BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC LƢƠNG MỸ HẠNH CON ĐƢỜNG TƠ LỤA VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
CHÍNH TRỊ, KINH TẾ VÀ VĂN HÓA - XÃ HỘI
THỜI ĐƯỜNG (618 - 907) Ở TRUNG QUỐC KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
LƢƠNG MỸ HẠNH CON ĐƢỜNG TƠ LỤA VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI
CHÍNH TRỊ, KINH TẾ VÀ VĂN HÓA - XÃ HỘI
Tác giả:
Lƣơng Mỹ Hạnh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3.3. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Phương pháp nghiên cứu 3
5. Đóng góp của khóa luận 4
6. Bố cục của khóa luận 4
CHƢƠNG 1: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CON ĐƢỜNG
TƠ LỤA 5
sớm nhất trên thế giới. Có lẽ vì vậy, tơ lụa thời đó chỉ dành riêng cho vua chúa
và quý tộc, chỉ có giới thượng lưu mới có đủ điều kiện sử dụng mặt hàng xa xỉ,
hiếm hoi này. Trải qua quá trình phát triển lâu dài, do nhu cầu của con người tơ
lụa mới được đưa đi các vùng, các nơi trên thế giới. Đến thời nhà Đường, với
kinh đô Trường An được các nhà sử học coi là đỉnh cao trong văn minh Trung
Hoa, vai trò quan trọng của con đường tơ lụa càng thể hiện rõ nét. Cùng với sản
phẩm chính là tơ lụa, gốm sứ cũng được đưa tới những miền đất mới sang Tây
Á, vượt qua vạn dặm xa xôi đến với nền văn minh phương Tây.
Qua những chặng đường lịch sử, con đường tơ lụa không đơn giản chỉ là huyết
mạch thông thương, nó còn là hành trình giao lưu văn hóa, tôn giáo đa dạng giữa các
quốc gia, khu vực trên thế giới. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, xung quanh đề tài
“Con đường tơ lụa” có rất nhiều câu hỏi được đặt ra. Con đường tơ lụa là gì? Nó có
từ bao giờ? Vai trò của nó trong lịch sử thương mại quốc tế ra sao? Đặc biệt với nền
kinh tế xã hội thời Đường như thế nào? Vậy nên, việc tìm hiểu con đường này là
một vấn đề vô cùng hấp dẫn, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà văn hóa,
lịch sử và những học giả khắp nơi trên thế giới. Xuất phát từ những lí do trên, tôi
mạnh dạn chọn đề tài: “Con đường tơ lụa và vai trò của nó đối với chính trị, kinh tế
và văn hóa - xã hội thời Đường (618 - 907) ở Trung Quốc” để làm đề tài nghiên
2
cứu của mình, đồng thời nhằm tái hiện một cách cụ thể, tương đối đầy đủ,
chính xác và hệ thống về những ảnh hưởng của con đường tơ lụa tới lịch sử
phát triển của thế giới nói chung và Trung Quốc nói riêng. Đề tài hoàn thành
còn góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu tham khảo phục vụ cho học
tập và giảng dạy ở trường trung học phổ thông và chuyên nghiệp. Vì vậy đề
tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về con đường tơ lụa
huyền thoại. Nhà địa lí học người Đức Phécđinăng Vôn Richtophen (1833-1904)
chính là người đã khai sinh ra khái niệm “Con đường tơ lụa”. Vào giữa thế kỉ
nó trong nền kinh tế xã hội thời Đường ở Trung Quốc tuy đã được đề cập nhưng
chưa sâu và đầy đủ. Trên cơ sở tiếp thu và chọn lọc các bài viết của các tác giả,
tôi quyết định tiếp tục phát triển đề tài một cách khái quát và hệ thống.
3. Đối tƣợng, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là Con đường tơ lụa
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài nhằm giải quyết các vấn đề sau đây:
- Quá trình con đường tơ lụa hình thành và phát triển.
- Đánh giá vai trò và ý nghĩa của con đường tơ lụa với chính trị, kinh tế và
văn hóa - xã hội thời nhà Đường (618-907) ở Trung Quốc.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu sự hình thành và phát triển con đường
tơ lụa trên không gian rộng lớn từ Đông sang Tây, từ đất liền ra biển đảo. Ưu
tiên nghiên cứu quãng đường xuất phát từ Trung Quốc tới các nước xung quanh.
