BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
BỘ MÔN PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH THUẾ
ĐỀ TÀI SỐ 5
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THUẾ
THU NHẬP DOANH NGHIỆP
GVHD : PGS.TS NGUYỄN NGỌC HÙNG
HVTH : NGUYỄN CÔNG MINH
Lớp : Cao Học Ngân hàng Đêm 6
Khóa : 20 TP.HCM, tháng 08 năm 2012 LỜI MỞ ĐẦU
KHUNG LÝ THUYẾT VỀ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
1. Khái niệm:
Thuế thu nhập doanh nghiệp xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của thuế. Hiện nay ở
các nước phát triển, thuế thu nhập doanh nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo
ổn định nguồn thu ngân sách Nhà nước và thực hiện phân phối thu nhập. Mức thuế cao hay thấp áp
dụng cho các chủ thể thuộc đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là khác nhau, điều đó phụ
thuộc vào quan điểm điều tiết thu nhập và mục tiêu đặt ra trong phân phối thu nhập của từng quốc gia
trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Thuế thu nhập doanh nghiệp được định nghĩa là thuế trực thu đánh trên phần thu nhập sau khi
trừ đi các khoản chi phí được trừ liên quan đến thu nhập của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
2. Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp:
- Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện chức năng tái
phân phối thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội.
- Thuế thu nhập doanh nghiệp là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước
- Thuế thu nhập doanh nghiệp là công cụ quan trọn để góp phần khuyến khích, thúc đẩy sản
xuất, kinh doanh phát triển theo chiều hướng kế hoạch, chiến lược phát triển toàn diện của
Nhà nước. Nhà nước sẽ ưu đãi, khuyến khích đối với những chủ thể đầu tư, kinh doanh vào
những ngành, lĩnh vực và vùng miền mà Nhà nước có chiến lược ưu tiên phát triển trong
từng giai đoạn nhất định.
3. Những nguyên nhân cần có thuế thu nhập doanh nghiệp:
Doanh nghiệp không phải là một thực thể mà là sự kết hợp nhiều yếu tố sản xuất. Đánh thuế
vào doanh nghiệp nghĩa là đánh vào các yếu tố sản xuất hợp thành doanh nghiệp.
Các lý do phải đánh thuế vào doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp được xã hội dành cho một số ưu đãi, quan trọng nhất là trách nhiệm nợ hữu
hạn của các cổ đông. Thuế doanh nghiệp có tác dụng như một loại phí để điều tiết mức
hưởng quyền lợi này. - Đánh thuế vào lợi nhuận thuần: các doanh nghiệp có quyền lực thị trường sẽ kiếm được lợi
Vậy chi phí mỗi kỳ phải bỏ ra để đầu tư vào thiết bị trị giá 1 đồng là: δ + ρ đồng. δ + ρ đồng này
được gọi là chi phí biên, doanh nghiệp sẽ ra quyết định đầu tư thêm 1 đồng nếu ền lời mỗi kỳ ít nhất là
δ + ρ đồng. Vì vậy, chi phí biên chính là ền lời mong đợi khi doanh nghiệp đầu tư thêm 1 đồng. Quyết
định đầu tư trong trường hợp không có thuế thu nhập doanh nghiệp được thể hiện qua biểu đồ sau: - Đường lợi ích biên (đường FK) dốc xuống biểu thị lợi ích khi đầu tư thêm 1 đồng sẽ giảm
xuống theo giả thuyết sản phẩm biên giảm dần.
- Đường chi phí biên là hằng số và bằng δ + ρ.
- Doanh nghiệp sẽ đầu tư thêm cho đến khi chi phí biên bằng lợi ích biên (điểm A), tương
ứng mức đầu tư là K
1
.
- Đối với những điểm phía trái K
1
, việc đầu tư thêm sẽ tạo ra lợi ích lớn hơn chi phí, do đó
K
lúc này là: F
K
(1-T).
- Chi phí biên không thay đổi so với trường hợp không có thuế. Điều này dẫn đến đường F
K
di chuyển qua trái, lúc này lựa chọn đầu tư tối ưu là điểm B, giá trị
đầu tư giảm từ K
1
xuống K
2
. Doanh nghiệp sẽ đầu tư ít hơn nếu có thuế thu nhập.
