Quản trị tính thanh khoản trong hệ thống ngân hàng thương mại việt nam - Pdf 23

Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
1 | P a g e
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Đề tài: QUẢN TRỊ TÍNH THANH KHOẢN TRONG HỆ
THỐNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Tiểu luận môn học Quản trị ngân hàng
Nhóm 9 –TCDN Đêm 2
t p . h c m , t h á n g 4 / 2 0 1 4
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 4
I.Khái niệm 4
II.Cung cầu về thanh khoản 4
III.Các phương pháp quản lý rủi ro thanh khoản 6
Chương 2: PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH QUẢN TRỊ TÍNH THANH KHOẢN
TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM 8
I.Thực tiễn quản trị thanh khoản trong hệ thống ngân hàng tại Việt Nam 8
II.Tình hình quản trị thanh khoản ở một số ngân hàng tiêu biểu 11
1.Ngân hàng quốc tế ABBank 11
2.Sự kết hợp của 3 ngân hàng Đệ Nhất (Ficombank), Việt Nam Tín Nghĩa
(TinNghiaBank) và Ngân hàng Sài Gòn (SCB) 12
3.Ngân hàng Á Châu (ACB) 13
Chương 3: NGUYÊN NHÂN, MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP 15
I.Nguyên nhân 15
II.Giải pháp: 16
KẾT LUẬN 21
2 | P a g e
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
LỜI MỞ ĐẦU

không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn
để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán
3. Quản trị thanh khoản:
Là việc quản lý có hiệu quả cấu trúc tính thanh khoản của tài sản và cấu trúc
danh mục của nguồn vốn
Bản chất của công tác quản trị thanh khoản trong ngân hàng thể hiện:
+ Thứ nhất, rất ít khi điểm tổng cung bằng với tổng cầu thanh khoản. Do đó,
ngân hàng thường xuyên đối phó với tình trạng thâm hụt hoặc thặng dư thanh
khoản.
+ Thứ hai, thanh khoản và khả năng sinh lời là hai đại lượng tỷ lệ nghịch với
nhau: tài sản có tính thanh khoản càng cao thì khả năng sinh lời của nó càng
thấp và ngược lại, một nguồn vốn có tính thanh khoản cao thường có chi phí
huy động lớn.
II. Cung cầu về thanh khoản
1. Cung thanh khoản
4 | P a g e
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
Cung thanh khoản là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là
nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm:
- Các khoản tiền gửi đang đến (S1)
- Doanh thu từ việc bán các khoản dịch vụ (S2)
- Thu hồi tín dụng đã cấp (S3)
- Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng (S4)
- Vay mượn từ thị trường tiền tệ (S5)
2. Cầu thanh khoản:
Là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm
quỹ của ngân hàng, bao gồm:
- Khách hàng rút các khoản tiền gửi (D1).
- Yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất lượng cao (D2).
- Hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi (D3).

buộc dư ra nếu có, bán dự trữ thứ cấp, vay qua đêm, vay tái chiết khấu…
III. Các phương pháp quản lý rủi ro thanh khoản
1. Duy trì một tỷ lệ hợp lý giữa vốn dùng cho dự trữ và vốn dùng cho kinh doanh
sao cho phù hợp với các đặc điểm hoạt động của ngân hàng.
2. Chú trọng yếu tố thời gian của vấn đề thanh khoản:
Xét về thời gian, nhu cầu thanh khoản của một ngân hàng bao gồm cả trong
ngắn hạn và dài hạn
+ Nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn bao gồm các khoản tiền gửi giao dịch
hoặc tiền gửi giao dịch có kỳ hạn đến hạn, các công cụ huy động thuộc thị
trường tiền tệ… nằm trong phạm vi nhu cầu thanh khoản ngắn hạn. Để đáp ứng
nhu cầu này, đòi hỏi ngân hàng phải duy trì ở mức độ khá lớn các loại tài sản có
tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi tại NHTW,
+ Nhu cầu thanh khoản dài ha5ndo các nhân tố mang tính chất thời vụ, chu kỳ
và xu hướng tạo ra. Để đáp ứng nhu cầu này, đòi hỏi ngân hàng dự phòng trước
khả năng cung cấp vốn từ nhiều nguồn khác nhau, và mức độ cao hơn so với
nhu cầu thanh khoản trong ngắn hạn
6 | P a g e
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
3. Đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả
Tỷ lệ khả năng chi trả =
TSC có thể thanh toán ngay
TS nợ phải thanh toán ngay
Tổ chức tín dụng phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả đối với
từng loại tiền, vàng như sau:
+ Tỷ lệ tối thiểu bằng 15% giữa tổng tài sản “Có” thanh toán ngay và tổng Nợ
phải trả
+ Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “Có” đến hạn thanh toán trong 7 ngày
tiếp theo kể từ ngày hôm sau và tổng tài sản “ Nợ ” đến hạn thanh toán trong 7
ngày tiếp theo kể từ ngày hôm sau đối với đồng Việt Nam, Euro, đồng bảng
Anh, và đồng đô la Mỹ.

