BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
ĐOÀN THỊ MÂY
LỄ HỘI CHÙA HƢƠNG Ở XÃ HƢƠNG SƠN,
HUYỆN MĨ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực hiện
Đoàn Thị Mây
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và đóng góp đề tài 3
2.1. Đối tượng 3
2.2. Phạm vi nghiên cứu 3
2.3 Đóng góp đề tài 3
4. Nguồn tư liệu – phương pháp nghiên cứu 4
5. Bố cục khóa luận 3
mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Để có vùng quê trù phú, yên bình hôm nay là quá trình đấu tranh với
thiên tai, địch họa kiên cường bền bỉ của thế hệ nhân dân Hương Sơn. Trong
dòng chảy lịch sử ấy đã bồi tụ, hun đúc bản sắc văn hóa bản địa với giá trị
truyền thống quý báu.
Lễ hội là đối tượng quan trọng của nền văn hóa dân tộc, có ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của con người, đồng
thời phản ánh rõ nét sinh hoạt tín gưỡng của người Việt. Vì vậy từ lâu lễ hội
không chỉ là đối tượng nghiên cứu của các nhà văn hóa, các nhà dân tộc mà còn
là nghiên cứu cảu các nhà sử học.
Trong thời buổi kinh tế thị trường hiện nay, không khí trong khu vưc mà
trên toàn thế giới dang tập trung phát triển kinh tế theo xu hướng: “Công nghiệp
hóa – hiện đại hóa” mà vô tình làm mai một đi giá trị truyền thống, ngày nay
trong lễ hội cũng được cải thiện nhiều cho phù hợp với nèn kinh tế thị trường mà
lãng quên đi nguyên tắc vốn có. Do đó việc giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc
là nhiệm vụ quan trọng của tất cả người Việt. Trong văn kiện Đại hội X của
Đảng chỉ rõ: “xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đáp
ứng yêu cầu phat triển của con người và xã hội tạo được đẩy mạnh phát triển
2
công nghiệp hóa hiện đại hóa” và hội nhập quốc tế theo nguyên tắc: hòa nhập
nhưng không hào tan. Cho nên việc đi sâu tìm hiểu lễ hội chùa Hương nhằm
mục đích phần nào kiên trì, phát huy truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc
dân tộc và yếu tố tích cực của lễ hội trong đời sống hiện nay.
Lễ hội là đối tượng quan trọng của sử học, có ý nghĩa hết sức quan trọng
trong đời sống vật chất cũng như tình cảm của con người. Nó gắn liền quá khú
với hiện tại, chính vì vậy ở từng địa phương mới nhận thấy dược vai trò và tầm
quan trong của mình. Việc nghiên cứu tìm hiểu lễ hội chùa Hương không nằm
ngoài lí do đó.
Không giống bất kì nơi nào chùa Hương là một tập hợp nhiều đền chùa
quần thể di tích chùa Hương.
Cuốn “Lịch sử chùa Hương tích” Nguyễn Đức Bảng đã nói lên lịch sử xây
dựng chùa Hương tích để trở thành nơi địa linh cảnh đẹp, sơn thủy hữu tình.
Chùa Hương mang dấu ấn tâm linh, tín ngưỡng dân gian mang đậm đà bản sắc
dân tộc.
Tuy nhiên, những bài viết, những công trình nghiên cứu trên chỉ dừng lại
ở một góc độ, một khía cạnh nhất định qua cái nhìn của từng tác giả do đó
không mang tính tổng thể của lễ hội chùa Hương. Vì thế tôi chọn đề tài này để
nghên cứu, chỉ ra: Lịch sử hình thành, nội dung, ý nghĩa của “Lễ hội chùa
Hương ở xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức, thành phố Hà Nội”.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu và đóng góp đề tài
3.1 Đối tƣợng
Như tên gọi của đề tài tôi chỉ tập trung vào việc tìm hiểu nghiên cứu về “
Lễ hội chùa Hương ở xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức, thành phố Hà Nội”.
3.2 Đóng góp đề tài
Đề tài được thực hiện nhằm khôi phục lại một cách tổng thể, toàn diện về
lễ hội chùa Hương giúp nhân dân, chính quyền địa phương có cách nhìn đúng
đắn về lễ hội.
