Page | 1
Đinh Thanh Hải
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DU LỊCH MÔI TRƯỜNG
1.1. Khái niệm chung về du lịch và môi trường
Như chúng ta đã biết rằng để phát triển du lịch thì điều kiện đầu tiên không thể
thiếu là tài nguyên thiên nhiên. Trong đó thì môi trường tự nhiên như môi trường
nước, không khí, đất đai đồi núi là yếu tố chính nhằm đem đến sự thoả mãn cho du
khách du lịch. Theo luật bảo vệ môi trường của nước ta công bố ngày10/1/1994: Môi
trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với
nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển
của con người và thiên nhiên. Khi du lịch ngày càng phát triển thì đồng nghĩa với tác
động không nhỏ đến môi trường tự nhiên như suy thoái đât đai, nguồn nước, cảnh
quan tự nhiên sẽ bị phá vỡ, dần dần thì vẻ đẹp tự nhiên của nó sẽ không còn nữa và
thay vào đó là các hệ thống xử lý rác thải mà thôi.
1. 1. 1. Du lịch sinh thái (hay con gọi là du lịch tự nhiên) đây là loại hình du
lịch ngày càng được ưa chuộng và phát triển với tốc độ nhanh trên phạm vi toàn thế
giới. Theo định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái thế giới (Ecotorism society): "Du
lịch sinh thái là du lịch có trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là nơi bảo tồn môi
trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương". Cùng với khai thác tài nguyên
du lịch thì con người phải quan tâm đến sự tồn tại và phát triển cuả môi trường tự
nhiên bằng các biện pháp lâu dài. Khi mà khoa học công nghệ ngày càng phát triển,
sự ra đời của các loại máy móc thì mặt trái của vấn đề ô nhiễm môi trường và suy
thoái hệ sinh khí quyển ngày càng cao. Làm cho tài nguyên du lịch ngày bị cạn kiệt,
mất đi thẩm mĩ của nó. . . Loại hình du lịch sinh thái thực chất là loại có quy mô
không lớn, nhưng có tác dụng hoà nhập với môi trường tự nhiên ở điểm du lịch, khu
du lịch và nền văn hoá ở đó. Chính loại hình du lịch nay Tổ chức Du lịch thế giới đã
khẳng định đối với các hoạt động du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại của du khách
cùng người dân ổ vùng có du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng vv. . . đồng thời chú
trọng việc tôn tạo nhằm bảo tồn các nguồn tài nguyên du lịch để có điều kiện phát
triển hoạt động của du lịch trong tương lai.
chia thu nhập và phúc lợi xã hội, thông thường đươc hiển thị bằng tính công bằng
trong phân bố các tầng lớp giàu nghèo trong xã hội. Bền vững về môi trường thể hiện
ổ sự sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên và điều kiện môi trường xã hội,
phục vụ nhu cầu các thế hệ hiện tại mà vẫn để lại cho các thế hệ tương lai nhưng tài
nguyên và điều kiên môi trường cần thiết cho sự phát triển của họ. Ngày nay song
song với việc phát triển du lịch là đi đôi với việc tàn phá môi trường tự nhiên xung
quanh. Những việc phá hoại môi trường này chỉ đem lại cho quốc gia và doanh
nghiệp một chút ít lợi ích trước mắt, còn về lâu dài đây chính là mối nguy hại đe doạ
đến sự sống còn của môi trường, từ năm 1990 ý nghĩa của việc phát triển du lịch môi
trường, một xu thế phát triển lâu dài đã được biết tới. Cho nên chủ trương của Tổng
cục du lịch Việt Nam hiên nay khuyến khích các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành tập
trung vào phát triển du lịch bền vững hay còn gọi "du lịch sinh thái ", " du lịch xanh".
Ở đây hàm hai ý nghĩa, một là khái niệm về tính" liên tục", hai là khái niệm về tính"
2
Page | 3
Đinh Thanh Hải
bảo tồn ". Để làm được điều đó thì phải có chiến lược lâu dài về việc bảo vệ môi
trường xã hội nói chung và môi trường du lịch nói riêng. Nhưng trên thực tế cho thấy,
phát triển bền vững đòi hỏi phải bảo vệ tài nguyên thiên nhiên cho sản xuất lương
thực, chất đốt trong khi vẫn mở rộng sản xuất để đáp ứng nhu cầu của số dân tăng
nhanh, hay ngày càng nhiều công trình kiến trúc mọc lên ngay khu bảo tồn thiên
nhiên thì thật là mâu thuẫn. Khi mà diện tích đất hoang dã, đất không thích hợp cho
con người sử dụng tiếp tục tăng, thu hẹp địa bàn cư trú của các loài hoang dã. Các
rừng nhiệt đới, hệ sinh thái, rạng san hô, rừng ngập mặn ven biển, các bãi biển và
nhiều địa bàn cư trú duy nhất khác đang bị phá huỷ dẫn đến nguy cơ diệt chủng của
một số loài.
Tóm lại, phát triển du lịch môi trường bao gồm các yếu tố như sau: khai thác và
phát triển tài nguyên, bảo tồn sinh thái, khống chế sự thay đổi của môi trường sinh
thái đồng thời bảo vệ duy trì cân bằng môi trường tự nhiên, đồng thời khôi phục
những nguồn tài nguyên đã bị huỷ hoại. Tức khi có mục tiêu phát triển một khu du
đáng kể là xói mòn, nhiễm bẩn bởi nước thải, ô nhiễm nước mặt bởi rác rưởi và các
thứ khác. Nước thải chưa được xử lý tốt vì không có hoặc không đủ thiết bị xử lý,
hoặc thiết bị làm việc không đảm bảo chất lượng, do đó tác động lâu dài đến chất
lượng nước ngầm cũng như nước mặt. Hoạt động của du khách cũng là nguyên ngân
gây nên ô nhiễm nguồn nước như vứt rác bừa bãi ( khi qua phà ) đổ các chất lỏng. . .