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu con đường tơ lụa thời kì cổ - trung đại
và tập trung nghiên cứu con đường tơ lụa trong thời nhà Đường (618-907) ở
Trung Quốc.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng hai phương pháp cơ
bản là phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic. Ngoài ra, tôi còn sử dụng
phương pháp so sánh, thu thập thông tin lí thuyết,…thông qua các tài liệu có
4
sẵn, sách báo, tạp chí, báo cáo, website và các nguồn thông tin đáng tin cậy có
liên quan đến khóa luận.
5. Đóng góp của khóa luận
Khóa luận hoàn thành sẽ có ý nghĩa quan trọng sau đây:
- Tổng quan được những chặng đường lịch sử của con đường tơ lụa cũng
như đánh giá vai trò của nó tới nền kinh tế xã hội trong thời nhà Đường (618-
1.1.1. Sự hình thành và phát triển của con đƣờng tơ lụa trên bộ.
*Sự hình thành của con đƣờng tơ lụa.
Bước qua thời kì xã hội nguyên thủy, lịch sử phát triển thế giới đã có một
bước ngoặt vĩ đại, đánh dấu bằng sự ra đời của những nền văn minh đầu tiên.
Ở phương Đông (châu Á và châu Phi) xuất hiện bốn trung tâm văn minh
lớn là Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ và Trung Quốc. Mặc dù ra đời ở những vùng
lãnh thổ khác nhau nhưng các nền văn minh này đều có một đặc điểm chung là
hình thành trên lưu vực các con sông lớn mang đặc trưng kinh tế nông nghiệp
thủy nông. Nhờ những điều kiện tự nhiên thuận lợi, văn minh phương Đông đã
sớm hình thành và đạt được những thành tựu vô cùng rực rỡ. Từ sự phát triển
của nền kinh tế nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng có điều kiện phát triển theo.
Trung Quốc theo dọc chiều dài lịch sử là một nước lớn ở Đông Bắc Á.
Trên lãnh thổ Trung Quốc có hai con sông lớn chảy qua là Hoàng Hà (dài 5464
km) ở phía Bắc và Trường Giang (dài 6300 km) ở phía Nam. Hai con sông này
đã tạo nên những đồng bằng phù sa màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho nông
nghiệp phát triển khi công cụ lao động còn tương đối thô sơ. Chính vì vậy, nơi
đây đã trở thành một trong những chiếc nôi của nền văn minh nhân loại. Trường
An, Lạc Dương là những trung tâm kinh tế - chính trị lớn, trở thành nơi giao lưu
kinh tế - văn hóa phồn thịnh bậc nhất Trung Hoa thời bấy giờ. Tuy nhiên, đặc
điểm của giao lưu buôn bán lúc này chỉ bó hẹp trong nội bộ trường thành hoặc
giữa những trường thành trong nước mà thôi.
Trung Quốc và các nước lân bang có mong muốn thiết lập quan hệ ngoại
giao, hòa hợp dân tộc trong điều kiện đất nước đã ổn định. Nên những chuyến đi
xứ của quan lại triều đình do vua chúa Trung Hoa cử đi các nước cũng như
những chuyến viếng thăm Trung Hoa của các nước lân cận ngày càng trở nên
phổ biến. Thông qua những chuyến ngoại giao, xứ giả các nước mang theo quốc
6
thư và nhiều vật phẩm là những đặc sản của nước mình để cống nạp, dâng tặng
cho vua chúa Trung Quốc. Ngược lại các xứ giả Trung Quốc khi đi xứ cũng
Nó đã ăn sâu vào suy nghĩ của nhiều người là hình ảnh những đàn súc vật chất
đầy hương liệu, hàng hóa, vàng bạc nhẫn nại hướng tới những miền đất lạ.
Trong số những mặt hàng chất trên lưng đàn gia súc ấy, tiêu biểu nhất là tơ lụa.
Vì vậy, Richtôphen đã đặt tên cho con đường này là con đường tơ lụa.