còn chưa hoàn toàn hết căng thẳng và nợ xấu có chiều hướng gia tăng dẫn đến hoạt
động sản xuất và kinh doanh của nhiều doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn trầm
trọng bởi một loạt nguyên nhân: mặc dù đã có Nghị quyết 13/NQ-CP của Chính phủ về
một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ thị trường song
các doanh nghiệp vẫn còn gặp nhiều kho khăn trong việc tiếp cận tới vốn tín dụng với
lãi suất có thể chấp nhận được từ hệ thống ngân hàng thương mại; sức mua của thị
8 | P a g e
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
trường nội địa bị sụt giảm và vẫn chưa có dấu hiệu được khôi phục và dấu hiệu căng
thẳng trên thị trường lao động có xu hướng gia tăng.
• Thực trạng:
Với vai trò là cơ quan giám sát, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia
(UBGSTCQG) cho rằng, trong những năm qua hệ thống ngân hàng của Việt Nam phát
triển khá nhanh nhưng đi kèm với đó cũng chưa đựng nhiều rủi ro cần sớm được khắc
phục.
- Nợ xấu không được xử lý tốt sẽ kéo theo rủi ro vỡ thanh khoản: Theo kết
quả công bố ngày 12/7/2012 của cơ quan thanh tra giám sát Ngân hàng (NHNN), tính
đến thời điểm 31/3/2012 thì nợ xấu của các tổ chức tín dụng là hơn 202.000 tỷ đồng,
chiếm tỷ lệ là 8,6% tổng dư nợ. Theo kết quả khảo sát báo cáo tài chính riêng lẻ của 6
ngân hàng niêm yết (gồm Vietcombank, Vietinbank, ACB, MB, Eximbank và
Navibank) thì tính đến thời điểm 30/6/2012, tổng nợ xấu của cả 6 ngân hàng này được
ghi nhận là khoảng 18.942 tỷ đồng và chiếm tỷ lệ 2,51% tổng dư nợ của 6 ngân hàng;
trong đó, Navibank có tỷ lệ nợ xấu cao nhất là 3,86%, Vietcombank là 3,47%,
Vietinbank 2,45%, MB 1,82%, Eximbank 1,73%, ACB 1,53%. Tỷ lệ nợ xấu như trên
đã gây tâm lý lo ngại cho công chúng và nhà đầu tư.
9 | P a g e
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
- Thanh khoản hệ thống luôn bấp bênh, căng thẳng: Theo báo cáo của Ủy ban
Giám sát Tài chính Quốc gia, tỷ lệ cho vay/huy động của các tổ chức tín dụng
tại Việt Nam nói chung luôn ở mức trên 90%. Đặc biệt tỷ lệ cho vay/huy động