5.1.3. Quyết định đầu tư trong trường hợp có thuế thu nhập doanh nghiệp nh đến ảnh hưởng
của khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư:
Nếu khấu hao được nh vào tổng chi phí được giảm trừ thuế thu nhập doanh nghiệp thì mỗi 1
x (1
–
T)
Đầu t
(K)
A
B
C
Chi phí biên
và lợi ích
biên
K
1
F
K
K
2
F
K
x (1
Điểm cân bằng mới là C với mức đầu tư K
3
. Mức đầu tư này cao hơn mức đầu tư trước khi đưa
tác động của khấu hao và giảm trừ thuế đối với đầu tư, nhưng vẫn thấp hơn khi không có thuế thu nhập
doanh nghiệp.
5.2 Tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tài trợ :
5.2.1 Tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tài trợ bằng vốn chủ sở hữu :
Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn điều lệ, thặng dư vốn cổ phần, lợi nhuận giữ lại. Lợi nhuận giữ
lại được lấy từ nguồn thu nhập hàng năm của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp chi trả cổ tức, cổ đông
sẽ phải chịu một khoản thuế trong khi lợi nhuận giữ lại sẽ tạo ra một khoản lời trên vốn cổ đông
nhưng họ không phải nộp thuế cho đến khi khoản lời được hiện thực (bán cổ phiếu, chia cổ tức). Do
đó, các doanh nghiệp có xu hướng giữ lại lợi nhuận. Tuy nhiên việc giữ lại lợi nhuận còn bị ảnh hưởng
bởi thuế suất của nhà đầu tư.
Những nhà đầu tư chịu mức thuế suất biên thấp có khuynh hướng đánh giá cổ tức tương đối
cao, họ có xu hướng đầu tư vào các doanh nghiệp có tỷ lệ chi trả cổ tức cao.
Những nhà đầu tư có thuế suất biên cao có khuynh hướng đầu tư vào doanh nghiệp không chi
trả cổ tức.
Những nhà đầu tư không chịu thuế sẽ đầu tư vào doanh nghiệp chi trả toàn bộ cổ tức.
5.2.2 Tác động của thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tài trợ bằng nợ vay:
Nợ vay là một trong hai nguồn vốn quan trọng của doanh nghiệp bên cạnh vốn chủ sở hữu.
Doanh nghiệp có thể vay mượn vốn từ các định chế tài chính như ngân hàng, hoặc thông qua phát
hành trái phiếu.
Ở hầu hết cá c nước, luật thuế đều cho phép doanh nghiệp khấu trừ khoản trả lãi tiền vay ra
khỏi thu nhập chịu thuế của công ty. Do đó, thuế đã tạo ra tấm lá chắn thuế, khuyến khích các doanh
nghiệp sử dụng nguồn tài trợ từ nợ vay.
Tuy nhiên, mỗi doanh nghiệp đều hướng tới một cấu trúc vốn tối ưu trong đó chỉ sử dụng một
tỷ lệ nợ vay nhất định do cá c nguyên nhân sau: - Khi sử dụng nợ vay, định kỳ doanh nghiệp phải tạo ra thu nhập để thanh toán nợ và lãi vay
Do đó, các công ty đa quốc gia sẽ có xu hướng phân phối các chi phí lớn đến các nước có thuế
suất cao, khi đó lợi nhuận giảm sẽ làm giảm lượng thuế phải đóng. Ngược lại thu nhập sẽ được phân
phối đến các nước có thuế suất thấp, nhằm tối đa hóa lợi ích thu được. Đây chính là vấn đề “chuyển
giá”. CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
1. Khái quát về tiến trình cải cách thuế TNDN ở Việt Nam:
Ở Việt Nam, từ ngày 01/10/1990, Luật Thuế lợi tức đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 30 tháng 6 năm 1990 có hiệu lực thi hành,
theo đó tổ chức, cá nhân thuộc các thành phần kinh tế có lợi tức từ các hoạt động sản xuất, xây dựng,
vận tải, thương nghiệp, ăn uống, dịch vụ và hoạt động kinh doanh khác trên lãnh thổ Việt Nam (gọi
chung là cơ sở kinh doanh) đều phải nộp thuế lợi tức theo quy định của Luật này.
Luật số 03/1997/QH9 của Quốc hội đánh dấu sự ra đời của Luật thuế Thu nhập
doanh nghiệp ở Việt Nam:
Cùng với công cuộc cải cách thuế bước I năm 1990, Luật thuế lợi tức đã được ban hành.
Tuy nhiên qua 8 năm thực hiện, Luật thuế lợi tức dần dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn
phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới: giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác
với các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã được
ban hành nhằm đảm bảo sự phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế.
Từ ngày 01/01/1999, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 10/5/1997 có hiệu lực thi hành, theo đó tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (dưới đây gọi chung là cơ sở kinh doanh) có thu
nhập đều phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp, trừ đối tượng quy định tại Điều 2 của Luật này.