Con đường tơ lụa là con đường huyền thoại nối liền Trung Hoa rộng lớn
với Tây Á kỳ bí. Con đường tơ lụa gắn liền với hàng nghìn câu chuyện truyền
thuyết xa xưa, không đơn thuần chỉ là huyết mạch thông thương buôn bán, nó
còn là hành trình văn hóa tôn giáo đa dạng, hấp dẫn. Vào thời cổ đại, khi công
cụ, phương tiện chưa phát triển người xưa đã khai phá ra con đường tơ lụa dài
dằng dặc mà lộ trình trải qua vạn dặm sa mạc mênh mông, thảo nguyên rộng
lớn, núi cao hiểm trở hoàn toàn do người dắt lạc đà hoặc cưỡi ngựa đi lại họ
quả là những anh hùng đáng để người đời sau khâm phục. Đến đây, một câu
hỏi lớn được đặt ra, “Ai là người khai thông tìm ra con đường tơ lụa đầu tiên
trong lịch sử loài người?”
Trương Khiên là câu trả lời thực sự xác đáng. Ông chính là người đặt
những viên gạch đầu tiên xây nên nền móng của con đường tơ lụa huyền thoại.
Trương Khiên là người thành Thiểm Tây, thủa thiếu thời của ông lịch sử
không ghi chép nhiều. Trương Khiên thích đọc sách Nho giáo, là người văn
võ song toàn. Tên tuổi chàng trai ngày càng nhiều người biết tới. Đến thời
Hán Vũ Đế (khoảng năm 140 TCN) ông giữ chức quan lang, thân thể tráng
kiện, cá tính cứng cỏi, trung thực đáng tin, rộng rãi khoáng đạt và giàu suy
nghĩ. Nhờ vào tài năng và bản lĩnh của mình, Trương Khiên được vua giao
sứ mệnh đi thiết lập quan hệ ngoại giao với các quốc gia Tây Vực. Vào
chính thời điểm đó, Hán Vũ Đế đang ra kế sách đối phó với Hung Nô. Từ
một lời khai của tù binh Hung Nô, nhà Hán đã biết được ở Tây Vực có một
quốc gia tên Đại Nguyệt Thị đang là kẻ thù với Hung Nô. Hán Vũ Đế rất
thích thú khi biết tin này nên đã chủ động liên kết với Nguyệt Thị chống lại
Hung Nô, chắc chắn sẽ giành phần thắng. Trương Khiên là người dũng cảm,
tình nguyện đi sứ Tây Vực không quản đường xa, điều kiện khó khăn thực
hiện sứ mệnh lịch sử giao phó.
đi nhiều nơi gặp những vị pháp sư tài giỏi để tầm sư học đạo. Lúc này, Phật
giáo đang rất thịnh hành ở Trung Quốc nhưng lại phát triển theo nhiều tông
9
phái điều này đã làm cho người tu học phải luống cuống. Đúng lúc ấy, Huyền
Trang xuất hiện. Ông vốn là người ham học, ham hiểu biết và mong ước tìm về
nguyên bản phật pháp. Cho nên cũng từ đây Huyền Trang đã nuôi ước nguyện
tới Tây Phương cầu phật pháp và thỉnh chân kinh. Ước nguyện đó của Huyền
Trang ngày càng được nung nấu khi nghe các vị cao tăng uy tín nói có con
đường tơ lụa để đến Ấn Độ tu học. Huyền Trang chuẩn bị mọi thứ lên đường
mặc dù không được nhà Đường chấp nhận nhưng Huyền Trang vẫn lặng lẽ
chuẩn bị tư trang và rời khỏi Trường An. Huyền Trang bắt đầu cuộc hành trình
của mình khi đặt chân đến Lương Châu, Tấn Châu và ở lại đây hơn một tháng
giảng kinh cho các phật tử. Với tài năng thuyết phục của mình Huyền Trang đã
chiếm được nhiều tình cảm của cả các phật tử ngoại quốc cũng khâm phục và
ca tụng ông. Ông được nhiều phật tử thành tâm dâng vàng, bạc và nhiều sản vật
quý hiếm.
Lộ trình thỉnh chân kinh của Huyền Trang trải qua nhiều gian nan vất vả.