Thứ hai là tác động đến tài nguyên không khí. Bụi và các chất gây ô nhiễm
không khí xuất hiện chủ yếu là do hoạt động giao thông, do sản xuất và sử dụng năng
lượng. Tăng cường sử dụng giao thông cơ giới là nguyên nhân đáng kể gây nên bụi
bặm và ô nhiễm không khí. Trạng thái ồn ào phát sinh do việc tăng cường sử dụng các
phương tiện ồn ào như thuyền, phà gắn máy, xe máy. . . cũng như hoạt động của du
khách tại các điểm dịch vụ du lịch như ở các sàn nhảy. . . tạo nên hậu quả trước mắt
4
Page | 5
Đinh Thanh Hải
và lâu dài. Tiếp theo phải kể đến đó là tác động đến tài nguyên đất, khi một số khu
vực tự nhiên có giá trị như bãi tắm, cánh rừng xanh trong nhiều trường hợp bị ngăn
lại không cho dân địa phương vào vì chúng trở thành tài sẳn riêng của khách sạn hoặc
tư nhân kinh doanh ngành du lịch. Phát triển du lịch kéo theo việc xây dựng kết cấu
hạ tầng khách sạn và các công trình dịch vụ du lịch. Điều này tất yếu dẫn đến việc
xâm lấn những diện tích đất trước đây trồng trọt và chăn nuôi. Đây là bước chuyển
đổi dạng sử dụng đất với hiệu quả sử dụng cao hơn, nhưng lại làm giảm đi quỹ đất
nông nghiệp. Tác động đến tài nguyên sinh vật như : ô nhiễm môi trường sống, cùng
với việc mất đi cảnh quan tự nhiên, những khu đất trồng trọt và chăn nuôi là nguyên
nhân làm cho một số loài thực vật và động vật dần dần bị mất nơi cư trú. Một số hoạt
động thái quá của du khách như chặt cây, bể cành, săn bắn chim thú tại những khu
rừng tự nhiên cũng là nguyên nhân làm giảm sút cả số lượng và chất lượng sinh vật
trong phạm vi khu du lịch. Trong môi trường bảo tồn dã thú, việc vứt rác bừa bãi gây
tác động trực tiếp đến cuộc sống trước mắt cũng như lâu dài của các loaì động vật;
nhiều khi còn ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên phục vụ cũng như du khách đến
khu du lịch bởi các dịch bệnh phát sinh từ các chất thải không được xử lý. Hoạt động
phát triển du lịch, người dân địa phương bị buôc phải rời khỏi nơi cư trú và rời bỏ
các ngành nghề truyền thống gắn bó với họ qua nhiều thế hệ. Cộng đồng dân cư
địa phương sẽ không được chia sẻ hoặc chia sẻ không thoả đáng lợi nhuận từ việc
phát triển du lịch
Nếu như các nhà kinh doanh không tuân thủ theo nguyên tắc phát triển du lịch
bền vững. Những mâu thẫn xã hội sẽ được nay sinh giữa các thành viên của cộng
đồng do có sụ tranh chấp các lợi thế để có được nguồn thu tốt hơn từ du lịch. Điều
này sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ gắn bó đặc trưng cho cuộc sống truyền thống của
cộng đồng. Bên cạnh đó, các lối sống mới được khách du nhập sẽ có tác động nhiều
mặt đến cộng đồng nhất là giới trẻ. Các xung đột mới có thể nảy sinh và gây ra chia rẽ
cộng đồng. Truyền thống văn hoá của địa phương có thể sẽ bị thương mại hoá để đáp
ứng nhu cầu của du khách. Đã có người cảnh báo những hiệu ứng như vậy và gọi là
sự xâm lăng văn hoá, thông qua hoạt động du khách không được quản lý tốt. Ngoài
ra, chất lượng cuộc sống cộng đồng cũng có thể bị ảnh hưởng do giá cả sinh hoạt tăng
vì cầu tăng vượt khả năng cung.
Những tác động không thuận lợi nói trên sẽ là những nguyên nhân gây ra xung
đột du lịch và kết quả là quá trình phát triển du lịch không bền vững và sẽ không đem
lại hiệu quả kinh tế, văn hoá, xã hội và môi trường như mong muốn. Ngay cả khi
không xảy ra xung đột giữa cộng đồng và phát triển du lịch nhưng nếu thiếu kiểm soát
và không có sự tham gia tích cực của cộng đồng thì sự suy thoái môi trường tự nhiên
và các thay đổi giá trị văn hoá sẽ làm mất dần tính hấp dẫn của các sản phẩm du lịch.
Để loại trừ được những tác động ngược chiều của sự phat triển du lịch đối với cộng
đồng dân cư và ngược lại, rất cần phát triển du lịch bền vững. Mục tiêu của phát triển
du lịch bền vững là đem lại lợi ích cho cộng đồng và phát triển du lịch bền vững chỉ
có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cộng đồng. Để phát triển du lịch bền
vững cần có kế hoạch quản lý các nguồn tài nguyên để thoả mãn các nhu cầu kinh
6
Page | 7
Đinh Thanh Hải
tế, xã hội và thẩm mỹ của con người trong khi vẫn duy trì được sự phát triển lâu dài
ngành kinh tế này thì những vần đề về môi trường cũng cần phải được đạt ra và giải
quyết một cách nghiêm túc, đầy đủ sao cho vừa phát triển , vừa khai thác với hiểu
quả cao nhất về du lịch nhưng lại phải đảm bảo sự phát triển lâu dài .