Sau gần 5 năm thực hiện, Luật này đã bộc lộ những hạn chế, bất cập cần phải được sửa
đổi, bổ sung nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu, đòi hỏi của thực tế lúc bấy giờ. Do đó, tại kỳ họp
1-2009, giảm mức thuế suất chung để giúp doa nh nghiệp tăng nguồn lực tài chính, tăng tích lũy, tạo
điều kiện cho doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị
Cụ thể, Luật Thuế TNDN năm 2008 có một số điểm mới như sau:
Về phạm vi điều chỉnh, đối tượng nộp thuế.
Đối tượng nộp thuế TNDN trong Luật Thuế TNDN 2008 chỉ còn là các doanh nghiệp thuộc mọi
thành phần kinh tế, các tổ chức được lập theo Luật Hợp tác xã, các đơn vị sự nghiệp được thành
lập hợp pháp ở Việt Nam và tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo hướng dẫn của
Chính phủ.
Riêng đối tượng là cá nhân, hộ kinh doanh đang nộp thuế TNDN sẽ được chuyển sang nộp thuế
theo Luật thuế Thu nhập cá nhân cũng có hiệu lực thi hành từ 1-1-2009.
Về thu nhập chịu thuế, thu nhập miễn thuế và thu nhập tính thuế. Luật Thuế TNDN năm 2008 cũng có cách xác định thu nhập chịu thuế giống như Luật Thuế
TNDN 2003, tuy nhiên phần thu nhập khác trong thu nhập chịu thuế có một số bổ sung bao gồm:
(i) thu nhập từ chuyển nhượng vốn, quy định này có phạm vi rộng hơn quy định về thu nhập từ
chênh lệch mua, bán chứng khoán như trước đây. Với quy định này, các thu nhập từ việc chuyển
nhượng vốn khác không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Chứng khoán cũng bị điều chỉnh
như các trường hợp chuyển nhượng vốn theo Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư; (ii) thu nhập từ
chuyển nhượng bất động sản, việc bổ sung này là phù hợp với thực tế thị trường và hoạt động
kinh doanh bất động sản, xác định rõ nguồn thu từ chuyển nhượng quyền sử dụn g đất với nguồn
thu từ kinh doanh nhà trên đất
So với khoản 2, điều 19 Luật Thuế TNDN 2003, thì thu nhập được miễn thuế trong Luật Thuế
TNDN 2008 lần này được xác định cụ thể hơn ở điều 4 như thu nhập từ sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, thủy sản của các hợp tác xã, hoặc có ứng dụng kỹ thuật nông nghiệp, bổ sung một số
đối tượng chính sách như người sau cai nghiện, người nhiễm HIV cũng thuộc diện miễn giảm
Về các khoản chi được trừ và các khoản chi không được trừ khi xác định thu nhập chịu
thuế.
Một trong những điểm mới là Luật Thuế TNDN 2008 đã áp dụng nguyên tắc loại trừ khi xác
định các khoản chi phí của doanh nghiệp. Các khoản chi chỉ cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện
+ Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành cũng quy định chính sách ưu đãi trên cơ sở chọn
mức ưu đãi thuế cao nhất trong Luật khuyến khích đầu tư trong nước và Luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam để áp dụng chung cho doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã khắc
phục sự phân biệt đối xử trong ưu đãi đầu tư, tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng, thúc đẩy đầu
tư trong nước và đầu tư nước ngoài cùng phát triển, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế cao
trong những năm vừa qua.
+ Chính sách miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đang thực hiện tập trung ưu tiên cho
những doanh nghiệp vừa và nhỏ - những doanh nghiệp khó khăn nhất và cần được tiếp sức sớm nhất,
đã tạo ra những tác động tích cực trong việc thực hiện chính sách an sinh xã hội.