Nhà Đường bấy giờ vì những lý do xác đáng để bảo vệ anh ninh quốc gia nên
kiểm soát ra vào Tây Vực nghiêm ngặt. Để làm được điều này, nhà Đường cho
xây dựng hệ thống phong hỏa đài, mỗi phong hoả đài cách nhau một trăm dặm
là điểm tiếp tế nước ngọt duy nhất trên sa mạc, giúp bảo vệ biên cương, Huyền
Trang vượt qua hệ thống phong hỏa đài quả thực rất khó khăn mất nhiều thời
gian có lúc nguy hiểm tới cả tính mạng của mình. Với lòng kiên định quyết tâm
hướng tới chân lý có thời điểm ông một mình vượt qua sa mạc cũng không nản
lòng. Rồi cuối cùng Huyền Trang đã đến được các quốc gia Tây Vực, Huyền
Trang qua Y Ngô đến Cao Xương, Yên Xá, Quy Tư - những quốc gia sùng bái
Phật giáo.
Chính nhờ vậy, Huyền Trang được coi trọng, đi đến đâu cũng được giảng
kinh Niết Bàn và Bát Nhã phổ độ chúng sinh. Huyền Trang đến với Phạn ngữ
Sau một thời gian phát triển cường thịnh, đến thời Trung Đường con đường
tơ lụa trên bộ đã bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu của sự suy thoái, hạn chế
ngày càng nhiều và không thể khắc phục.
Trước hết, con đường tơ lụa chỉ đi qua một số quốc gia nhất định. Nói cách
khác là nó phụ thuộc vào các quốc gia mà nó đi qua rất nhiều. Nếu một trong
11
những quốc gia, dân tộc mà nó đi qua xảy ra loạn lạc sẽ dẫn tới ngừng trệ hệ
thống giao thương. Trên thực tế, ở Trung và Tây Á là nơi con đường tơ lụa đi
qua dài nhất thường xuyên xảy ra biến loạn chiến tranh nên dẫn đến hạn chế
của con đường tơ lụa trên bộ. Những nước có con đường tơ lụa đi qua thường
khống chế các thương đoàn bằng cách đánh thuế nặng vào các mặt hàng. Đây
là một trong những nguyên nhân thúc đẩy tìm kiếm con đường tơ lụa khác.
Một lí do khác nữa là con đường tơ lụa nằm ở phía tây Trung Quốc cách xa
nội địa trong khi hàng hóa chủ yếu xuất phát từ phía đông. Việc vận chuyển
chính vì vậy mà trở nên bất tiện, hiệu quả kinh tế không cao, hàng hóa trở nên
đắt đỏ. Trong khi đó lộ trình con đường tơ lụa phải trải qua rất nhiều nguy hiểm
mà phương tiện vận chuyển lại chỉ có lạc đà với khối lượng hàng không nhiều
làm mất thời gian nên khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng thì chi phí, giá
thành cao là điều dễ hiểu.
Vì lí do trên mà ngành kinh tế thương nghiệp trung gian không phát triển
tương xứng trong khi nhu cầu tiêu thụ sản phẩm ngày càng cao, sản xuất ngày
càng phát triển.
Nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái của con đường tơ lụa trên bộ chính là
dấu gạch nối, chuyển tiếp đưa đến sự ra đời của con đường tơ lụa trên biển. Sự
khủng hoảng của nền chính trị Trung Quốc từ thế kỉ VIII, thậm chí là trước đó
nữa đã trở thành chướng ngại vật làm gián đoạn không nhỏ con đường tơ lụa
trên bộ.
Sự chuyển hướng từ đường bộ sang đường biển không phải diễn ra một
sớm một chiều mà nó là cả quá trình lâu dài. Cuối và sau nhà Đường, con
Châu (Phúc Kiến), Quảng Châu (Quảng Đông), Tô Châu (Giang Tô),… Những
thành thị này chính là nơi tập kết hàng hóa phục vụ cho trao đổi, chuyên chở
giữa các thương lái, người dân. Đồng thời các thành thị này còn bị nhà nước
quản lí chặt chẽ nên đôi khi vai trò của nó bị hạn chế và chưa được phát huy hết
tác dụng.
