Lạm phát và những biện pháp khắc phục lạm phát - Pdf 23

Lời mở đầu
Trong nền kinh tế thị trờng, lạm phát là một hiện tợng tất yếu và là một trong
những vấn đề kinh tế vĩ mô mà tất cả các quốc gia đều phải quan tâm giải
quyết. Bởi vậy, việc kiểm soát lạm phát nh thế nào là vấn đề hàng đầu trong
cuộc tranh luận về chính sách kinh tế.Vây lạm phát là gì? do đâu có lạm phát?
Tại sao ngời ta lại quan tâm nhiều đến lạm phát, có những giải pháp nào để
kiểm soát nó. Đây chính là những nội dung sẽ đợc trình bày trong tiểu luận
Lạm phát và những biện pháp khắc phục lạm phát.
1
Chơng một
Những vấn đề chung về lạm phát
1.1.Một số khái niệm chung
1.1.1.Khái niệm về lạm phát
Trong lịch sử phát triển kinh tế trên thế giới, lạm phát không chỉ xuất hiện ở
những nớc kém phát triển mà ngay cả những nớc phát triển cũng có lạm phát
Thực tế cho thấy, tăng trởng kinh tế và lạm phát là hai vấn đề nhạy cảm
nhất của mỗi nền kinh tế và đợc đánh giá, công bố hàng quí, thậm chí có nớc
hàng tháng. Vì vậy khi đánh giá trình độ tăng trởng nền kinh tế của quốc gia,
một trong những tiêu chuẩn đầu tiên ngời ta xét đến là tỉ lệ lạm phát nh thế nào?
điều đó nói lên một phần mối quan hệ chặt chẽ giữa lạm phát và tăng trởng.
Nếu tỉ lệ lạm phát đang ở mức thấp hoặc vừa phải điều đó chứng tỏ nền kinh tế
nớc đó có sức mạnh,nhà nớc điều tiết và quản lý kinh tế vĩ mô có hiệu quả đã và
đang tạo cơ hội thuận lợi cho tăng trởng. Vậy chúng ta phải hiểu Lạm phát là
nh thế nào?.Câu hỏi này có rất nhiều cách trả lời. Tuy nhiên ngời ta vẫn thờng
công nhận lạm phát là sự tăng lên của giá trung bình trong một thời kỳ. Sự
tăng lên của giá lại do nhiều nguyên nhân hoặc do yếu tố chủ quan của các
cấp quản lý kinh tế hoặc do những điều kiện chính trị, xã hội, thiên tai...gây ra.
Có thể giải thích về lạm phát theo những cách sau:
1. Theo thuyết tiền tệ: Lạm phát là kết quả của việc tăng quá thừa mức cung
tiền
2. Theo trờng phái Keynes: Lạm phát xảy ra do d cầu về hàng hoá trong nền


