Lời nói đầu
Đại hội VI (năm 1986), tiếp đó là các Đại hội VII và VIII của Đảng đã đề
ra đờng lối đổi mới sâu sắc và toàn diện đất nớc, trong đó đổi mới về kinh tế là
nhiệm vụ trọng tâm và đổi mới hệ thống doang nghiệp Nhà nớc (DNNN) là khâu
đột phá. Trong 10 năm qua, thực hiện đờng lối đổi mới của Đảng, các cơ quan
Đảng và Nhà nớc ở Trung ơng đã ban hành trên 200 văn bản về sắp xếp lại và đổi
mới cơ chế quản lý các DNNN. Đến nay hệ thống DNNN đã đợc sắp xếp lại một
bớc khá căn bản, đã giảm quá nửa số doanh nghiệp (những doanh nghiệp nhỏ bé
và yếu kém) và số doanh nhiệp còn lại đợc củng cố một bớc, cơ chế quản lý mới
đợc hình thành, ngày càng hoàn thiện giúp các DN chuyển đổi và thích nghi dần
với các quy luật của kinh tế thị trờng trong bối cảnh nền kinh tế mở, hội nhập
quốc tế. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích vẫn còn nhiều tồn tại và hạn chế.
Trớc những yêu cầu to lớn của CNH, HĐH đất nớc và cạnh tranh trên thị trờng
ngày càng gay gắt, cần tiếp tục đổi mới các DNNN. Công việc này gồm hai nội
dung lớn: sắp xếp lại các doanh nghiệp và đổi mới cơ chế quản lý. Trong đó Cổ
phần hoá (CPH) một bộ phận DNNN là một trong 4 nội dung đổi mới quản lý
DNNN. Hiện nay nó đợc coi là một chủ trơng quan trọmg của Đảng và Nhà nớc
trong việc huy động vốn của mọi tầng lớp và nâng cao tính tự, lực tự giác, nâng
cao tinh thần trách nhiệm của những ngời trực tiếp gắn lợi ích của mình với lợi
ích của DN. Thông qua đó từng bớc cải thiện quan hệ sản xuất phù hợp với sự
thay đổi của lực lợng sản xuất trong công cuộc CNH, HĐH đất nớc, từng bớc đa
nền kinh tế nớc nhà đi lên tránh nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nớc trong khu
vực và trên thế giới.
Chơng trình CPH đã đợc triển khai từ giữa năm 1992, theo tinh thần của
Quyết định 202/CT-HĐBT về thí điểm chuyển một số doanh nghiệp thành Công
ty cổ phần (ngày 08/06/1992). Cho đến nay, những thành công mà chơng trình
CPH mang lại không phải là ít nhng vẫn tồn tại những bất cập cần kịp thời nhìn
nhận và tháo gỡ. Trong khuân khổ bài viết này chúng ta hãy cùng xem xét thực
1
trạng cũng nh những mặt đợc và cha đợc của chơng trình CPH ở nớc ta trong thời
gian vừa qua, từ đó đề xuất một số giải pháp cho thời gian sắp tới.
- Vốn của CTCP là do nhiều ngời đóng góp
3
- CTCP huy động vốn thông qua phát hành cổ phần và trái phiếu
- Là hình thức doanh nghiệp có t cách pháp nhân chỉ dành cho những ngời có
tài sản lu động độc lập với tài sản của chủ doanh nghiệp. Công ty có quyền trực
tiếp ký kết các hợp đồng kinh tế và thực thi các nghĩa vụ nh các doanh nghiệp
khác trớc pháp luật.
- Là công ty có trách nhiệm pháp lý hữu hạn. Các thành viên trong công ty có
quyền và nghĩa vụ trong phạm vi phần vốn góp của mình.
* Hình thức tổ chức của một công ty cổ phần
- Đại hội cổ đông: Là đại hội của tất cả những ngời tham gia mua cổ phiếu. Đây là
bộ máy quan trọng nhất trong CTCP có quyền quyết định toàn bộ các hoạt động
cuả công ty. Đại hội cổ đông có quyền:
+ Quyết định mục tiêu và phơng hớng nhiệm vụ kinh doanh của công ty
+ Quyền thông qua điều lệ, bổ sung và sửa đổi điều lệ của công ty
+ Quyền thông qua quyết toán tài chính hàng năm và quyền phân chia thành
quả kinh doanh
+ Quyền bầu cử hoặc bãi miễn các thành viên trong hội đồng quản trị
- Hội đồng quản trị là cơ quan do đại hội cổ đông bầu ra để điều hành công ty
giữa hai kỳ đại hội. Thành viên của hội đồng quản trị về nguyên tắc phải là các cổ
đông và thờng là ngời nắm giữ số cổ phiếu cao nhất. Hội đồng quản trị thay mặt
những ngời sở hữu công ty tổ chức, quản lý và giải quyết những vấn đề có liên
quan đến mục đích và quyền lợi phát triển của công ty. Trong Hội đồng quản trị,
Chủ tịch Hội đồng quản trị là ngời có quyền hạn cao nhất và là ngời có số vốn góp
lớn nhất.