Tuy rằng con đường tơ lụa trên bộ xuất hiện từ khoảng thế kỉ II - III TCN
nhưng thực chất, con đường tơ lụa trên biển có lịch sử lâu đời hơn. Thời nhà
Hán, các hoạt động hàng hải đầu tiên đã xuất hiện. Con đường tơ lụa trên biển
thời Hán là tuyến đường thương mại biển sớm nhất của Trung Quốc. Đến thời
13
Tây Hán, Trung Quốc đã hoàn toàn thống nhất về mặt chính trị, nền kinh tế
vững mạnh, đó là tiền đề quan trọng cho việc giao lưu phát triển kinh tế - văn
hóa với các nước. Cùng với sự hình thành của con đường tơ lụa qua Tây Vực,
nhà Hán nỗ lực khai thông tuyến đường biển nhằm mở rộng tầm ảnh hưởng của
vương triều Hán ra bên ngoài. Vậy nên tơ lụa Trung Quốc đã được vận chuyển
ra nước ngoài bằng đường biển từ thời nhà Hán, song đó mới chỉ là hoạt động
“tư doanh”, mang tính chất dân gian, triều đình chưa chỉ đạo trực tiếp và kiểm
soát gắt gao. Do đó hàng tơ lụa tuyệt đẹp của Trung Quốc ngày càng trở nên
hấp dẫn đối với nước ngoài. Các nước từ khu vực Đông Nam Á, Nam Á cho
đến Tây Á, châu Âu lần lượt phái sứ đoàn vượt biển đến bang giao với Trung
Quốc. Thực tế con đường tơ lụa trên biển thời Hán phát triển thành “Con
đường sứ giả”, “Con đường hữu nghị”.
Cho đến cuối thế kỉ VIII, con đường tơ lụa trên biển có những đột phá mới
trở thành ưu thế của con đường này: Thứ nhất, với những lợi thế về đường bờ
biển thành thị ven biển, hàng hóa đa dạng, thương thuyền lớn nhỏ,…Thứ hai,
ngay từ thời cổ đại, các hoạt động giao thương ở các cảng biển và thành thị
Trung Quốc diễn ra để lại hệ quả là nhiều thương nhân Ba Tư, Ả Rập di chuyển
đến làm ăn, sinh sống ở vùng duyên hải phía Đông này. Hơn nữa, Hoa Kiều
cũng di dân đến sinh sống và làm ăn ở nước ngoài ngày càng nhiều, đông nhất
ông trong “Phật quốc kí” (còn gọi là Pháp Hiển truyện) đã miêu tả chi tiết tuyến
hàng hải từ XriLanca qua Giava và cuối cùng là qua vùng Sơn Đông (Trung
Quốc). “Đây là chuyến đi mang tính lịch sử” vì đã khai thông con đường giao
thông biển từ biển Đông đến Ấn Độ Dương qua các eo biển ở khu vực Đông Nam
Á hải đảo. Do đó cột mốc đánh dấu sự hình thành con đường tơ lụa trên biển là
sau chuyến trở về bằng đường biển của nhà sư Pháp Hiển” [3;125].
Hơn nửa đời người, nhà sư Pháp Hiển đã sống cùng với đạo Phật, tu thân ở
thành Trường An, nơi Phật giáo phát triển mạnh mẽ. Năm 65 tuổi, ông quyết
định đến Ấn Độ - quê hương Phật giáo với mục đích tu học và cầu chân kinh.
Thực tế khi đó cho thấy, các Phật tử ở Trung Quốc cần có những bộ kinh có
tính chất giáo lí sâu sắc để tu hành, song trong “Tam Tạng Kinh” cơ bản của
Phật giáo Luật Tạng còn thiếu nhiều. Do đó ông quyết tâm sang Ấn Độ để điền
khuyết phần còn lại của Luật Tạng ấy.
15
Theo dấu chân của thương nhân các nước trên con đường tơ lụa, nhà sư
Pháp Hiển đã tìm đường đến Ấn Độ. Đây là một chuyến đi nhiều khó khăn, thử
thách, nguy hiểm. Ông cùng với những nhà sư khác đã đi qua sa mạc, núi cao,
hẻm vực, những nơi đi qua đều khắc nghiệt về khí hậu và rất ít bóng người.
Bằng sự nỗ lực thì cuối cùng ông và những người đồng hành đã tới được nơi
cần tới. Ở Ấn Độ, tại đây ông tu học hơn 10 năm, kết hợp việc sưu tập các kinh
điển về Luật tạng. Sau đó ông tới Tích Lan XriLanca và quyết định trở về quê
hương theo dấu chân của các thương nhân những không phải trên bộ mà là
bằng đường biển. Khoảng thời gian lênh đênh trên biển với các tàu buôn, cũng
là khoảng thời gian khá dài đối với nhà sư Pháp Hiển. Phải đối mặt với bão
biển, sóng gió, con đường biển mà ông lựa chọn cũng không hề dễ dàng so với
con đường bộ mà em đã đi qua. Từ Ấn Độ, ông xuôi xuống phía Nam tới
XriLanca rồi từ đó đi chếch hướng Đông Nam, vòng qua eo biển thuộc khu vực
Inđônêxia ngày nay. Quãng đường thứ ba được tiếp tục từ eo biển đó nhằm
thẳng hướng Đông Bắc và kết thúc ở Sơn Đông (Trung Quốc) vào năm 415.