Đề tài giúp ai quan tâm hơn về lễ hội văn háo, tăng cường giao lưu, hiểu
biết lẫn nhau giữa địa phương này với địa phương khác
3.3 Phạm vi nghiên cứu
4
Đề tài được tiến hành trong phạm vi nghiên cứu là: nguồn gốc, nội dung
và ý nghĩa của lễ hội chùa Hương ở xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức, thành phố
Hà Nội.
4. Nguồn tƣ liệu – phƣơng pháp nghiên cứu
Do tính chất của đề tài nên tôi đã vận dụng phương pháp của chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét và đánh giá các vấn đề thuộc
lĩnh vực nghiên cứu.
Vào những thế kỉ trước,nơi đây là rừng cây rậm rạp bao phủ, đi lại khó
khăn, dân cư sinh sống khá biệt lập với cùng các dân cư khác. Từ sườn núi phía
đông sang phía tây gặp đường 21A là 5 và 6 dãy núi, qua các ngả đường quèn:
như quèn Côm, quèn Cây Khế, quèn Đầu Voi, quèn Thung Hội, quèn Vồng để
đi ra tới các điểm dân cư nằm ven sông Đáy phải nội qua chằm chằm và một
thôi đường chừng 4,5km.
Xã Hương Sơn nằm trên bãi bồi sông Đáy, hai phía Đông và phía Nam là
hai dòng sông Đáy uốn lượn ôm trọn lấy vùng đất này và trở phù sa về làm giàu
đất đai cảu các cánh đồng, dòng sông Đáy kéo dài từ đầu làng Hòa Đoạn rồi uốn
lượn ôm lấy bãi Nương (Tiên Mai), vòng về ấp Tân Sơn cuối làng Phúc Yên
6km. sông Đáy cũng là địa giới tự nhiên giữ Hương Sơn với các xã Hồng Quang
(Ứng Hòa), Tượng Lĩnh (Kim Bảng). Phía bắc giáp xã Hùng Tiến, xưa có sông
Thường Vệ cắt chéo từ Tây Bắc sang Đông Nam, sách “Đại Nam nhất thống
chí” có nhắc tới cửa sông Đục Khê.
Diện tích tự nhiên của xã Hương Sơn là 4283ha, hình thành 2 vùng. Vùng
núi phía tây bao mòn và vùng đất bồi tụ phù sa sông Đáy, đón đất phù sa trên
cao trôi xuống nên đất khá giàu dinh dưỡng, có màu nâu sẫm.
Dãy núi đá vôi ôm trọn toàn bộ phía Tây dăy Hương Sơn, kéo dài 5km từ Tây
Bắc sang Hòa Bình, ngăn cách núi rừng với đồng bằng tạo thành bức tường
6
thành tạo bởi dãy úi đá vôi trùng điệp liên tiếp mà nhân dân quen gọi là địa giới
này là “Thượng chí voi đái,hạ chí chói đèn”.
Trên tổng thể địa hình huyện Mĩ Đức nằm trên bã bòi sông Đáy à nghiêng
dần về đất Hương Sơn. Vì vậy Hương Sơn ở vùng đất trũng nhất của huyện Mĩ
Đức, vừa là nơi dồn chứa nước của sông Đáy, dân gain gọi đây là “rốn tiên
nước” của huyện.
Điều kiện địa hình và thổ nhưỡng gây rất nhiều khó khăn trong canh tác,
đặc biệt là đồn điền dồn thửa, xây dựng những cánh đồng canh tác vơí quy mô
lớn, để sinh tồn các thế hệ nhân dân Hương Sơn không ngừng cải tạo đất đai,
dương, khỉ… Trên các chằm ở Hương Sơn có đủ các loài chim, có diêcj, có
móng két, vạc, bồ nông… vùng đất có vngf núi bao quanh, sông hồ phong phú
trở thành nơi trú ngụ của các loài chim di cư. Hàng năm cứ vào thời gian chuyển
mùa, trời thường có gió mùa đông bắc tràn về, nước cạn hàng đàn móng két ban
kín vùng xà xuống ăn.
Xã có nguồn dược liệu khá phong phú về chủng loại và giàu trữ lượng do
đặc điểm khí hậu và đất đai cây thuốc của Hương Sơn có hàm lượng chất trong
các loại cây, củ, quả cao được nhân dân ưa chuộng.