- Giám đốc điều hành ( Tổng giám đốc ) hay những thành viên trong ban giám
đốc là những ngời có năng lực quản lý điều hành toàn bộ các hoạt động sản xuất -
kinh doanh của CTCP. Thành viên ban giám đốc có thể là một trong số những cổ
đông hoặc có thể do Hội đồng quản trị thuê từ bên ngoài.
- Ban kiểm soát: Do đại hội cổ đông bầu ra và thành viên của Ban kiểm soát
khả năng huy động đợc một lợng vốn lớn chỉ trong một thời gian ngắn. Cách thu
hút vốn của CTCP không chỉ dừng lại ở những nhà đầu t lớn mà còn hấp dẫn đợc
5
một lợng tiền khá lớn đang nằm rải rác trong dân c kể cả những ngời nghèo cũng
có thể tham gia mua cổ phần bởi hầu hết các cổ phiếu có mệnh giá thấp. Hơn nữa
việc đầu t vào các CTCP thờng đem lại lợi ích hơn so với việc gửi tiền vào các quĩ
tín dụng hay ngân hàng. Thông thờng lợi tức do cổ phiếu đem lại thờng cao hơn lãi
suất tiền gửi.
* Đem lại hiệu quả kinh doanh cao, góp phần phát triển kinh tế đất nớc. Trong
CTCP các cổ đông không có quyền rút vốn ra khỏi công ty mà chỉ đợc mua, bán,
chuyển nhợng phần góp của mình cho những ngời khác thông qua thị trờng. Do
vậy mà số lợng vốn của công ty luôn ổn định không bị biến động ngay cả trờng cổ
đông chết hoặc vi phạm pháp luật. Hơn nữa với việc huy động vốn nh trên đã tạo
cho CTCP nhanh chóng có đợc một khối lợng vốn lớn, có điều kiện tận dụng khoa
học kỹ thuật tiên tiến, nâng cao năng suất lao động, tận dụng đợc các cơ hội kinh
doanh và thích ứng nhanh đợc với những biến động của thị trờng. Do vậy kết quả
kinh doanh mà các CTCP đem lại thờng cao.
* CTCP có vai trò quan trọng thúc đẩy sự ra đời của thị trờng chứng khoán.
* CTCP tạo điều kiện thực hiện xã hội hoá các hình thức sở hữu. Với loại hình
CTCP, các chủ sở hữu thuộc các thành phần kinh tế liên kết với nhau tạo điều kiện
tập trung xã hội hoá về mặt t liệu sản xuất và sức lao động. Thông qua hoạt động
mua bán cổ phiếu ngời lao động trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý của
CTCP với t cách là ngời sở hữu đích thực của công ty.
1.2. Khái niệm, mục tiêu và hình thức cổ phần hoá DNNN
1.2.1. Khái niệm
Cổ phần hoá DNNN là một con đờng hình thành nên CTCP. Đây là quá trình
nhà nớc chuyển các doanh nghiệp của mình vào tay các cổ đông thuộc các thành
phần kinh tế khác. Theo thông t của Bộ Tài chính số 50 TC/TCDN ngày 30/8/1996
khẳng định DNNN chuyển thành CTCP ( hay còn gọi là cổ phần hoá DNNN ) là
một biện pháp chuyển DNNN từ sở hữu nhà nớc sang hình thức sở hữu nhiều
sản xuất kinh doanh.
- Tạo điều kiện cho ngời lao động thực sự làm chủ doanh nghiệp.
Sau một thời gian tiến hành thí điểm cổ phần hoá, chính phủ đã có sự nghiên
cứu và sửa đổi nội dung mục tiêu cổ phần hoá cho phù hợp với điều kiện kinh tế
7
đất nớc và xu thế biến đổi chung của thị trờng. Theo nghị định 44 CP ngày
29/6/1998 thì mục tiêu cổ phần hoá đợc rút gọn từ ba mục tiêu xuống còn hai nh-
ng nội dung chính vẫn đợc giữ nguyên. Cụ thể:
Mục tiêu 1: Huy động vốn của toàn xã hội bao gồm các cá nhân, các tổ chức
kinh tế, tổ chức xã hội trong và ngoài nớc để đầu t đổi mới công nghệ, tạo thêm
việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu
DNNN.