trong lịch sử phong kiến Trung Quốc). Nhờ những đóng góp và có công phù tá
nên Trịnh Hòa (Mã Hòa) được đề bạt làm thái giám, được ban họ Trịnh và
được gọi là Tam Bảo thái giám. Trịnh Hòa là người thân cận nhất mà Minh
Thành Tổ tin tưởng giao phó trọng trách lớn sau này.
Từ năm 1405-1433, Trịnh Hòa vâng lệnh triều đình nhà Minh bảy lần xuất
dương với hải đoàn hùng hậu gồm 200 bảo thuyền lớn nhỏ, 27000 người, đi từ
Đông sang Tây, từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương, đi qua hơn 30 quốc
gia trên suốt hải trình. “Chuyến đi lịch sử này của Trịnh Hòa đã đưa lịch sử
hàng hải Trung Quốc sang một trang mới, đồng thời thúc đẩy con đường biển
phát triển đến cực thịnh” [3;175]. Nhưng để tiến hành những chuyến đi dài
ngày với lực lượng lớn như vậy thì cần có điều kiện khách quan thuận lợi, yêu
cầu tiên quyết là phải có tiềm lực về kinh tế. Sau khi Minh Thái Tổ (Chu
Nguyên Chương) thống nhất đất nước lên ngôi Hoàng đế, ông đã ban hành
những biện pháp khôi phục kinh tế, trong đó lấy phát triển kinh tế nông nghiệp
làm trọng điểm. Nhờ vậy mà xã hội đương thời Trung Quốc no đủ, thái bình và
vươn đến cực thịnh vào thời Minh Thành Tổ trị vì. Hàng hóa dồi dào thì nhu
cầu trao đổi, mậu dịch cũng tăng, phạm vi buôn bán trong nước và ngoài nước
17
mở rộng. Thứ nữa là kĩ thuật hàng hải và bản đồ hàng hải của Trịnh Hòa xuất
hiện những tuyến hàng hải được ghi chép, đánh dấu, tấm hải đồ này đã sử dụng
phép vẽ đồ thị và nhiều kí hiệu khác nhau để thế hiện hình thế bờ biển. Được
biết các chuyến hàng hải của Trịnh Hòa đã bắt đầu sử dụng các kĩ thuật quan
sát thiên văn để xác định phương hướng: “Thiên Tinh bản” (bản đồ các vì sao)
được dùng để đo độ cao các thiên thể. Khi điều kiện kinh tế cho phép, chuyến
đi của Trịnh Hòa được khởi hành và được tính toán hải lộ rõ ràng.
Sau bảy chuyến xuất dương , Trịnh Hòa mang trọng bệnh và vì tuổi cao
nên không lâu sau ông qua đời. Những gì Trịnh Hòa đã làm được, lịch sử hàng
hải Trung Quốc nói riêng và lịch sử hàng hải nhân loại nói chung đều đã công
nhận. Tài năng và công sức của ông được thừa nhận, công lao lớn nhất mà
Con đường tơ lụa trên biển từ khi hình thành và phát triển có những thay
đổi qua các triều đại Trung Quốc.
Qua mỗi triều đại, mỗi chặng đường lịch sử, con đường tơ lụa lại có
bước phát triển vượt bậc. Xuất phát từ nhu cầu trao đổi hàng hóa, phạm vi
hoạt động thương mại của Trung Quốc ngày càng mở rộng, hai tuyến hàng
hải chính đó là:
“ Tuyến hàng hải phía Đông Bắc: các cảng quan trọng là Đăng Châu,
Thái Châu, Dương Châu, Sở Châu, Tô Châu, Minh Châu - hướng đi đến Triều
Tiên và Nhật Bản.