Điều này đã khiến cho vấn đề thanh khoản của các ngân hàng đã nóng nay càng
trở nên căng thẳng hơn.
II. Tình hình quản trị thanh khoản ở một số ngân hàng tiêu biểu
1. Ngân hàng quốc tế ABBank
Trong năm 2008 các ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng
hoảng tài chính, chính sách thắt chặt tiền tệ, thị trường nội tệ và ngoại tệ có nhiều biến
động lớn, ít có thanh khoản, Bước sang năm 2009 với những tín hiệu tích cực từ nền
kinh tế, nguồn vốn huy động của các ngân hàng cũng chịu tác động nhất định, gây áp
lực về thanh khoản và cân đối vốn. Tuy nhiên, với sự phát triển ổn định, khả năng nắm
11 | P a g e
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
bắt và theo dõi kịp thời biến động vốn khả dụng, ABBANK vẫn đảm bảo tuyệt đối an
toàn thanh khoản, đáp ứng tối đa nhu cầu thanh toán của khách hàng. Sang năm 2010,
Ngân hàng đã khẳng định vị trí của mình khi đã phát hành thành công trái phiếu để
nâng mức vốn điều lệ lên 3.831 tỷ đồng, mức huy động vốn tăng 73% so với năm
2009. Lấy việc phát triển luôn gắn liền với việc đảm bảo an toàn trong hoạt động,
ABBANK luôn coi trọng công tác phòng ngừa rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản.
Thêm vào đó, thông qua sự liên kết hợp tác với Maybank, Ngân hàng đã nhận được
những kinh nghiệm quản trị rủi ro chuyên nghiệp của những Ngân hàng nước ngoài
lớn. Kết quả là ABBANK luôn đảm bảo tình hình thanh khoản tốt qua các năm, tạo
được niềm tin vững chắc cho khách hàng.
Kết thúc năm 2011 khối quản lý rủi ro của ngân hàng ABBANK đã nổ lực thực
hiện và hoàn thành các kế hoạch đã đề ra nhằm hạn chế tối đa các tác động đến ngân
hàng. Đặc biệt việc quản lý rủi ro thanh khoản được ngân hàng đặc biệt quan tâm. Khối
phối hợp với TT Core đưa phân tích hành vi khách hàng và báo cáo quản lý thanh
khoản, áp dụng các mô hình quản lý rủi ro lãi suất trong báo cáo, đưa các kịch bản
phân tích cho báo các về các khả năng chịu áp lực về thanh khoản. Các nổ lực trong
năm 2011 của khối quản lý rủi ro giúp ngân hàng hạn chế rủi ro, đảm bảo quá trình
hoạt động ổn định của ngân hàng đồng thời có các quyết định tài chính, chiến lược đảm
bảo thanh khoản hợp lý cho năm 2012.

Tuy nhiên đến 08/2012 với sự sai phạm pháp luật của chính Tổng giám đốc ACB
đã làm ngân hàng này một lần nữa rơi vào sóng gió. Người dân kéo nhau đến rút tiền ở
hầu như tất cả các chi nhánh ngân hàng. Tuy nhiên một lần nữa Ngân hàng nhà nước
lại đóng vai trò cứu cánh cuối cùng cho ACB bằng việc hỗ trợ cho ACB vay tiền. Đồng
thời hệ thống liên ngân hàng cũng đã hỗ trợ ACB không nhỏ. Trong ngày 22/8, ngân
13 | P a g e
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
hàng đã vay một khoản tiền lớn trên thị trường mở (OMO). Cụ thể, lượng tiền chảy vào
tài khoản của ACB từ OMO trong ngày là 7.000 tỷ đồng.
Ta thấy rằng trong những tình huống khó khăn chúng ta mới nhận ra tầm quan
trọng của việc quản trị thanh khoản. Trong những tình huống bất ngờ như của ngân
hàng ACB nếu không xử lý được thì ngân hàng sẽ mất thanh khoản, sẽ dẫn đến việc
phá sản. Tuy nhiên như chúng ta cũng biết, việc một ngân hàng phá sản sẽ dẫn đến
hiệu ứng lan truyền đến toàn hệ thống ngân hàng, gây mất niềm tin trong công chúng.
Vì lý do đó nên trong hai lần ACB gặp sự cố thanh khoản đều có sự trợ giúp rất lớn từ
ngân hàng nhà nước và rủi ro thanh khoản đã được hạn chế đến mức thấp nhất.
Từ sự kiện trên chúng ta nhận thấy rằng, tồn tại rủi ro thanh khoản rất lớn trong hệ
thống ngân hàng. Các ngân hàng đều chạy theo lợi nhuận và duy trì dự trữ rất thấp.
Ngân hàng cũng chỉ là một doanh nghiệp kinh doanh vì mục đích cuối cùng là lợi
nhuận, nên việc phải tạo ra càng nhiều lợi nhuận càng tốt là lẽ đương nhiên. Tuy nhiên
cũng có thể các ngân hàng luôn có tâm lý ỷ lại vào vai trò là người cho vay, là cứu
cánh cuối cùng của ngân hàng nhà nước. Gặp sự cố sẽ dựa vào ngân hàng nhà nước,
nên các ngân hàng luôn kinh doanh mà không đặt nặng vai trò của quản trị tính thanh
khoản.
14 | P a g e
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
Chương 3: NGUYÊN NHÂN, MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
I. Nguyên nhân
Theo các chuyên gia thì trong 36 loại rủi ro hoạt động tài chính ngân hàng thì rủi ro
thanh khoản được coi là rủi ro nguy hiểm nhất. Vì một khi ngân hàng mất khả năng

