áp lực đối với việc lưu giữ vốn không đưa vào
và người nghèo, thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công
cộng. Thông qua thuế thu nhập, Nhà nước thực hiện vai trò điều chỉnh
vĩ mô trong lĩnh vực tiền lương và thu nhập, hạn chế sự phân hoá giàu
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 11 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
nghèo và tiến tới công bằng xã hội. Một khía cạnh khác của chính
sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu
dùng: Thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế Giá trị gia tăng.
Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho
người nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng được giảm bớt.
Trái lại những mặt hàng xa xỉ, cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần
phân phối lại một bộ phận thu nhập của người giàu trong xã hội. Tuy
nhiên, khi sử dụng công cụ thuế để điều chỉnh thu nhập, mức thu nên
xây dựng hợp lý tránh tình trạng điều tiết quá lớn làm giảm khát vọng
làm giàu của nhà kinh doanh và giảm khả năng tăng trưởng kinh tế
của đất nước.
-Thuế là công cụ kiềm chế lạm phát
Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả
hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng. Thuế được sử dụng để
điều chỉnh lạm phát, ổn định giá cả thị trường. Nếu cung nhỏ hơn cầu
thì nhà nước dùng thuế để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các
yếu tố sản xuất, giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tư sản xuất ra
nhiều khối lượng sản phẩm nhiều hơn. Đồng thời tăng thuế đối với
hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu. Nếu lạm phát do chi phí tăng, gia
tăng thất nghiệp, sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế, giá cả đầu vào
tăng, nhà nước dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm
thuế đánh vào chi phí, kích thích tăng năng suất lao động.
-Thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nước và tạo điều kiện hoà
nhập nền kinh tế thế giới
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 12 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
đô la huy động. Như vậy chi phí mỗi kỳ là δ + ρ.
Hình 16.1 Quyết định đầu tư trong điều kiện không có thuế
Đường lợi ích biên dốc xuống do giả thuyết sản phẩm biên giảm
dần, tiền lời trên mỗi đô la đầu tư giảm do sản phẩm biên tạo ra trên 1
đô la đầu tư tăng thêm giảm dần. Đường chi phí biên MC
1
đo lường
tiền lời mong đợi đối với mỗi đô la đầu tư tăng thêm trong mỗi kỳ
hoặc đầu tư phải sinh lợi bao nhiêu trong mỗi kỳ để trang trải chi phí
trong kỳ.
Doanh nghiệp đầu tư cho đến khi chi phí biên bằng lợi ích biên,
tại điểm A, tương ứng mức đầu tư K
1
. Nếu công ty đầu tư ít hơn số
tiền này, phía bên trái K
1
, thì tiền lời biên trên mỗi đô la đầu tư tăng
thêm cao hơn chi phí biên, do đó công ty sẽ đầu tư thêm. Nếu công ty
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 14 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
đầu tư nhiều hơn K
1
thì tiền lời biên nhỏ hơn chi phí biên, đầu tư
không nên thực hiện.
Bây giờ giả sử lợi nhuận công ty bị đánh thuế với thuế suất t. Lợi
nhuận sau thuế của công ty lúc này sẽ là F
K
(1-t). Sự giảm trừ này dẫn
đến đường lợi ích biên di chuyển đến MB
2
còn (δ + ρ).(1- t.z-α)
Hình 16.3: Quyết định đầu tư trong trường hợp có khấu hao và
ITC
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 16 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
Như trong hình 16.2 đường lợi ích biên phù hợp với công ty là
MB
2
sau thuế. Khấu hao và ITC làm giảm chi phí cũng như lợi nhuận
kỳ vọng từ MC
1
xuống MC
2
. Cân bằng mới đạt tại điểm C với đầu tư
K
3.
Mức đầu tư này cao hơn so với trước khi đưa khấu hao vào ITC
vào chi phí (K
2
) nhưng vẫn thấp hơn mức đầu tư trước khi có thuế
(K
1
).