Do quá trình khai thác quá mức và không kế hoạch không được bổ sung
nên những cánh rừng dọc do các đá vôi đến nay dân thưa thoáng và cạn kiệt. xen
giữa các lớp đá vôi là những đất bằng phẳng, tơi xốp, đất mùn cao, nhân dân bản
địa gọi là thung lũng. Những thung lũng này chiếm diện tích khá lớn như thung
Chùa gần 30 mẫu, thung Xương gần 90 mẫu, thung Tiên gồm 40 mẫu, thung
Rác trên 25 mẫu… trong các thung lũng nhân dân cải tạo trồng các loại cây công
nghiệp, ây ăn quả, cây lương thực, cây tre, cây vầu, mai, mơ, sắn, trầu không, lá
dong…
Bên cạnh những điều kiện tự nhiên thuận lợi mang lại huyện không ít gặp
những khó khăn như: lũ lụt, hạn hán gây thiệt hại cho con người và của cải, khai
thác khoáng sản khó khăn.
Là vùng quê có lịch sử phát triển lâu đời gắn liền với quá trình hình thành
và phát triển của quốc gia dân tộc, với các nền văn minh Văn Lang –Âu Lạc –
Đại Việt- Việt Nam, đời sống của nhân dân vô cùng phong phú và giàu chất
8
nhân văn. Lịch sử hình thành và phát triển của xóm làng ở Hương Sơn diễn ra
lâu dài, liên tục từ xa xưa cho tới hiện đại, nhân dân thể hiện được truyền thống
văn hóa đoàn kết, tương thân tương ái, hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống và sản
xuất. Bên cạnh nền văn hóa bản địalà sự tiếp nhận các nét văn hóa của vùng
miền từ nhiều miền quê trên đất nước tụ về đây góp phần làm phong phú thêm
truyền thống văn hóa.
nhau vừa là điển giao lưu văn hóa, vừa là nơi trao đổi hàng hóa thương nghiệp
đô thị hòa trện với làng quê.
Xã Hương Sơn là nơi du lịch thu hút đông đảo khách thăm quanh đến
chiêm bái. Nhân dân Yến Vĩ, Đục Khê, Phú Yên thêm nguồn du khách lớn từ
kinh tế dịch vụ thương mại. Đối với Hương Sơn kinh tế là hình thái bổ sung cho
nhau vì là vùng vùa có lâm sản, vùa có lâm phẩm trao đổi bổ sung cho nhau tạo
ra địa phương định hình và thỏa mãn những sản vật tự nhiên.
1.2 Tình hình kinh tế - xã hội
Địa thế Hương Sơn hiểm trở thuận lợi cho người giàu ý chí đến đứng
chân, gây dựng phong trào.
Một dân tộc phả tại địa phương cho biết họ là những người từ nơi khác do
không chịu được sự bất công, nghịch cảnh hay tránh lại sự suy lùng của chính
quyền đương thời chuyển đến đây nuôi ý chí lập nghiệp. Ngày nay nhân dân còn
lưu truyền thuyết một thời oanh liệt của cha ông với niềm tự hào phấn khích.
Về kinh tế: Nhân dân chủ yếu sống chủ yếu bằng nghề canh nông và
nghề rừng. người dân nơi đây biết trồng lúa nước, cây lương thực, hoa màu, cây
ăn quả. Nhưng mỗi năm chỉ cấy được một vụ lúa chiêm bấp bênh bởi thiên tai,
lụt lội gây mất mùa thường xuyên. Bao quanh bởi núi đá vôi và sông Đáy,
Hương Sơn trở thành vùng địa thế biệt lập với các vùng xung quanh do vậy nơi
đây có đời sống kinh tế nông nghiệp tự cung, tự cấp chia cắt bên ngoài.
Nhân dân vừa khai phá đất đai, vừa chú trọng đắp đê, ngăn đập, đào kênh
mương dẫn thủy ngập điền đến nay hệ thống thủy lợi đáp ứng yêu cầu kinh tế và
dân sinh. Sau khi thực hiện thắng lợi ngăn lũ trên sông Đáy cùng với hệ thống
thủy lợi ở địa phương, nhân dân Hương Sơn điều kiện mở rộng diện tích phát
10
triển kinh tế - xã hội, diện tích canh tác tăng lên hai vụ ăn chắc, mở hướng cho
cuộc cách mạng xanh đạt kết quả.