- Góp phần bảo đảm nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước: Mặc dù đã hạ mức thuế
và áp dụng các mức ưu đãi cao nhưng số thu ngân sách nhà nước về thuế thu nhập doanh
nghiệp vẫn bảo đảm tăng trưởng do có tác động cải thiện môi trường đầu tư, doanh nghiệp
trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đều phát triển về số lượng, quy mô và hiệu
quả kinh doanh, mức thuế hợp lý tác động đến việc tự giác sự tuân thủ tốt hơn Luật thuế
thu nhập doanh nghiệp đã góp phần bảo đảm nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước,
đáp ứng nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng về đầu tư phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, củng
cố an ninh, quốc phòng của đất nước. - Thúc đẩy cải cách hành chính trong quản lý thuế và hoàn thiện pháp luật về Thuế: Luật thuế
thu nhập doanh nghiệp áp dụng cơ chế doanh nghiệp tự tính, tự khai, tự chịu trách nhiệm
trước pháp luật về tính trung thực của số liệu đã kê khai thay cho cơ chế cơ quan thuế tính
thuế, thông báo thuế, quyết toán thuế. Việc ban hành và thực thi Luật thuế thu nhập doanh
nghiệp đã đánh dấu một bước tiến về cải cách thủ tục hành chính trong quản lý thuế và đầu
tư khi đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc lựa chọn, xác định điều kiện và mức
ưu đãi thuế mà không cần giấy phép, giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư. Nhờ việc chuyển sang
cơ chế mới, cơ quan thuế có điều kiện tập trung nguồn lực vào công tác tuyên truyền, hỗ trợ,
kiểm tra, giám sát để giúp cho doanh nghiệp thực hiện tốt các quy định của pháp luật.
Mặt hạn chế:
Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp :
“Doanh nghiệp sau khi quyết toán thuế mà bị lỗ thì phải chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu
nhập chịu thuế của những năm tiếp theo. Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm
tiếp sau năm phát sinh lỗ.”
Qua các trích dẫn trên ta thấy có 3 cách hiểu khác nhau về vấn đề chuyển lỗ khi doanh nghiệp
xác định thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp:
- Theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp: khi doanh nghiệp xác định thu nhập tính thuế trong
kỳ tính thuế thì họ được trừ các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước và không quy
định trong khoảng thời gian bao lâu.
- Theo Nghị định 124 và Thông tư 130 : chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ năm
tiếp sau năm phát sinh lỗ. Theo đó: 5 năm là tính cho thời gian từ năm tiếp theo năm lỗ liên
tục hết 5 năm, doanh nghiệp có thể lựa chọn chuyển lỗ trong năm nào bất kỳ nhưng không
quá 5 năm (Từ 31 tháng 12 năm 2008 doanh nghiệp đã áp dụng cách chuyển lỗ này).
Nếu áp dụng theo 2 cách này sẽ có lợi và thuận tiện cho doanh nghiệp hơn: nếu năm sau có lãi
và doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi thuế thì vẫn được ưu đãi và chuyển lỗ sang các năm sau -
theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (nhưng không quá 5 năm theo Nghị định 124 và Thông tư 130).
- Theo Thông tư 18: doanh nghiệp phải chuyển toàn bộ và liên tục số lỗ vào thu nhập chịu
thuế của những năm sau. Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm. Như vậy,
doanh nghiệp sẽ không được lựa chọn năm chuyển lỗ, giả dụ năm 2010 lỗ, năm 2011 có lãi
và được ưu đãi miễn thuế thu nhập doanh nghiệp thì doanh nghiệp không được miễn thuế mà
phải chuyển lỗ ngay (trước khi có Thông tư 18/2011/TT-BTC sửa đổi Thông tư
130/2008/TT-BTC thì từ 1/1/2009 việc chuyển lỗ đã được áp dụng theo phương thức này
thông qua các công văn hướng dẫn quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp hàng năm). Ví dụ 1: Năm 2011 doanh nghiệp A có phát sinh lỗ là 10 tỷ, năm 2012 doanh nghiệp A có phát
sinh thu nhập chịu thuế là 12 tỷ đồng thì toàn bộ số lỗ phát sinh năm 2011 là 10 tỷ, doanh nghiệp A
phải chuyển toàn bộ vào thu nhập chịu thuế năm 2012.
Ví dụ 2: Năm 2011 doanh nghiệp B có phát sinh lỗ là 20 tỷ, năm 2012 doanh nghiệp B có phát
sinh thu nhập chịu thuế là 15 tỷ đồng thì:
+ Doanh nghiệp B phải chuyển toàn bộ số lỗ 15 tỷ vào thu nhập chịu thuế năm 2012;
Thông tư 130/2008/TT-BTC. Trong đó một số nội dung vẫn chưa rõ ràng và mặc dù có sửa đổi, bổ sung
nhưng tính khả thi chưa cao:
- Chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mãi, hoa hồng môi giới; chi tiếp tân, khánh tiết, hội
nghị… hiện nay không được vượt quá 10% tổng số chi được trừ (Đối với doanh nghiệp mới
thành lập thì tỷ lệ này là 15% trong 3 năm đầu). Với quy định này thì một số doanh nghiệp
tùy theo đặc thù kinh doanh sẽ có chi phí này vượt tỷ lệ trên nhưng vẫn không được tính vào
chi phí được trừ.