Mức giá hiện tại - Mức giá năm trớc
Tỷ lệ lạm phát = -------------------------------------------------- x 100%
Mức giá năm trớc
Cách đo lờng này cho phép so sánh sự biến động mức giá tiêu dùng theo
thời gian nhng không phản ánh đợc sự thay đổi cơ cấu tiêu dùng của các hộ gia
đình. Vì thế trong nhiều trờng hợp ngời ta sử dụng cơ cấu tiêu dùng của năm
3
hiện tại để xác định CPI. Bên cạnh đó CPI tăng không phải lúc nào cũng xuất
phát từ nguyên nhân duy nhất là tiền tệ mà còn do những nguyên nhân nh:
+ Sự khan hiếm hàng hoá, sự ế ẩm...
+ Giá của mặt hàng thiết yếu tăng cao do các tổ chức độc quyền kiểm
soát.
+ Sự thay đổi tỷ giá hối đoái giữa đồng nội tệ - ngoại tệ.
Tuy vậy, CPI đợc coi là chỉ tiêu kinh tế nhạy cảm, phản ánh kịp thời quan
hệ cung cầu tiền tệ của nền kinh tế.
- Chỉ số lạm phát tính theo tổng sản phẩm quốc nội - GDP
- Chỉ số này đo lờng mức giá bình quân của tất cả các hàng hoá và dịch
vụ tạo nên tổng sản phẩm quốc nội. Nó đợc xác định theo công thức:
GDP danh nghĩa
Chỉ số giảm phát GDP = ---------------------- x 100%
GDP thực tế
+ GDP danh nghĩa đo lờng sản lợng theo giá trị tiền tệ năm hiện tại.
+ GDP thực tế đo lờng sản lợng năm hiện tại theo giá năm đợc chọn làm
gốc.
Ta có thể nhận thấy do đợc xác định bởi GDP danh nghĩa - thực tế nên
nó đầy đủ và hoàn thiện hơn CPI vì nó bao gồm tất cả các hàng hoá và dịch vụ.
1.1.3.Các loại lạm phát
Việc nghiên cứu các loại lạm phát giúp ta hình dung rõ những đặc điểm của
từng loại lạm phát cũng nh ảnh hởng tiềm năng của chúng từ đó mà có những

quả nhất. Về cơ bản lạm phát xảy ra do 3 nguyên nhân.
1.2.1. Lạm phát tiền tệ
Loại lạm phát này diễn ra khi tốc độ tăng cung tiền vợt quá tốc độ tăng
thực sự của nền kinh tế. Đơn giản hơn là tiền trong lu thông tăng nhanh hơn số
lợng hàng hoá và dịch vụ đợc sản xuất ra trong nền kinh tế.Ví dụ nh tốc độ tăng
cung tiền là 10% nhng tốc độ tăng trởng thực của nền kinh tế 7% thì lạm phát
tiền tệ là 3%. Loại lạm phát này thờng xảy ra tại các nớc đang phát triển khi các
nớc này theo đuổi cơ chế áp chế tài chính hoặc trong trờng hợp quốc gia đang
theo đuổi chính sách tiền tệ mở rộng, áp chế tài chính là tình trạng ngân hàng
trung ơng tài trợ cho thâm hụt ngân sách chính phủ bằng cách in tiền, quá nhiều
tiền trong lu thông vợt quá tốc độ tăng trởng thực sẽ dẫn đến lạm phát.Chính
sách tiền tệ mở rộng kích thích tổng cầu hàng hoá dịch vụ trong nền kinh tế, khi
tốc độ tăng trởng tổng cầu cao hơn tốc độ tăng trởng tổng cung,thì cũng dẫn đến
lạm phát.
1.2.2. Lạm phát do cầu kéo.
5
Loại lạm phát này xuất phát từ sự thay đổi hành vi tổng cầu mang tính đột
biến trong nền kinh tế. Các nguyên nhân có thể là do chính phủ chi tiêu quá
mức khi thực hiện chính sách thu chi ngân sách mở rộng,hoặc tăng chi tiêu tiêu
dùng quá mức bình thờng do khu vực hộ gia đình quá lạc quan, hoặc do khu vực
hộ gia đình có nguồn thu nhập từ trên rơi xuống nh viện trợ nớc ngoài, thu nhập
do giá cả xuất khẩu tăng đột biến
Bằng cách sử dụng mô hình tổng cung,tổng cầu ta có thể thấy rõ loại lạm phát
trên nh sau:
Tổng mức AS
4
giá cả
p
4
AS