Tuyến hàng hải phía Nam xuất phát từ Tuyền Châu (Phúc Kiến), Quản
Châu đi từ Trung Quốc tới khu vực Đông Nam Á, Nam Á, Tây Nam Á và Đông
Phi” [3;130]. Như vậy, “giai đoạn phát triển” của con đường tơ lụa trên biển là
từ thời nhà Tùy, nhà Đường đến thời nhà Tống, nhà Minh đã “phát triển đỉnh
cao”. Sự phát triển đó hợp với quy luật chung của lịch sử, hợp với tiến trình
phát triển của xã hội loài người.
Trong suốt chiều dài lịch sử hình thành và phát triển, con đường tơ lụa
trên biển đã có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế thế
giới. Không chỉ là huyết mạch giao thông Đông - Tây, con đường này còn là
sợi dây kết nối văn hóa của các quốc gia, khu vực lại với nhau. Đến thế kỉ XVI,
xuất hiện mầm mống tư bản chủ nghĩa ở Trung Quốc; nền kinh tế hàng hóa
phát triển nhưng chính sách “bế quan tỏa cảng” của triều đình phong kiến
19
Trung Quốc đã khống chế sự phát triển này và khiến tuyến đường biển Đông -
Tây không còn hoạt động thông suốt nữa. Dù vậy, con đường tơ lụa trên biển
vẫn là một bộ phận của con đường tơ lụa nổi tiếng thế giới, sự hình thành trong
điều kiện con đường tơ lụa trên bộ đi vào bế tắc, sự suy vong khi các cuộc phát
kiến địa lí của các nhà hàng hải phương Tây xuất hiện là một xu thế lịch sử.
Nhìn nhận một cách tổng quan sẽ thấy rằng, con đường tơ lụa trên biển có
nhiều điểm tích cực và có nhiều đóng góp lớn cho kinh tế, văn hóa thế giới.
Con đường tơ lụa hình thành đã có những đóng to lớn cho sự phát triển
kinh tế, văn hóa - xã hội trên thế giới. Một trong những vai trò quan trọng trước
tiên là vai trò chính trị. Chính trị là lĩnh vực quan trọng song hành với kinh tế -
văn hóa
trong sự tồn tại của một quốc gia hay nói cách khác là để thể hiện vị thế quốc gia
đó, nó là khía cạnh không thể đánh giá thấp.
Trước khi con đường tơ lụa hình thành, vì điều kiện địa lí mà chưa có sự
liên lạc một cách hệ thống giữa các quốc gia với nhau. Sau này, con đường tơ
lụa trở thành con đường liên lạc chủ yếu giữa các quốc gia trên lộ trình mà nó
đi qua. Vậy nên, chế độ chính trị của các quốc gia này đã bị chi phối bởi con
đường tơ lụa. Cụ thể là khi hình thành nền chính trị của nước mình, các quốc
gia trên con đường tơ lụa đều có sự học hỏi lẫn nhau.
Con đường tơ lụa từ khi hình thành đã chi phối mạnh mẽ đến từng quốc gia
mà nó đã đi qua và nền chính trị thế giới sau này.
Đối với Trung Quốc, con đường tơ lụa hình thành đã giúp Trung Quốc đặt
quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia, trước hết là ở khu vực Tây Á, Trung Á,
Đông Nam Á, Đông Á, Nam Á, sau đến Đông Phi và tận Châu Âu. Qua những
chuyến đi sứ của các nhà ngoại giao (Trương Khiên, Trịnh Hòa…), con đường
tơ lụa không chỉ giúp Trung Quốc mở mang những hiểu biết về các nước trong
khu vực và trên thế giới mà còn thiết lập mối quan hệ hữu hảo với các nước.
Nhờ sự giao lưu kinh tế trên con đường tơ lụa mà Trung Quốc đã trở nên hùng
mạnh, dần dần có tham vọng thôn tính các nước xung quanh nhằm mở rộng
lãnh thổ. Nếu như thời cổ đại, lãnh thổ Trung Quốc chỉ giới hạn ở lưu vực sông
Hoàng Hà ở phía Bắc thì giờ đây, khi con đường tơ lụa trên bộ và trên biển
hình thành và phát triển, người Trung Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp để
21
mở rộng hơn nữa đường biên giới xuống phía Nam và sang phía Tây. Đặc biệt
là thôn tính nhiều tiểu quốc ở Tây Vực. Bấy giờ, Trung Quốc đã có hệ thống các
nước chư hầu thuần phục. Hằng năm, các nước chư hầu cử đoàn sứ giả mang