Nhiệm sản xuất nguồn nhân lực dồi dào, truyền thống khéo léo, cần cù,
giàu kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp. Là vùng đất nằm xen ven đồng bằng
cư lập nghiệp, tiềm năng kinh tế khá phong phú dồi dào, song những năm tháng
trước cách mạng tháng 8 năm 1945 cuộc sống của nhân dân vô cùng lam lũ, chật
vật chống chọi với thiên nhiên.
Sau cách mạng tháng 8 thành công hân dân àm chủ cuộc sống, làm chủ
làng xóm đát đai đặc biệt từ năm 1965 con sông đào Mỹ Hà ở phía bắc xã được
đầu tư xây dựng và hoàn thành dòng chảy ven núi Giáp Bạc ra dòng sông Đáy ở
đầu làng Hội Xá, cuộc sống của nhân dân từng bước được cải thiện.
Hoàn cảnh địa lí tao cho hương Sơn một vùng kinh tế biệt lập, giao thông
cách trở. Mọi sản vật chỉ tự cung tự cấp, trao đổi ở địa phương mở rộng sự giao
tiếp. Trong không gian đó, mảnh đất này còn ngưng đọng nhiều dấu vết tập quán
cổ bên cạnh những yếu tố hư phong, lạc hậu là những yếu tố thuần phong mĩ tục
như: tục trọng lão, mua may bán may, việc đắp đê khuyến nông và những lệ
làng khác trực tiếp tác động đến các thành viên trong ứng xử hàng ngày.
Cùng với quá trình trị thủy, phát triển kinh tế cư dân Hương Sơn tăng
nhanh, xóm làng mở rộng lan tỏa ra làng xã. Hương Sơn trở thành làng có số
dân đông nhất trong các làng xã thuộc huyện Mĩ Đức. Dân số Hương Sơn tăng
nhanh năm 1960 có 9705 người, năm 1979 tăng lên 11415 người, đến tháng
4/1989 Hương Sơn có 3092 hộ với 13762 người nữ là 7233 người. Trong đó, có
trên 6000 lao động chính.
Với địa lý thuận lợi và giàu tiềm năng tự nhiên, nhân văn đến nay, Hương
Sơn trở thành một trong những xã được xác định là vùng trọng điểm phát triển
kinh tế- xãhội của huyện Mĩ Đức. Nơi đây đã hình thành một vùng đất trù phú,
dân cư đông đúc, kinh tế dịch vụ thương mại phát triển.
1.3. Truyền thống cách mạng
Sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời( 3/2/1930) là bước ngoặt lịch sử
của cách mạng Việt Nam. Đường lối cách mạng thể hiện đúng nhu cầu cấp thiết
của toàn thể dân tộc, hai nhiệm vụ chiến lược được vạch ra đó là đánh đổ đế
12
quốc Pháp giành độc lập hoàn toàn và xóa bỏ chế độ phong kiến đem lại ruộng
Những hi sinh mất mát đó rong sự nghiệp kháng chiến đã tô thắm cho truyền
thống quê hương làm rạng rỡ truyền thống cách mạng.
Người ở nhà vừa chiến đấu vùa chống địch càn quét đánh phá Hương Sơn
trở thành vùng ác liệt, nhân và dân Hương Sơn góp phần đánh tan 2 cứ điểm bốt
Đục Khê và Yến Vĩ cứ điểm vào loại lớn nhất của Bắc Bộ. Cảnh bao trùm toàn
xã Hương Sơn là bom đạn phá hoai trơ trọi thiêu trụi 955 ngôi nhà bị phá hủy.
Vừa đánh địch vừa tích cực sản xuất, một nắng hai sương, chắt chiu, tần tảo,
gom góp thóc gạo đạt 25670kg lương thực trong phong trào “ hũ gạo kháng
chiến”, hơn 4 tấn thực phẩm gửi ra tiền tuyến, xã huy động hàng trăm lượt
thuyền, đò chở hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ đi chiến đấu, xây dựng 16 trạm gác
tiền tiêu bảo vệ quê hương, đào đắp 8500m giao thông liên xã, 4800 công sự,
200 hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, xây dựng chòng tre chặn đường tiến công của
địch nhảy dù.