Giả định, ban đầu chúng ta ở điểm 1. Nền kinh tế Y
N
< Y
T
(Y
T
mức chỉ
tiêu sản phẩm). Lúc này nhà hoạch định có một chỉ tiêu thất nghiệp (4% chẳng
hạn) thấp hơn tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên (dự tính hiện giờ 6%) thì mục tiêu của
họ là đạt đợc một chỉ tiêu sản phẩm lớn hơn mức tỷ lệ tự nhiên của sản phẩm
(Yn). Để thực hiện mục tiêu các nhà hoạch đinh chính sách có biện pháp để
tăng tổng cầu (AD1) di chuyển đến AD2 khi đó nền kinh tế ở điểm 1, sản
phẩm tại Y
T
và đạt đợc mục tiêu thất nghiệp 4%.
Nhng tại Y
T
tỷ lệ thất nghiệp 4% nhỏ hơn mức tỷ lệ tự nhiên nên lơng sẽ
tăng và đờng tổng cung di chuyển AS
2
đa nền kinh tế từ 1->2 => tỷ lệ thất
6
p
nghiệp lại 6% nhng ở mức giá P
2
>P
1
. Tuy nhiên mục tiêu theo dới tỷ lệ thất
nghiệp 4% nên nhà hoạch định sẽ di chuyển AD
2

3
4 AS
2
3
P3 3 AS
1
2
P2 2
P1 AD
4
P1 1 AD
3
1 AD
2
AD
1
Y Y
n
Y
Tổng sản
phẩm
Mô hình 2 : Lạm phát chi phí đẩy
ảnh hởng của việc tăng nh vậy làm cho việc tổng cung dịch chuyển sang AS
2
(do sức ép đối với doanh nghiệp nên thu hẹp sản xuất) nếu chính sách tài chính
và tiền tệ của chính phủ vẫn không thay đổi thì nền kinh tế sẽ chuyển từ điểm 1
sang điểm 1. Sản phẩm sẽ giảm xuống dới mức tỷ lệ tự nhiên của nó (Y) trong
khi mức giá cả tăng lên P
1
. Do sản phẩm giảm, thất nghiệp tăng, chính phủ sẽ

công cuộc chống lạm phát ở nhiều nớc. Nhng mức độ lạm phát là bao nhiêu thì
phù hợp? Nếu tỷ lệ tăng trởng cao, tỷ lệ lạm phát quá thấp thì dẫn tới tình trạng
các ngân hàng ứ đọng vốn, làm ảnh hởng tới sự phát triển của đất nớc. Vì thế
trong trờng hợp đó ngời ta phải cố gắng tăng tỷ lệ lạm phát lên. Khi chính phủ
kiểm soát lạm phát ở mức độ mà nền kinh tế chịu đợc (tỷ lệ lạm phát dới 10%)
thì vừa không gây đảo lộn lớn, các hệ quả của lạm phát đợc kiểm soát, vừa với
sức che chắn hoặc chịu đựng đợc của nền kinh tế và của các tầng lớp xã hội.
Hơn nữa, một sự hy sinh nào đó do mức lạm phát đợc kiểm soát đó mang lại đ-
ợc đánh đổi bằng sự tăng trởng , phát triển kinh tế mở ra nhiều việc làm hơn,
thu nhập danh nghĩa có thể đợc tăng lên cho mỗi ngời lao động nhờ có đủ việc
làm hơn trong tuần, trong tháng hoặc tăng thêm ngời có việc làm, có thu nhập
trong gia đình và cả tầng lớp lao động do giảm thất nghiệp . Đến lợt nó, thu
nhập bằng tiền tăng lên thì tăng thêm sức kích thích của nhu cầu của tiền tệ và
sức mua đối với đầu t, tăng trởng tổng sản phẩm trong nớc (GDP). Nhng khi tỷ
lệ lạm phát đến 2 con số trở lên (lạm phát phi mã hoặc siêu lạm phát) thì hầu
nh tác động rất xấu tới nền kinh tế nh sự phân phối và phân phối lại một cách
bất hợp lý giữa các nhóm dân c hoặc các tầng lớp trong xã hội và các chủ thể
trong các quan hệ về mặt tiền tệ trên các chỉ tiêu mang tính chất danh nghĩa
(chỉ tiêu không tính đến yếu tố lạm phát, không tính đến sự trợt giá của đồng
tiền). Mặt khác tỷ lệ lạm phát cao phá hoại và đình đốn nền sản xuất xã hội do
lúc đó độ rủi ro cao, không ai dám tính toán đầu t lâu dài, những hoạt động kinh
tế ngắn hạn từng thơng vụ, từng đợt, từng chuyến diễn ra phổ biến, Trong xã hội
xuất hiện tình trạng đầu cơ tích trữ, dẫn tới khan hiếm hàng hoá . Điều đó lại
làm giá càng tăng, và xã hội rơi vào vòng luẩn quẩn, lạm phát càng tăng dẫn tới
mất ổn định về chính trị xã hội. Tỷ lệ lạm phát cao còn có ảnh hởng xấu tới
quan hệ kinh tế quốc tế. Tóm lại khi lạm phát cao tới mức hai con số (ở Việt
nam giữa những năm 80 đã xảy ra tình trạng lạm phát tới mức 3 con số) trở lên,
thì có ảnh hởng xấu tới xã hội. Do đó chính phủ phải có giải pháp khắc phục,
kiềm chế, và kiểm soát lạm phát.
Tác động kinh tế xã hội của lạm phát rất khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ lạm