Sự giảm trừ lợi ích biên từ lợi nhuận sau thuế vượt quá sự giảm
trừ chi phí biên do khấu hao và ITC nên đầu tư vẫn giảm về tổng thể
khi có thuế.
4.1.3 Thuế suất thuế công ty thực tế
Khi chính phủ đánh thuế, tỷ lệ tiền lời trên đầu tư phải gia tăng để
trả thuế. Mức tăng yêu cầu phụ thuộc vào khấu hao, ITC và thuế suất.
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 17 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 18 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
4.2.1 Đối với công ty tài trợ bằng vốn cổ phần
Xét ví dụ: Một công ty tài trợ dự án bằng cách phát hành cổ phần
thường. Khi thu được 1 đô la từ đầu tư, công ty phải nộp thuế với thuế
suất t
c
. Như vậy số tiền còn lại có thể chia cho các cổ đông là 1x(1- t
c
).
Đến đây, công ty có thể chia cổ tức hoặc giữ lại lợi nhuận. Nếu chia
cổ tức thì số tiền cổ đông nhận được là 1x(1- t
c
)x(1-t
div
), trong đó t
c
là
thuế đánh trên cổ tức. Nếu công ty quyết định giữ lại lợi nhuận cổ
đông sẽ không chịu thuế đánh trên cổ tức, nhưng khi chuyển nhượng
cổ phiếu cổ đông phải trả thuế chuyển nhượng t
cg
, khi đó cổ đông sẽ
nhận được số tiền 1x(1- t
c
)x(1- t
cg
). Nếu thuế đánh trên cổ tức cao hơn
thuế đánh trên vốn thì cổ đông có khuynh hướng thích công ty giữ lại
lợi nhuận hơn là chia cổ tức, và ngược lại. Và thường thì thuế suất
chịu nhiều rủi ro khi công ty hoạt động kém hiệu quả. Tuy
nhiên, các cổ đông chỉ mất khoản đầu tư ban đầu nếu công ty
phá sản, nhưng lại được lợi ích không giới hạn khi công ty
hoạt động tốt. Kết quả là, đối với các cổ đông có tỷ lệ sở hữu
nhỏ, họ có xu hướng chấp nhận rủi ro cao. Khả năng chấp
nhận rủi ro cao cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến
quyết định thuê người quản lý và lựa chọn dự án.
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 20 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
Ví dụ: Một công ty có vốn cổ phần 1 triệu đô la, vay nợ 5 triệu đô
la. Tổng giá trị công ty là 6 triệu đô la. Tiền lãi định kỳ 0.5 triệu đô la.
Thu nhập 0.6 triệu đô la/năm, như vậy lợi nhuận hàng năm là 0.1 triệu
đô la. Giả sử một dự án có xác suất 50% cơ hội đạt lợi nhuận 3 triệu
đô la, và 50% khả năng thua lỗ 6 triệu đô la.
Đối với các cổ đông. Nếu dự án thành công họ được 3 triệu đô la,
nếu thất bại họ chỉ mất 1 triệu đô la và khoảng cổ tức 0.1 triệu đô la.
Nếu tỷ lệ chiết khấu là 10% thì hiện giá cổ tức là 1 triệu. Tổng cộng
cổ đông thiệt hại 2 triệu đô la nếu dự án thất bại. Giá trị kỳ vọng của
cổ đông là 0.5x(-2) + 0.5x3 = 0.5 triệu đô la.
Đối với các chủ nợ, khi dự án thành công họ không nhận thêm
khoản lợi nào nhưng nếu thất bại thì các chủ nợ mất 5 triệu đô la đã
cho vay và 0,5 triệu đô la tiền lãi. Tỷ lệ chiết khấu 10% thì tổng số
tiền chủ nợ tổn thất là 10 triệu đô la. Giá trị kỳ vọng của chủ nợ là
50% x 0 + 50% x 10 = -5.
Bảng 16.1 Mâu thuẫn giữa nợ và vốn cổ phần
Tỷ lệ tài
trợ
Khả năng
sinh lời
Khả năng
hữu ủng hộ dự án, chủ nợ thì không. Tuy nhiên, nếu nâng tỷ lệ tài trợ
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 21 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
của cổ đông lên 5 và giảm tài trợ của chủ nợ còn 1 thì cả cổ đông và
chủ nợ đều không ủng hộ dự án, vì cả hai đều tổn thất.