Lực lượng vũ trang địa phương đã có lần giáp mặt với quân thù trên các
rận địa lớn nhỏ khác nhau, tiêu diệt và làm thương 44 địch, phá hủy một xe và
thu nhiều quân trang, quân dụng, vũ khí của địch.
Trải qua chín năm kháng chiến chống Pháp xâm lược, truyền thống địa
phương được bồi đắp thêm.đó là sức mạnh đoàn kết làm cơ sở vững chắc cho
phong trào phát triển, nhân dân có niềm tin vào đường lối kháng chiến của
Đảng, mỗi người vươn lên, ý thức về nhiệm vụ đánh giặc cứu nước. nhân dân
Hương Sơn đã được bổ sung, nâng cao truyền thống yêu nuwocschoongs ngoại
xâm để nâng cao nên sức mạnh trong cuộc kháng chiến toàn dân toàn diện.
Rừng núi Hương Sơn đã trở thành “địa lợi” để bảo vệ cho quân đánh giặc. chi
bộ xã luôn quán triệt củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng
và chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bên cạnh những thành tích lớn lao trong hoạt động lãnh đạo cũng có lúc
yếu kém do phong trào kháng chiến không đều trên các mặt trận kinh tế,
chính trị, quân sự, văn hóa, thiếu sự huy động lực lượng trong thế trận chiến
tranh nhân dân. Phía trước đang chờ đợi, mỗi người dân Hương Sơn lại kết
15
CHƢƠNG 2: LỄ HỘI CHÙA HƢƠNG Ở XÃ HƢƠNG SƠN, HUYỆN MỸ
ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Khái quát chung về di tích chùa Hƣơng
Chùa Hương thuộc xã Hương Sơn, huyện Mĩ Đức, Thành phố Hà Nội,
ngày mùng 6 tháng giêng hàng năm là ngày khai hội, phật tử cùng các tao nhân
mặc khách thập phương nô nức trẩy hội chùa Hương, hành trình về một miền
đất Phật. Nơi trác tích Bồ Tác Quan Thế Âm ứng thiên tu hành, hoạc thả hồn
mình bay bổng với thiên nhiên, một vùng miền còn in dấu tích phật và văn hóa
tâm linh.
Cách trung tâm thủ đô Hà Nội 62km về phía tây nam, thuộc địa bàn xã
Hương Sơn, Huyện Mỹ Đức thành phố Hà Nội. xã Hương Sơn được biết đến với
địa danh nổi tiếng vầ di tích lịch sử, văn hóa và thắng cảnh.
Từ Hà Nội về Hà Đông tới Ba La đi theo quốc lộ 21b tới thị trấn Tế Tiêu
rẽ trái đi khoảng 12 km thì tới địa phận chùa Hương - đi từ phía nam ra thì tới
thành phố Phủ Lí thuộc địa phận tỉnh Hà Nam, qua cầu Hồng Phú rồi rẽ tay phải
qua thị trấn Quế đi tới chợ Dầu rẽ trái đi khoảng 4km thì tới địa phân chùa
Hương.
Không giống bất kì nơi nào chùa Hương là một tập hợp nhiều đền chùa
hang động gắn liền với núi rừng và trở thành một quần thể thắng cảnh rộng lớn,
với một kiến trúc hài hòa với thiên nhiên nhân tạo, tạo hóa đã khéo tây bày đặt
nơi đây núi non sông nước hiền hòa và con người đã thổi hồn mình vào những
điều kì diệu đó, nó trở nên linh động và nhiều mầu sắc, chính đó đã tạo nên một
nét văn hóa dân tộc.
Quần thể chùa Hương có nhiều công trình kiến trúc rải rác trong thung
lũng suối Yến. Khu vực chính là chùa Ngoài, còn gọi là chùa Trò, tên chữ là
chùa Thiên Trù (tọa độ: 20°37′5″B 105°44′49″Đ). Chùa nằm không xa bến Trò
nơi khách hành hương đi ngược suối Yến từ bến Đục vào chùa thì xuống đò ở
nền văn hóa Hòa Bình, cách đây trên vạn năm người nguyên thủy đã ở. Thêm
nữa, trên cách đồng Thương - Nhân – Thượng – Hội – Xá., khách sễ thấy một
ngôi mộ thi sĩ Tản Đà nhìn về núi hang Chiêng, gợi nhớ một hồn thơ Việt Nam
đầu thế kỉ này.