Trên cơ sở phương pháp tiếp cận nghiên cứu tổng hợp, áp dụng các tiêu chí,
7
Page | 8
Đinh Thanh Hải
các nguyên tắc và những giải pháp phát triển bền vững kinh tế xã hội chung, môi
trường du lịch nói riêng. Môi trường du lịch có hâp dẫn khách du lịch hay không
trước tiên phải kể đến các yếu tố tài nguyên du lịch. Khách du lịch đến mục đích của
họ là tham quan, để thoả mãn" con mắt" của họ. Khi mà đời sống của con người ngày
càng tăng thì nhu cầu đi du lịch của ngưòi ta càng cao. Quanh năm suốt tháng phải
tiếp xúc với bụi bẩn, ồn ào của chốn đô thị, những ngày nghỉ con người ta muón
thoát khỏi cuộc sống bình thường đó, và họ đi du lịch. Chỉ đến những nơi có thiên
nhiên đẹp, trong lành. và yên tĩnh sẽ thoả mãn được nhu cầu của họ. Chính vì điều đó,
môi trường rất quan trọng trong kinh doanh du lịch. Sự suy giảm về trữ lượng và chất
lượng của các tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa cơ bản đối với cuộc sống của con
người như: đất đai, nước, rừng, thuỷ sản, khoáng sản và các dạng tài nguyên năng
lượng. Sự suy thoái này trong thập kỷ 21 có khả năng dẫn tới tình trạng thiếu thốn
nghiêm trọng về lương thực, hay về các nhu câu cần thiết của con người nói chung. Ô
nhiễm môi trường sống của con người với tốc độ nhanh và phạm vi lớn hơn trước.
Không khí, nước, đất đai, cac đô thị, khu công nghiệp, vùng ven biển, đại dương ngày
càng bị ô nhiễm, ảnh hưởng xấu đến không chỉ ngành du lịch, mà còn nguy hai hơn
đó là sức khoẻ, đời sống của con người cũng như sự suy tồn và phát triển của các
sinh vật khác trên trái đất. Để phần nào khắc phục được những bất cập trên thì cần
đảm bảo sự cân đối hài hoà giữa phát triênr du lịch với các kế hoạch, các phương án
quy hoạch phát triển các ngành kinh tế khác theo một nội dung thống nhất trong phat
triển kinh tế xã hội chung của từng vùng, nghiên cứu và cho toàn lãnh thổ của đất
nước. Trong nguyên tắc này cần chú ý tới việc xem xét tỷ trọng của ngành du lịch,
đánh giá thực trạng cũng như dự kiến khả năng phát triển trên quan điểm kiểm soát,
và khách du lịch tạo nên. Hiện nay ở nước ta , tình trạng rác thải bừa bãi tại các địa
điểm du lịch, vui chơi giải trí còn phổ biến, điều đó không những ảnh hưởng tới vệ
sinh công cộng và môi trường, mà còn gây cảm giác khó chịu cho du khách. Khi hoạt
động du lịch nhộn nhịp lên, thì khi đó cũng là điều đe doạ tới chất lượng không khí.
Trước hết là ô nhiễm không khí do giao thông vận tải. Tổ chức du lịch thế giới đã
thống kê có khoản 37%-45% du khách tới bằng đường bộ và khoảng 40%-45% du
khách tới bằng máy bay. Không giống như đối với ô tô, ô nhiễm từ máy bay ( trừ
tiếng ồn ) ít khi được nhân thấy trực tiếp. Thế nhưng riêng trong năm 1990, ngành
hàng không đã tiêu thụ hết khoảng 176 triệu tấn xăng máy bay, từ đó thải ra 550 triệu
tấn khí nhà kính CO2 và 3, 5 triệu tấn ôxy nitơ, gây mưa axit và ô nhiễm quang - hoá.
Không chỉ có không khí mà còn nhiều vấn đề khác như ô nhiễm tiếng ồn, lượng
nước thải mà sự phát triển du lịch còn tạo ra mối đe doạ tới các hệ sinh thái, như phá
những khu vực rừng ngập mặn để xây dựng cơ sở hạ tầng, làm mát hoạc chia cắt nơi
cư trú các loài sinh vật, khai thác bừa bãi các tài nguyên rừng, biển để sản xuất các
sản phẩm phục vụ cho khách du lịch như tiêu bản các thú rừng, hoa lan rừng, tắc kè,
đồi mồi, san hô. . . tại nhiều điểm du lịch của nước ta. Hàng năm tren thế giới có
khoảng 200. 000 ha rừng bị cháy, trên 500 loài thực vật Địa trung hải, cùng một số
động vật biển quý hiếm đang bị đe doạ tuyệt chủng. Hiện có rất nhiều chương trình,
dự án của các nước và tổ chức quốc tế đangg được tiến hành để cứu sự đa dạng sinh
học tại nơi đây. Tuy du lịch mang lại lợi ích kinh tế _ xã hội to lớn nhưng các tác
9
Page | 10
Đinh Thanh Hải
động tiêu cực của du lịch đối với môi trường càng ngày càng trở nên rõ rệt hơn. Các
quốc gia đều nhận thấy mối nguy hại này và đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để
ngăn ngừa và hạn chế tác động tiêuu cực của du lịch đối với môi trường, cả môi
trường tự nhiên, nhân tạo và các đối tượng ý nghĩa về lịch sử, văn hoá, khảo cổ học.
Nhà nước ta cũng đã ban hành nhiều văn bản pháp luật có liên quan đến bảo vệ môii
trường, bản sắc văn hoá và thần phong mĩ tục trong hoạt động du lịch. Ngoài Luật bảo
vệ môi trường, Luật bảo vệ và phat triển rừng, Luật tài nguyên nước có các quy định
khí trung bình hàng năm là 23, 6độ c do chịu ảnh hưỏng của biển và lượng mưa khá
lớn. Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm 79%. lượng mưa trung bình hàng năm và
mỗi năm có khoảng 114 ngày mưa. Đặc điểm khí hậu Hà Nội rõ nét nhất là sự thay
đổi và khác biệt nóng, lạnh. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng và mưa còn những
tháng còn lại thời tiết khô ráo. Giữa hai mùa lại có tiếp tháng 4 và tháng 10 cho nên
có thể nói rằng Hà Nội có đủ 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Bốn mùa như vậy đã làm
cho khí hậu Hà nội thêm phong phú, đa dạng, mùa nào cũng đẹp, cũng hay. Mùa tham
quan Hà Nội là mùa thu, rất thích hợp với du khách ở những vùng hàn đới. Hà Nội có
dãy Sóc Sơn(núi Sóc)là đợt kéo dài của khối Tam Đảo, với ngọn núi cao nhất là
308m. Núi này khác nhau như Mã, núi Đền. Núi Sóc toạ lạc tại xã Phù Linh, huyện
Sóc Sơn. Ngoài núi Sóc, Hà Nội còn có một đột khởi lên giữa đất bằng như núi Sái(xã
Thuỷ Lâm huyện Đông Anh), núi Phục Tương ở trung tâm Hà Nội, thuộc vùng Bách
Thảo có núi Nùng, còn gọi là Long Đỗ hay núi Khán, tạo nên dáng Thăng Long xưa.