Như vậy khi tỷ lệ tài trợ nợ gia tăng thì mâu thuẫn tiềm năng về
lợi ích sẽ gia tăng.
3. Lý do cuối cùng giải thích vì sao các công ty không tài trợ
hoàn toàn bằng nợ đó là: áp lực đối với người quản lý. Khi tài
trợ nợ, định kỳ người quản lý phải tìm thu nhập để thanh toán
lãi vay, trong khi tài trợ bằng vốn cổ phần không tạo áp lực
như thế. Do đó, các nhà quản lý có xu hướng lựa chọn tài trợ
vốn cổ phần hơn là tài trợ nợ nhằm tối thiểu hóa gánh nặng
nợ.
H.I/JK
LM
+,D#,!$%N&!:O1P1,1!#&#'()*"(B
"!*-
Có thể nhận thấy rằng pháp luật thuế Thu nhập Doanh nghiệp
được hình thành và phát triển từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX.
Trước năm 1990 có một loại thuế đánh vào thu nhập của các cơ sở sản
xuất, kinh doanh gọi là thuế lợi tức chỉ được áp dụng cho kinh tế
ngoài quốc doanh. Sau năm 1990, nước ta thực hiện công cuộc cải
cách căn bản chính sách thuế và ban hành Luật thuế lợi tức mới để áp
dụng thống nhất đối với tất cả các tổ chức, cá nhân kinh doanh thuộc
mọi thành phần kinh tế có thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 22 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
Luật số 03/1997/QH9 của Quốc hội đánh dấu sự ra đời của Luật
thuế Thu nhập doanh nghiệp ở Việt Nam:
Luật số 09/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 của Quốc hội
về Thuế thu nhập doanh nghiệp.
Ngày 17/6/2003, Quốc hội khoá XI thông qua Luật số
09/2003/QH11 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004 để thay thế
cho Luật thuế Thu nhập Doanh nghiệp (1997). Tổng kết, đánh giá qua
5 năm thực hiện cho thấy: Nhìn chung, Luật thuế Thu nhập Doanh
nghiệp hiện hành đã đạt được mục tiêu đề ra, đánh dấu bước phát triển
quan trọng góp phần cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh, đáp
ứng được yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên,
trong quá trình thực hiện và trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
của đất nước trong giai đoạn mới, Luật thuế Thu nhập Doanh nghiệp
09/2003/QH11 đã bộc lộ những nhược điểm, hạn chế cần được bổ
sung và sửa đổi.
Luật thuế Thu nhập Doanh nghiệp 09/2003/QH11đã bộc lộ một số
hạn chế, tồn tại như sau:
Thứ nhất, mức thuế suất 28% tuy phù hợp với tình hình thực tế
khi ban hành nhưng chưa thực sự cạnh tranh trong thu hút đầu tư
nước ngoài do các nước trong khu vực đã có sự điều chỉnh giảm (ví dụ
Trung Quốc đã hạ thuế suất từ 33% xuống 25%);
GVHD: PGS-TS Nguyễn Ngọc Hùng 24 Nhóm 7 Lớp Cao học TCDN Đêm 2 K21
Đề tài: Phân tích tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp
Thứ hai, ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp còn dàn trải, phức
tạp, chưa phát huy hiệu quả phân bổ nguồn lực trong đầu tư để đáp
ứng yêu cầu về phát triển kinh tế theo vùng và lãnh thổ, nhất là thu hút
đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
Thứ ba, căn cứ tính thuế (bao gồm thu nhập chịu thuế, chi phí
được trừ và không được trừ) chưa thực sự minh bạch, chưa phù hợp
với thông lệ quốc tế;
Thứ tư, một số nội dung đã được điều chỉnh bởi các luật khác như
Luật quản lý thuế, Luật thuế thu nhập cá nhân… .