17
Ngày nay trong mỗi dịp xuân về có hàng vạn khách thập phương về đây
trẩy hội. người chưa đi thì mông mỏi sẽ đi, người đi rồi vẫn tiêp tục muốn đi nữa
vì say mê “ Hương thời sắc cảnh, cảnh Bụt bầu tiên”. Thật không phải ngẫu
nhiên mà thi nhân đã viết về chùa Hương:
“ Hương Tích ơi tôi sẽ còn đến nữa,
Như hoa mơ lại đến với mùa mơ ”
( Yến Lan)
“ Bầu trời,cảnh Bụt
Thú Hương sơn ao ước bấy lâu nay!
Kì non non, nước nước, mây mây
Đệ nhất động hỏi đây có phải ?
Thỏ thẻ rừng mai chim cống trái
Lơ lửng khe Yến cá nghe kinh
Thoảng bên tai một tiếng chày kình.
Khách tang hải giật mình trong giấc mộng !
Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng,
Này Am Phật tích, này động Tuyết Kình
Nhác trông lên, ai khéo vẽ hình
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt
Thăm thẳm một hang lồng bong nguyệt
Gập ghềnh mây lối uốn thang mây
Chừng giang sơn còn đợi ai đây
Hay tạo hóa rat ay xếp đặt
Lần hạt tràng, niệm: Nam –vô Phật
Động Hƣơng Tích
Động núi Hương Tích, núi khe đều chứa khí thiêng, chim đến dâng vẻ
đẹp, bầu trời tại hóa đầy quả là cảnh kí quan trong vũ trụ.
Tương truyền, Phật Tổ Quan Âm từ nước Mâu Trang sang nước Nam tu
trì, nơi đó đến nay vẫn còn nguyên như mới. chuyện cũ mờ mịt khó bề khảo cứu,
song cảnh trời động kì thú, sông núi vẫn còn khiến du khách quan tâm thầm đều
xúc động như tới kì viên, nâng nâng có cảm giác như thoát khỏi chốn bụi trần.
Như vậy lời đánh giá nơi đây là chốn bậc nhất của trời Nam.
Tổ tiên của Nguyễn Huy Nhật này là Đại Vương Bồ Tát Thiền sư, nối đời
sùng tín đạo phật, trước đây đã đức một pho tượng đồng, dâng vào để đặt trong
động, ánh thiên đã chứng giám lòng thành đã bao năm.
Năm Bính Ngọ 1786 gặt trận binh đao, đồ đồng trong nhà đều bị mất sạch
nư vì nhớ tới bạc tu hành thời trước thầm nguyện sẽ tạo lại phép trướngđể nối trí
20
người xưa. Mười bốn năm trước là năm Quý Sửu 1793 Nguyễn Huy Nật may
mắn về làm quan ở vùng Thang Long bèn quyên tiền mua đá, thuê thợ đục trạm
khắc thành tượng báu đức Phật Tổ, rồi rước vào động dâng lên tòa.
Suối Yến
Suối Yến dài gần 4km bắt nguồn từ một hang nước ở cánh Đồng Lỗ rừng
Vài, chảy quanh co uốn lượn qua một vùng đồng lầy, qua làng Yến Vĩ, qua thôn
Hội Xá, qua làng Đục Khê rồi chảy ra sông Đáy. Đoạn chảy qua cách đồng lầy
hai bên trùng điệp non non xanh muôn vàn kì bí của tạo hóa. Người xưa đã dặt
tên theo hình dáng nghiêng của chúng: bên phải suối Yến là núi con rồng.
Ngược lên đôi chút là núi Dẹo hình dáng nghiêng ngả về một bên ngư tên
say rượu, rồi núi canh phượng, đối diện là núi Ly trên núi có tượng đài chiến
thắng ca ngợi nhân dân Hương Sơn anh hung trong hai cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.
Đền Trình
chùa và ban tên chùa là Trung Tiết tự.