Về sông ngòi, Hà Nội nằm ở trung tâm của tam giác chảy sông Hồng. Sông Hồng dài
1183km từ Vân Nam xuống. Đoạn sông Hồng qua Hà Nội dài 40km từ huyện Đông
11
Page | 12
Đinh Thanh Hải
Anh đến huyện Thanh Trì. Sông Đuống là sông thứ 2 của Hà Nội, tách ra khỏi sông
Hồng từ ngã ba Xuân Canh( xã Xuân Canh, Đông Anh)rồi qua xã Yên Thường cắt
quốc lộ 1A ở Cầu Đuống, qua đất Gia Lâm 17 km rồi sang đất Bắc Ninh. Ngoài hai
con sông lớn đó, đất Hà Nội còn có nhiều dòng chảy khác, tuy nhỏ và ngắn song gắn
chặt với lịch sử Hà Nội. Đó là sông Tô Lịch, gấn với sự hình thành Hà Nội từ hơn 1.
500năm trước. Dòng chảy cũ liền ở đàu phố chợ Gạo đã bị lấp từ đầu thế kỷ 20, nay
chỉ con đoạn chảy giữa phố Thuỵ Khuê-Hoàng Hoa Thám chợ Bưỏi rồi chảy ngoặt
về phía nam Cầu Giấy, Ngã Tư Sở xuôi về Cầu Bươu, hợp với sông Nhuệ, sông
Nghĩa Trụ, sông Cheo Reo, Ngũ Huyện Giang, sông Kim Ngưu. Đầm hồ ở Hà Nội
cũng nhiều, lớn như Hồ Tây, nhỏ như Hồ Hoàn Kiếm, hồ Thủ Lệ, hồ Bảy Mẫu, đầm
Vân Trì. . . chính những lợi thế dư địa chí đã tạo cho Hà Nội có một khả năng giao
lưu trong nước và bạn bè thế giới. Hà Nội xưa và nay xứng đáng là trung tâm của cả
lượt tăng trên 5 lần so với năm 1990. Thị trường khách đã có sự tham gia của Pháp,
Nhật Bản, Đoài Loan. . . Ngành Du lịch Hà Nội đã có cơ hội tạo chuyển biến mới trên
đà phát triển. Một số doanh nghiệp lớn được thành lập, một số doanh nghiệp của trung
ương được tập trung về Hà Nội. Trước nhu cầu thị trường về khách sạn đạt tiêu
chuẩn về quốc tế tăng lên, một loạt các khách sạn liên doanh vốn nước ngoài được kí
kết xây dựng. Thành uỷ, UBND Thành phố cho phép tư nhân đầu tư xây dựng một hệ
thống khách sạn mini với qui mô không lơn về phòng, nhưng chất lưọng tốt, khá đầy
đủ các dịch vụ phục vụ cho chiến lược mở cửa của đất nước. Đáp ứng yêu cầu của
quản lý nhà nước trong lĩnh vực hoạt động du lịch trên con đường đổi mới, Sở Du lịch
Hà Nội được thành lập theo Quyết định số 1216/QĐ-UB ngày 21/6/1994 của UBND
TP. Hà Nội.
Giai đoạn từ năm 2000trở lại đây là thời cơ thuận lợi cho các ngành Du lịch.
kinh tế khu vực được phục hồi mạnh mẽ, thị trường khách du lịch Đông Nam A, Hàn
Quốc, Nhật Bản. . . đã khôi phục và phát triển nhanh. Thực hiện chủ trương của đảng
và nhà nước, chính quyền và nhân dân Hà Nội đã nỗ lực xây dựng và hoàng thiện các
cơ sở vật chất phục vụ phát triển Du lịch Thủ Đô. Hàng năm, Hà Nội đã đầu tư hàng
trăm triệu USD để nâng cấp và hoàn thiện hệ thống thông tin liên lạc hiện đại đạt tiêu
chuẩn quốc tế; hệ thống giao thông trong thành phố và kết nối tới các điểm du lịch;
xây dựng và cải tạo hệ thống cấp điện, chiếu sáng; hợp tác với Nhật Bản, Phần lan,
Ngân hàng thế giới (WB)xây dựng hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước. . . Thành
phố Hà Nội thu hút được trên 400 dự án liên doanh có vốn đầu tư khá lớn, riêng vốn
đầu tư cho du lịch là 10175 triệu USD. Cùng với việc phát triển hệ thống cơ sở hạ
tầng kỹ thuật, hệ thống dịch vụ cũng đã được phát triển cả về số lượng và chất lượng,
nhiều chương trình du lịch mới được ra đời, môi trường du lịch ngày càng được cải
thiện. Đặc biệt, Hà Nội có môi trường an ninh, an toàn tốt, do vậy du khách có thẻ yên
tâm tự do đi tham quan hay mua sắm hàng hoá. Hiện nay, Hà Nội có trên 500 khách
sạn với 10. 000 phòng đạt tiêu chuẩn quốc tế và số lượng khách sạn 5 sao lớn nhất
toàn quốc, hàng trăm hãng lữ hành, vận chuyển khách du lịch với các hướng dẫn viên
hiểu biết lịch sử văn hoá, thông thạo các ngôn ngữ Anh, Pháp, Nhật Bản, Trung
Quốc. . . hệ thống nhà hàng không chỉ đơn thuần phục vụ các món ăn thông thường
năm sau nhiều hơn năm trước và đều vượt chỉ tiêu kế hoạch được giao. Lượng khách
đến du lịch Hà Nội ngày càng nhiều, ngày khách lưu trú cũng như ngày khách lữ hành
đều tăng. Đó là kết quả của công tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, các sản phẩm du
lịch trên địa bàn Hà Nội cùng với công tác tuyên truyền quảng bá sâu rộng của ngành
Du lịch Thử đô.