loạn, chính phủ rất khó kiểm soát các hoạt động kinh tế ngầm... lạm phát cao
kéo dài làm cho hàng loạt doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản hoặc sản xuất
cầm chừng, một bộ phận công nhân bị mất việc, tỷ lệ thất nghiệp tăng, nền kinh
tế sa sút.
10
Chơng 2
lạm phát ở việt nam giai đoạn 2000- 2006
2.1.Diễn biến lạm phát của Việt Nam và ảnh hởng của nó đến đời sống kinh
tế xã hội.
Trong lịch sử quản lý kinh tế vĩ mô của Việt Nam,kiểm soát lạm phát là một
trong những thành công đợc ghi nhận.Lạm phát của Việt Nam đã giảm từ 70%
vào năm 1986 xuống còn 35% vào năm 1989 và trong mức kiểm soát ở những
năm sau này. Kết quả này có đợc đã phản ảnh tổng hợp nhiều yếu tố nh tự do
hoá nền kinh tế, áp dụng tỷ giá hối đoái thực tế hơn,ngời dân không còn tồn trữ
hàng hoá,vàng đô la,mà bắt đầu tích luỹ bằng đồng tiền trong nớc
Tỷ lệ lạm phát giảm từ giai đoạn 1988 đến năm 2000, đặc biệt năm 2000 tỷ lệ
lạm phát là 0,1% và năm 2001 là - 0.6%.Thế nhng lạm phát bắt đầu tăng lại từ
năm 2002 và trở nên mạnh hơn vào đầu năm 2004. Nhìn về xu hớng, tỷ lệ lạm
phát giảm trong thời kỳ 1998 2001 là do tác động của khủng hoảng Châu á
làm cho nền kinh tế lâm vào suy thoái cùng với giảm phát.Vào giai đoạn này
chính phủ thực hiện chính sách kích cầu để ổn định nền kinh tế. Chính sách này
cùng với chính sách tín dụng mềm đối với những công trình đầu t lớn của chính
phủ đã làm cho lợng cung tín dụng tăng kéo theo sự tăng giá vào năm 2002.
Số liệu tiền tệ cũng cho thấy điều này, tốc độ tăng trởng hàng năm của lọng
cung tiền M2 trong năm 1999 và 2000 cao hơn nhiều so với những năm trớc và
sau đó, ở múc là 56% vào năm 2000. Mức tăng M2 từ sau năm 2000 trở đi đã
trở lại mức giá trung bình của giai đoạn trớc năm 2000 là dao động trên dới
20%
Nếu lạm phát của năm 2003 chỉ là 3% thì bắt đầu đến tháng 2 của năm 2004
chỉ số lạm phát đợc tính bằng CPI đã là 4,1%. Cho đến tháng 8 năm 2004 thì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status