- Chi thù lao trả cho các thành viên của Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị không trực
tiếp tham gia điều hành sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ… không được tính vào các
khoản chi được trừ. Chúng ta khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động minh bạch hơn,
quản trị hiệu quả hơn. Một trong những cách mà doanh nghiệp nên áp dụng để tăng hiệu quả
là mời chuyên gia giỏi, mời các nhà quản lý giỏi tham gia làm hội đồng thành viên hoặc
thành viên Hội đồng quản trị độc lập. Đây là chi phí hoàn toàn hợp lý và cần được thừa
nhận, nhưng chúng ta không chấp nhận…
2.2.5 Các khoản thu nhập khác:
Điều 18 của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp: Điều kiện áp dụng ưu đãi thuế quy định: Việc ưu
đãi thuế thu nhập doanh nghiệp của Luật này không áp dụng đối với: Thu nhập quy định tại khoản 2
Điều 3 của Luật này (là các khoản thu nhập khác). Thu nhập khác bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng
vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ
chuyển nhượng, cho thuê, thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ; hoàn
nhập các khoản dự phòng; thu khoản nợ khó đòi đã xoá nay đòi được; thu khoản nợ phải trả không
xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu
nhập khác, kể cả thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doa nh ở ngoài Việt Nam.
Các khoản thu nhập khác trên có nhiều khoản liên quan mật thiết với hoạt động sản xuất kinh
doanh cơ bản được ưu đãi thuế; ví dụ: thanh lý tài sản; thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn; hoàn
nhập các khoản dự phòng; thu khoản nợ khó đòi đã xoá nay đòi được; thu khoản nợ phải trả không
xác định được chủ; khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót và các khoản thu
nhập khác. Do các khoản thu nhập từ hoàn nhập các khoản dự phòng đều chủ yếu trích từ hoạt động
sản xuất kinh doanh cơ bản vì vậy không được ưu đãi thuế là bất hợp lý và thiệt thòi cho doanh
Hiệp định tránh đánh thuế hai lần - quy định chồng chéo, chưa rõ ràng và thiếu thực tế. Đối với
những nước mà Việt Nam có ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, nếu thu nhập phát sinh tại
nước đó, doanh nghiệp có thể xem xét áp dụng miễn giảm thuế tại Việt Nam cho phần thu nhập nói trên theo Hiệp định. Tuy nhiên, để được hưởng miễn giảm thuế theo Hiệp định, doanh nghiệp lại phải
tiến hành rất nhiều thủ tục, hồ sơ phức tạp và hầu như không thực hiện được.
CHƯƠNG 3:
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP
Ở VIỆT NAM
1. Giải pháp về quản lý hành chính thuế
- Thứ nhất, Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế chính sách, pháp luật thuế theo hướng đơn
giản, công bằng, minh bạch, công khai ; Kiên quyết xoá bỏ cách quản lý, điều hành “trọng
công văn hơn trọng pháp” ; Tránh việc ban hành các công văn “siêu luật”, dùng công văn để
điều chỉnh chính sách hoặc công văn chứa đựng các quy phạm mới ; Triển khai thực hiện có
hiệu quả Luật quản lý thuế.
vụ của mình.
2. Giải pháp cải cách đối với chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp
Theo Quyết định số 732/QĐ-TTg của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc phê duyệt chiến lược
cải cách hệ thống thuế thu nhập doanh nghiệp giai đoạn 2011 – 2020 :
- Đơn giản hóa chính sách ưu đãi thuế theo hướng hẹp về lĩnh vực, tiếp tục khuyến khích đầu
tư vào các ngành sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng lớn, các ngành công nghiệp hỗ
trợ, sử dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, dịch vụ chất lượng cao, lĩnh vực xã hội hóa,
vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn; - Bổ sung quy định về các khoản chi phí được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập
chịu thuế;
- Bổ sung các quy định để bao quát được các hoạt động kinh tế mới phát sinh trong kinh tế thị
trường hội nhập và phù hợp với thông lệ quốc tế như : Hoạt động bán hàng đa cấp, thương
mại điện tử, sự phát triển của các tập đoàn kinh tế, hiện tượng “vốn mỏng” khi xác định chi
phí, đặc biệt là chi phí lãi vay, điều chuyển hoặc đánh giá lại tài sản khi tái cơ cấu doanh
nghiệp, thỏa thuận trước về giá của các doanh nghiệp liên kết.