đảm bảo đúng các tỷ lệ an toàn theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Cùng với trách nhiệm của ngân hàng thương mại thì quản lý rủi ro thanh khoản còn có
một phần trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước với tư cách là người mua bán cuối
cùng trên thị trường ngân hàng, nhằm ổn định tính thanh khoản cho cả hệ thống. Do đó
đã tạo ra tâm lý ỷ lại của các ngân hàng thương mại, luôn có ngân hàng nhà nước là
cứu cánh cuối cùng khi gặp rủi ro thanh khoản.
- Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác như : sự sụt giảm mạnh giá cổ phiếu của
ngân hàng, chỉ số tín nhiệm tín dụng của ngân hàng giảm sút cũng ảnh hưởng đến tâm
lý của người gửi tiền và các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vốn vào các ngân hàng.
II. Giải pháp:
Trước tình hình nền kinh tế đang khó khăn và suy thoái như hiện nay, vấn đề tính
thanh khoản đang là một chủ đề rất phức tạp và thường xuyên được nhắc đến vì sự
nghiêm trọng và việc giải quyết cấp bách vấn đề thanh khoản hiện nay. Để nâng cao
quản trị trong hệ thống Ngân hàng, việc này phải được thực hiện từ Nhà nước, Ngân
hàng nhà nước và các Ngân hàng thương mại .
1/ Đối với Chính phủ:
Chính phủ cần phải hoàn thiện hệ thống luật pháp đáp ứng yêu cầu hội nhập vào
nền kinh tế khu vực và thế giới. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm xây dựng hệ
thống Ngân hàng thương mại lành mạnh, minh bạch, vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước.
16 | P a g e
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
Cần phải đảm bảo tính độc lập của Ngân hàng nhà nướcđể thực hiện các chính
sách tiền tệ hiệu quả và nhanh chóng.
2/ Đối với Ngân hàng nhà nước
Ngân hàng nhà nước phải thực hiện các chính sách tiền tệ linh hoạt và thận trọng,
phối hợp chặt chẽ với các chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác
nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Lãi suất và tỷ giá được điều hành ở
mức phù hợp với các cân đối kinh tế vĩ mô, đảm bảo an toàn hệ thống và nâng cao hiệu
quả quản lý của Ngân hàng nhà nước.