Ngành Du lịch Hà Nội đã chủ động xây dựng qui hoạch, kế hoạch và phương
hướng phấn đấu đến những năm 2010-2020 sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của
Thủ đô.
14
Page | 15
Đinh Thanh Hải
Trải qua ba giai đoạn phát triển, có thể nói ngành Du lịch Hà Nội đã có vị thế
đặc biệt quan trọng trong phạm vi quốc gia và khu vực, năng lực cạnh tranh cũng từng
bước nâng lên. Các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực du lịch tăng
mạnh, trong đó doanh nghiệp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp chiếm số lượng đông
đảo. Các doanh nghiệp du lịch đã phát huy tinh thần tự chủ, năng động, sáng tạo trong
kinh doanh, tạo thêm việc làm cho hàng vạn lao động và tăng nguồn thu, đóng góp
đáng kể cho ngân sách nhà nứơc.
Để thúc đẩy sự phát triển kinh tế Du lịch Hà Nội theo hướng CNH-HĐH trong
thời gian tới, chúng ta có một số giải pháp như sau :
Tập trung đầu tư nâng cấp, cải tạo các khu chơi, giải trí, khu du lịch săn có, đẩy
nhanh tiến độ xây dựng các khu mới nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch phong phú, đa
dạng để thu hút du khách đén Hà Nội nhiều hơn, lâu hơn.
Cùng với Tổng cục Du lịch, Ban Chi đạo phát triển Du lịch Hà Nội, Sở Du lịch
Hà Nội phải là cơ quan chủ chốt thực hiện công tác quảng bá cho Du lịch Hà Nội, góp
phần tạo lập quan hệ, khơi nguồn khách. Công tác tuyên truyền quảng bá găn liền với
chương trình kỷ niện 1000 năm Thăng Long-Hà Nội và hoà nhập vứi xu hướng phát
triển du lịch thế giới trong thế kỷ 21.
Con người là yếu tố quyết định đối với chất lượng dịch vụ du lịch. Do vậy, các
doanh nghiệp phải thường xuyên tổ chức các đột đào tạo dài hạn, ngắn hạn nhăm cập
bắc trung tõm thành phố Hà Nội.
éặc điểm: Hồ Tõy cú diện tớch rộng hơn 500ha với một bề dày lịch sử mấy
nghỡn năm. Đường vũng quanh hồ dài tới 17km. Ngành địa lý lịch sử đó chứng minh
rằng hồ Tõy là một đoạn sụng Hồng cũ cũn rớt lại sau khi sụng đó đổi dũng. . . Cú thể
do sụng hồ biến đổi như vậy mà đó xuất hiện nhiều truyền thuyết về hồ và tờn gọi của
hồ. Vớ như theo truyện "Hồ Tinh" thỡ cú tờn là hồ (hoặc đầm) Xỏc Cỏo, vỡ truyện kể
là cú một con cỏo chớn đuụi ẩn nấp nơi đõy làm hại dõn. Long Quõn mới dõng nước
lờn phỏ hang cỏo, hang sập thành ra hồ. Theo truyện "Khổng lồ đỳc chuụng" thỡ hồ
lại cú tờn là Trõu Vàng. Truyện kể rằng cú ụng khổng lồ cú tài thu hết đồng đen của
phương bắc đem đỳc thành chuụng. Khi thỉnh chuụng, tiếng vang sang bờn phương
bắc. Vỡ đồng đen là mẹ vàng nờn con trõu vàng phương Bắc nghe tiếng chuụng liền
vựng đi tỡm mẹ. Tới đõy nú quần mói đất, khiến sụt thành hồ. Theo thư tịch thỡ thế
kỷ 11, hồ này đi vào lịch sử với tờn là Dõm Đàm (Đầm mự sương), tới thế kỷ 15 thỡ
đó gọi là Tõy Hồ. Hồ cũn cú tờn là Lóng Bạc, trựng với tờn nơi diễn ra những trận
đỏnh ỏc liệt giữa quõn của Hai Bà Trưng và quõn Hỏn ở vựng Tiờn Sơn tỉnh Bắc
Ninh.
Hồ Tõy từ lõu lắm đó là thắng cảnh. Thời Lý - Trần, cỏc vua chỳa lập quanh hồ
nhiều cung điện làm nơi nghỉ mỏt, giải trớ, như cung Thỳy Hoa thời Lý, điện Hàm
Nguyờn thời Trần nay là khu chựa Trấn Quốc, cung Từ Hoa thời Lý nay là khu chựa
Kim Liờn, điện Thuỵ Chương thời Lờ nay là khu trường Chu Văn An. . . Những ngày
súng yờn giú lặng, chơi thuyền Hồ Tõy là một thỳ tao nhó. Nếu làm một cuộc đi dạo
quanh hồ thỡ đồng thời cũng được thăm khỏ nhiều di tớch và thắng cảnh. Làng Nghi
Tàm, quờ hương nhà thơ "Bà huyện Thanh Quan" với chựa Kim Liờn cú kiến trỳc
độc đỏo; làng Nhật Tõn nguồn hoa đào mỗi độ xuõn về, tương truyền là nơi Lạc Thị
16
Page | 17
Đinh Thanh Hải
đời Hồng Bàng sinh ra một bọc trứng nở thành bảy con rồng. Rồi làng Xuõn Tảo với
đền Súc thờ Thỏnh Giúng, làng Trớch Sài cú chựa Thiờn Niờn thờ bà tổ nghề dệt lĩnh,
sang làng Kẻ Bưởi cú nghề làm giấy cổ truyền và đền Đồng Cổ nơi bỏch quan hội thề
lỏnh trờn mặt nước mà cũn là nơi nhõn dõn thủ đụ lui tới để xem phỏo hoa nhõn
những ngày hội lớn của dõn tộc như 19/8 và 2/9.