Mục tiêu 2: Tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và
những ngời góp vốn đợc làm chủ thực sự, thay đổi phơng thức quản lý tạo động
lực thúc đẩy cho doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản Nhà nớc,
nâng cao thu nhập cho ngời lao động, góp phần tăng trởng kinh tế đất nớc.
Về nội dung, mục tiêu cổ phần hoá DNNN theo nghị định trên vẫn quán triệt
t tởng về cổ phần hoá là nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh
của doanh nghiệp. Bên cạnh đó là phát huy quyền làm chủ của ngời lao động. Hai
mục tiêu cổ phần hoá lần này đợc đa ra sau một thời gian thử nghiệm và tiến hành,
đợc đúc rút từ kinh nghiệm thực tế. Do vậy, nó mang tính xác thực hơn so với ba
mục tiêu ở quyết định 202/CT, đồng thời việc thực hiện hai mục tiêu này sẽ thúc
đẩy và kéo theo các mục tiêu khác đợc thực hiện nh:
+ Giảm bớt các DNNN để từ đó giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nớc.
+ Việc đa dạng quyền sở hữu DNNN sẽ hình thành sự liên kết chặt chẽ giữa
các DNNN với các thành phần kinh tế khác do đó tạo ra sức mạnh và động lực
thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào thị trờng thế giới. Đây là mục
tiêu dài hạn cho nền kinh tế nói chung và mỗi doanh nghiệp nói riêng.
+ Việc huy động vốn của CTCP sẽ là sợi dây liên kết chặt chẽ giữa các doanh
nghiệp có quyền lợi chung thông qua sự đồng sở hữu cổ phần trong một doanh
2.1.1. Giai đoạn I ( Từ tháng 6/1992 đến tháng 4/1996 ) Những
bớc thử nghiệm đầu tiên
- Ngày 08/06/1992, chủ tịch HĐBT đã ra quyết định 202/CT cho phép lựa
chọn và triển khai thí điểm cổ phần hoá ở một số DNNN. Mốc quan trọng này mở
ra một hớng đi mới cho việc cải cách DNNN ở Việt Nam.
- Ngày 04/03/1993, Thủ tớng chính phủ ra chỉ thị 84/TTg về việc xúc tiến cổ
phần hoá DNNN và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đối với các
DNNN.
+ Về mục tiêu của giai đoạn này là thí điểm cổ phần hoá để từ đó rút ra kinh
nghiệm và mở rộng việc cổ phần hoá sau này.
+ Về đối tợng cổ phần hoá ở giai đoạn này là các DNNN kinh doanh trong
các nghành thông dụng, không có ý nghĩa chiến lợc đối với nền kinh tế quốc dân
( nh dịch vụ và công nghiệp ).
Trong giai đoạn này, Nhà nớc áp dụng hình thức chuyển một phần sở hữu
Nhà nớc dới dạng bán cổ phần DNNN sang sở hữu t nhân. Sau khi cổ phần hoá,
DNNN chuyển sang hoạt động theo luật công ty. Đối với công nhân viên chức
trong doanh nghiệp, ngời lao động đợc mua cổ phiếu trả chậm với thời gian không
quá 12 tháng.
ở giai đoạn thí điểm này, các bộ, nghành địa phơng đã hớng dẫn DNNN
đăng kí thực hiện cổ phần hoá. Trên cơ sở số lợng DNNN dăng kí, chủ tịch HĐBT
( nay là Thủ tớng chính phủ ) đã ra quyết định số 203/CT thí điểm chọn 7 DNNN
do HĐBT chỉ đạo trực tiếp đó là:
1.Nhà máy xà phòng Việt Nam ( Bộ Công nghiệp )
2.Nhà máy diêm Thống Nhất ( Bộ Công nghiệp )
10
3.Xí nghiệp nguyên vật liệu chế biến thức ăn gia súc Hà Nội ( Bộ Công
nghiệp )
4.Xí nghiệp chế biến gỗ Lạng Long Bình ( Bộ Nông nghiệp )
5.Công ty vật t tổng hợp Hải Hng ( Bộ Thơng mại )
6.Xí nghiệp sản xuất bao bì ( Thành phố Hà Nội )
thấp nhất là 3,5 tỷ ( công ty chế biến hàng xuất khẩu Long An ).
+ Nhà nớc nắm giữ 28,25% ( tính bình quân ) trong tổng số vốn điều lệ. Nh
vậy, Nhà nớc không nắm mức cổ phần chi phối. Tỉ lệ vốn nhà nớc trong các công
ty cao nhất chỉ ở mức 30,2%, còn lại hầu nh các cổ phiếu do cổ đông trong công ty
11