hàng. Một số giải pháp để khắc phục tình trạng này:
Các Ngân hàng thương mại cần phải xem Quản trị rủi ro thanh khoản là một ưu
tiên hàng đầu trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Việc đảm bảo và quản lý
tính thanh khoản ngân hàng không phải chỉ là nhiệm vụ hỗ trợ phía sau. Điều này cần
được thực hiện từ ban quản lý cấp cao. Chỉ có ở cấp quản lý này mới có thể quyết định
chính xác cần phải áp dụng những biện pháp nào, đến mức độ nào và với chi phí bao
nhiêu, để có thể ứng phó với bất kỳ tình huống nào đe dọa đến khả năng thanh khoản
của ngân hàng. Do đó, các Ngân hàng cần nâng cao năng lực quản trị của ban điều
hành , nâng cao năng lực hoạch định và dự báo để có kế hoạch chủ động đối phó kịp
thời.
Các Ngân hàng thương mại cần cân đối cơ cấu và tỷ trọng tài sản nợ, tài sản có
cho phù hợp với năng lực. Đây là việc làm cực kỳ quan trọng trong việc giữ vững
thanh khoản cho Ngân hàng.
18 | P a g e
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
- Thực hiện cơ cấu huy động và cho vay, đặt ra một tỷ lệ phù hợp về huy động
ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn, nên đưa ra một tỷ lệ nhất định về việc lấy nguồn
huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn phù hợp với từng Ngân hàng, từng thời
kỳ, tránh tỷ lệ quá cao.
- Ngân hàng cũng nên tăng cường huy động nguồn vốn với kỳ hạn dài nhằm tạo
sự ổn định thanh khoản trong dài hạn, đặc biệt là nhu cầu thanh khoản trong các dịp
đặc biệt như dịp tết âm lịch.
- Hạn chế cho vay tập trung vào một số khách hàng lớn, hạn chế tín dụng vào một
số ngành nghề hay địa phương cụ thể, đa dạng khách hàng và ngành nghề để tối ưu hóa
và hạn chế rủi ro danh mục cho vay. Hạn chế cho vay vào những lĩnh vực có độ rủi ro
và có tính đầu cơ như bất động sản.
Ngân hàng thương mại phải nghiêm túc thực hiện các Quy định về dự trữ bắt
buộc và dự trữ thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước. Thực hiện việc quản lý tốt chất
lượng tín dụng, kỳ hạn tín dụng, rủi ro lãi suất và khe hở lãi suất: Giảm tối thiểu tỷ lệ
nợ xấu, nợ quá hạn, có kế hoạch tìm hiểu khách hàng và dự trù cho những tình huống

20 | P a g e
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
KẾT LUẬN
Quản trị tính thanh khoản trong hệ thống ngân hàng là yếu tố quan trọng hàng
đầu đảm bảo tính an toàn cho hệ thống Ngân hàng. Đây không phải là vấn đề mới
nhưng trong giai đoạn tình hình nợ xấu đang có chiều hướng gia tăng và chiếm tỷ trọng
lớn, vấn đề nâng cao tính thanh khoản trong hệ thống ngân hàng ngày càng trở nên
quan trọng và cấp thiết hơn bao giờ hết. Tình hình thanh khoản của các Ngân hàng đã
được xem xét đồng thời nhiều giải pháp đã được đưa ra, bao gồm cả vai trò của Chính
phủ, Ngân hàng Nhà nước và trong bản thân các ngân hàng. Trong thời gian tới, cùng
với việc tái cơ cấu hệ thống ngân hàng, mà mở đầu là ba ngân hàng Đệ Nhất
(Ficombank), Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiaBank) và Sài Gòn (SCB), hệ thống tài
chính sẽ trở nên ổn định và mạnh mẽ hơn, tính thanh khoản của các ngân hàng sẽ được
chú trọng và cải thiện đáng kể.
Tài liệu tham khảo
21 | P a g e
Quản trị ngân hàng GVHD: PGS.TS Trần Huy Hoàng
− Nguyễn Duy Sinh, “Nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro thanh khoản trong các
ngân hàng thương mại Việt Nam”, Luận văn TP.HCM, 7/2009
− />ngan-hang.htm
− />−
− Website các Ngân hàng thương mại VN
− Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2011 của ngân hàng ABBank


− ngan - hang /
− www.baomoi.com › Kinh tế › Tài chính

− Website một số bài nghiên cứu:
22 | P a g e


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status