17
Page | 18
Đinh Thanh Hải
2. 3 Tác động của du lịch tới môi trương trên địa bàn Hà Nội hiện nay.
Hà Nội ngày nay với khoảng hơn 2 triệu dân cư, được tập trung tù khăp mọi
miền đất nước về đây làm ăn sinh sống. Cho nên Hà Nội ngày càng nhiều phương tiện
giao thông, mày móc và các công trình kiến trúc mọc lên để thoả mãn nhu cầu hiện
đại hoá của xã hội. Diện tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, sông ngòi thì bị ô
nhiễm, hàng ngày với lượng chất thải sinh hoạt thải ra, nguy cơ ô nhiễm nặng. Vấn đề
nổi côm hiện nay Hà Nội đó là tình trạng ô nhiễm nguồn nước ở các sông, hồ và các
mạch nước ngầm , chất thải rắn. . .
Hà Nội nằm hai bên bờ sông Hồng, với hệ thống sông ngòi như sông Kim
Ngưu, sông Nhuệ, sông Nghĩa Trụ. . . và một số đầm hồ là hệ thống điều tiết sinh
quyển cho cả thành phố. Vậy mà hiện nay đang phải chịu một tình trạng, dồng nước
đen ngòm với bao nhiêu là rác rưởi do sinh hoạt, do chất thải từ các nhà máy, mà
trong đó có cả hoạt động du lịch. Hiện nay, Hệ thống sông thoát nước gồm 4 con sông
thoát nước chíng là sông Lừ, Sét, Tô Lịch và sông Kim Ngưu, với tổng chiều dài 36, 8
km, dẫn toàn bộ nước thải và nước mưa của thành phố vào sông Nhuệ qua đập Thanh
Liệt với lưu lượng tiêu là 30m3/s. Nhưng các song này hiện nay cũng bị bồi lắng, thu
hệp mặt cắt ở nhiều đoạn do cầu cống và xây dựng lấn chiếm. Giờ đây Hà Nội chỉ còn
20 hồ với tổng diện tích mặt nước khoảng 592 ha. Hệ thống hồ điều hoà bị giảm dần
chức năng do bị bồi lắng, san lấp để xây dựng. Dung tích hữu ích của các hồ giảm
xuống một cách đáng kể. Trong 4 con sông thoát nước ở Hà Nội, sông Kim Ngưu là
sông chịu tải trọng chất bẩn lớn nhất và có độ nhiễm bẩn lớn nhất. Theo chiều dài
sông, có 14 cửa xả nước thải vào đó với hàm lượng chất lơ lửng từ 150 -220 mg/l ;
BOD từ 50-140 mg /l ; NH4+ từ 19, 6 -26mg/l.
Thuộc loại oligoxaprophit. Hồ Tõy cú diện Mặt khỏc do khụng cú hệ thống xử
lý nứoc thải, nờn mụi trường nước bị ụ nhiễm nặng nề. Cỏc thụng số BODS ở sụng,
+ từ 5-15mg/l. Đầu tiờn, cỏc hồ nước cần
phải cứu vỡ bị rỏc, nước thải làm ụ nhiễm. Hồ Bảy Mẫu trong cụng viờn Lờ Nin đang
bị ụ nhiễm nghiờm trọng. Nước hồ đục đặc lại, cỏ chết nổi dập dềnh. Mựi ụ uế làm
cho ai đến với cụng viờn Lờ Nin hẳn phải thất vọng vụ cựng. Cỏc hồ khỏc tuy khụng
đến nỗi như thế song lại cú nỗi khổ khỏc. Hồ nào mà càng cú nhiều hộ dõn ở bờn thỡ
càng cú nguy cơ bị thu hẹp đến bất ngờ. Như phự thuỷ vậy, sau một đờm nhà rộng ra
vài m2 cũn hồ thỡ bộ lại. Chỉ sau một vài thỏng trở lại một quỏn ăn ở Phủ Tõy Hồ, tụi
thật sự ngỡ ngàng vỡ sự “mở mang bờ cừi” của chủ quỏn này. Mặt bằng lấn được từ
hồ rất rộng. Đó thế, cũn cầu cọc đang hiờn ngang đợi…tiếp tục lấn chiếm của chủ
quỏn. Hồ Hào Nam cũng ở trong tỡnh trạng này. Mấy hộ dõn ở gần đú giữ khụng cho
người khỏc đổ xuống dự một xụ rỏc nhưng đến đờm thỡ kĩu kịt đổ đất, đổ trạc để lấn
hồ. Thế là tỡnh trạng “đất cú thổ cụng, sụng hồ cú…dõn cạnh đú lấn chiếm” vẫn diễn
ra khụng gỡ ngăn nổi. Chớnh quyền phường chẳng lẽ bú tay vỡ dễ gỡ canh giữ về
đờm và moi đất khỏi nước (?) Và nghiờm trọng tột cựng khi lấn chiếm, lấp hồ lại
chớnh là cỏn bộ trong cỏc cơ quan tư phỏp và chớnh quyền sở tại.
Một phần Hồ Tõy và toàn bộ hồ Trỳc Bạch, hồ Thuyền Quang bị hàng quỏn
thương mại hoỏ. Người ta cũn coi hồ nước là nơi đổ rỏc và trỳt nước thải, là quỹ đất
gia đỡnh, là nơi bỏn hàng cơ động.
Tiếng kờu thầm lặng, mỏi mũn của những hồ nước tại Thủ đụ khụng thấu đến
đõu chăng mà tỡnh tỡnh mói khụng sỏng sủa hơn(!) Những cỏi hồ nếu may mắn được
kố lại thỡ gặp hoạ bị chiếm bờ hồ để kinh doanh rổi xả rỏc và nước thải trực tiếp
xuống nước làm cỏ chết, nước hụi tanh. Thế rồi biết đõu sẽ đến lỳc người ta sẽ lại bàn
19
Page | 20
Đinh Thanh Hải
về một dự ỏn tốn kộm và rất trời ơi như “thay nước Hồ Tõy”. Dự ỏn trờn trời và thực
tế dưới nước rất bất cập. Vậy là những cỏi hồ bị ốm, những cỏi hồ bị teo lại đến chết,
những cỏi hồ than thở giữa lũng Thủ đụ.
Tốc độ phỏt triển dõn số đụ thị hoỏ nhanh khiến tỡnh trạng lấn chiếm lũng
sụng, hồ làm nhà ở ngày một nhiều. Vụ hỡnh chung người dõn đó tự huỷ hoại mụi
đồng thời làm giảm thể tớch rỏc xuống cũn rất thấp. Tuy nhiờn sau cỏc quỏ trỡnh xử
lý vẫn cũn một lượng rỏc khụng thể xử lý hoặc tỏi sinh và cần được đổ bỏ, quản lý.
20
Page | 21
Đinh Thanh Hải
Cụng ty Mụi trường Đụ thị (URENCO) trực thuộc Sở Giao thụng Cụng chớnh Hà Nội
là cơ quan chịu trỏch nhiệm quản lý toàn bộ chất thải rắn của thành phố với cỏc chức
năng và nhiệm vụ sau :
* Tổ chức thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải* Thực hiện cỏc dịch vụ vệ sinh
mụi trường khỏc* Chế tạo, sửa chữa cỏc thiết bị chuyờn ngànhURENCO thu gom
được khoảng 75% tổng chất thải sinh hoạt hàng ngày (từ nhà dõn, cỏc cơ quan, trường
học, cỏc khu du lịch, chợ, đường phố và cụng viờn v. v. ) - khoảng 1. 100 - 1. 200
T/ngày. Phần cũn lại được thu gom bởi những người thu đồng nỏt nhằm tỏi chế, nhõn
dõn tự đổ ra hồ, ao, bờ sụng, ven đờ và được thu gom qua cỏc thời kỳ tổng vệ sinh.
Toàn bộ lượng chất thải sinh hoạt này được chở lờn bói chụn lấp Nam Sơn, S úc Sơn.
Khu liờn hợp Xử lý Chất thải Nam Sơn, Súc Sơn, Hà Nội được xõy dựng trờn
khu vực xó Nam Sơn, huyện Súc Sơn, cỏch trung tõm Hà Nội 45 km về phớa Bắc,
cỏch sõn bay Nội Bài 15km về phớa Đụng Bắc. Diện tớch quy hoạch cho Khu liờn
hợp là khoảng 100ha trong đú 60 ha dành cho khu chụn lấp rỏc thải (giai đoạn I là 13,
5ha), 6 ha cho trạm xử lý đốt rỏc thải với cụng suất dự kiến 200. 000 tấn/năm, 7, 5 ha
dành cho nhà mỏy chế biến phõn vi sinh (compost) với cụng suất dự kiến đạt 250. 000
tấn/năm và cỏc cụng trỡnh phụ trợ khỏc như trạm xử lý nước rỏc, trạm bơm, cấp
nước. . . Thành phố Hà Nội là một trong những thành phố đầu tiờn ở Việt Nam quan
tõm đến bảo vệ mụi trường ở cỏc khu chụn lấp rỏc. Xõy dựng Khu liờn hợp xử lý chất
thải tại Nam Sơn, Súc Sơn, Hà Nội trong đú sẽ cú Bói chụn lấp hợp vệ sinh là một
giải phỏp kỹ thuật lớn trong việc giải quyết chất thải đụ thị. Cụng tỏc thiết kế hợp lý
và đỳng kỹ thuật bói chụn lấp, việc xõy dựng trạm xử lý nước rỏc sẽ làm giảm tới
mức tối thiểu mức độ gõy ụ nhiễm, phục vụ cho hoạt động ổn định của bói chụn lấp. .
Được biết, trong thời gian tới Hà Nội sẽ triển khai kế hoạch xõy dựng 7 vựng nước xử
lý nước thải ở Hồ Tõy, Đống Đa, Thanh Trỡ… với kinh phớ khoảng 200 triệu USD.
hoạt và đa dạng: đối với đối tượng là người dõn địa phương: Phải chọn cỏc phương
phỏp giỏo dục, truyền thụng hướng tới cộng đồng, bao gồm: Phương tiện thụng tin đại
chỳng ( đài phỏt thanh, truyền thanh, bỏo tường, bảng tin nơi cụng cộng, thi viết,
thơ, nghệ thuật về một số vấn đề mụi trường. . . ); thuyết trỡnh cú thiết bị nghe nhỡn
( đốn chiếu, phim và video); giao tiếp giữa mọi người, thảo luận tổ dõn phố, biểu diễn
ca nhạc, mỳa rối, kịch, kể chuyện. . . ;sinh hoạt cõu lạc bộ với cỏc tờn hấp dẫn ( Cõu
lạc bộ Bảo tồn, Sao la, Hổ. . . ); tổ chức tuyờn truyền giỏo dục mụi trường nhõn dịp
cỏc sự kiện đặc biệt như: lễ hội, phong trào thể thao, Ngày Mụi trường thế giới, Ngày
Đa dạng sinh học. . . ; và cỏc phương tiện hướng tới cộng đồng khỏc như ỏp phớch,
ỏo phụng, dõy đeo chỡa khoỏ, lịch, tem thư. . .
Đối với học sinh, sinh viờn: Tuỳ theo đối tượng mà cú thể chọn và ỏp dụng cỏc
hỡnh thức: Lồng ghộp chương trỡnh GDMT vào cỏc mụn học, đưa vào chương trỡnh
giỏo dục chớnh khúamụn Đạo đức mụi trường; biờn soạn giỏo trỡnh GDMT và tài
liệu tham khảo cho giỏo viờn cỏc cấp, tổ chức đi thăm quan thực tế ở cỏc khu du lịch
22
Page | 23
Đinh Thanh Hải
thi ờn nhiờn ; tổ chức cỏc Cõu lạc bộ xanh, cõu lạc bộ bảo tồn. . . ); tổ chức cỏc cuộc
thi sỏng tỏc văn, thơ, kịch, vẽ. . . về mụi trường; tổ chức biểu diễn văn nghệ, ca
nhạc. . . mang nhiều nội dung bảo vệ mụi trường. Đối với khỏch du lịch: Phương thức
phổ biến hiện nay là diễn giải mụi trường - đú là quỏ trỡnh chuyển từ một ngụn ngữ
chuyờn ngành khoa học tự nhiờn hoặc một lĩnh vực liờn quan sang dạng ngụn ngữ và
ý tưởng mà những người bỡnh thường, khụng làm cụng tỏc khoa học cũng cú thể hiểu
được.
Cần phải qui hoạch phỏt triển du lịch sinh thỏi, xõy dựng trung tõm diễn giải
mụi trường, xõy dựng chương trỡnh diễn giải mụi trường, đào tạo cỏn bộ diễn giải
mụi trường, xõy dựng đường mũn thiờn nhiờn, làm bảng chỉ dẫn cỏc tuyến thăm
quan, tờ rơi, tờ gấp và cỏc sỏch hướng dẫn du lịch.
Việc sử dụng cỏc nguồn năng lượng mới như giú, ỏnh sỏng mặt trời, khớ sinh
học sẽ khụng những giảm chi phớ cho cỏc khu du lịch mà cũn làm giảm lượng tiờu
tồn thiờn nhiờn. Bờn cạnh cỏc phương tiện và phương phỏp giỏo dục đó nờu trờn thỡ
sự tham gia của đài truyền hỡnh, phỏt thanh trung ương và địa phương vào cụng tỏc
giỏo dục, truyền thụng mụi trường, và phổ biến tuyờn truyền cỏc văn bản phỏp luật
cũng mang lại nhiều kết quả.
3. 2 Thu gom rỏc thải và cải tạo tỡnh trạng ụ nhiờm nước hồ.
Cỏc cơ quan quản lý chủ động đầu tư trang thiết bị chuyờn dụng để tổ chức thu
gom rỏc thải tại những điểm du lịch. Đặt cỏc thựng rỏc tại nơi hợp lý, nhất là cỏc
cụng viờn, khu vui chơi giải trớ. Đồng thời phải cú biển cấm vứt rỏc bừa bói, thành
lập đội thu gom rỏc thải trờn cỏc phương tiện chuyờn dụng. Tổ chức cỏc tuần lễ du
lịch xanh nhằm khuyết khớch dõn cư và khỏch du lịch cựng bảo vệ mụi trường. Đưa
cỏc biện phỏp xử lý rỏc thải sinh học như ủ phõn vi sinh, sử dụng tỳi ủ Biogỏ bằng
chất deo, tận dụng bó rắn làm chất đốt, làm thức ăn cho gia sỳc …Đồng thời phải cải
thiện nguồn nước, đặc biệt là nguồn nước hồ. Cần phải thực hiện cỏc giải phỏp sau
đõy :
- Nạo vột định kỳ hồ. Hiện nay lượng bựn căn trong hồ quỏ lớn và mật độ chất
lơ lửng tương đối lơn. Cho nờn nạo vột hồ sẽ giải quyết được một lượng lớn bựn cắn
hữu cơ, bựn, cỏt và cỏc kim loại nặng tớch tụ ở đỏy, đồng thời tăng dung tớch của hồ,
bảo đảm khả năng điều hoà, nước về mựa mưa và khả năng làm sạch về mựa khụ của
hồ.
- Tỏch nước mưa đợt đầu ra khỏi hồ. cần xõy dựng hệ thống cống xung quanh
hồ để dẫn nước thải. Tại cỏc cống bao cần xõy dựng cỏc giếng tỏch nước thải và nứoc
mưa đợt đầu. Để đảm bảo đời sống của cỏc thuỷ sinh vật, đặc biệt là cỏc nuụi trong
hồ, hàm lượng oxy hoà tan là yếu tố tiờn quyết. Ngoài hai biện phỏp cơ bản để cải tạo
nước hồ đó nờu ở trờn, cần phải thực hiện cỏc biện phỏp làm giàu oxy cho nước hồ :
khuấy nước trong hồ bằng tàu thuyền, trũ chơi trờn mặt nước như thuyền đạp nước,
hệ thống vũi phun nước …Tăng cường chế độ động trong hồ bằng cỏch bơm tuần
hoàn nước từ cuối hồ về đầu hồ, kết hợp với hệ thống vũi phun nước xung quanh hồ.
Xử lý nước thải sinh hoạt trước khi đổ ra sụng, hồ …nhằm hạn chế độ ụ nhiễm của
lượng nước ngầm hiện nay ở cỏc sụng hồ Hà Nội núi riờng và ở Việt Nam núi chung.
3. 3 Xõy dựng hành lang phỏp lý và kiểm tra vử lý vi phạm.
Trỏch nhiệm của Bộ tài nguyờn và mụi trường như chủ trỡ hoặc phối hợp với
tổng cục du lịch soạn thảo và ban hành tiờu chuẩn chất lượng mụi trường du lịch Việt
Nam, tạo cơ sở phỏp lý cho việc quản lý nhà nước về bảo vệ mụi trường trong lĩnh
vực du lịch. Hướng dẫn cỏc sở du lịch tài nguyờn và mụi trường, sở quản lý về du lịch
xõy dựng và trỡnh cơ quan nhà nước cú thẩm quyền ban hành cỏc quy định về bảo vệ
mụi trường trong lĩnh vực du lịch ở địa phương và triển khai cỏc hoạt động bảo vệ
mụi trường du lịch. Hướng dẫn tổng cục du lịch, uỷ ban nhõn dõn cỏc tỉnh, thành phố
25