Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
––––––––––––––––––––
VŨ CAO TOẠI
QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO HỌC SINH
Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ BẮC NINH LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC THÁI NGUYÊN - 2014
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới PGS.TS. Nguyễn Bá
Dương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn, các thày cô
giáo, các cán bộ công nhân viên Trường Đại học Sư phạm – Đại học Thái
Nguyên đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình học
tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo và chuyên viên Sở Giáo dục và Đào
tạo Bắc Ninh, Ban Giám hiệu, tập thể cán bộ giáo viên và học sinh các trường
THPT trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh đã động viên giúp đỡ, tạo điều kiện và
hợp tác giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu
sót, tác giả kính mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy cô giáo, các
chuyên gia và các bạn đồng nghiệp.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 4 năm 2014
Tác giả
Vũ Cao Toại
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu
nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa
1.2.4. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục pháp luật 17
1.2.5. Khái niệm về các lực lượng giáo dục 22
1.3. Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh THPT 23
1.3.1. Mô hình quá trình quản lý GDPL 23
1.3.2. Mục tiêu GDPL 24
1.3.3. Nội dung quản lý GDPL cho học sinh THPT 24
1.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc GDPL cho học sinh THPT 25
1.4.1. Đặc điểm của học sinh THPT 25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
1.4.2. Yếu tố gia đình 29
1.4.3. Yếu tố nhà trường 30
1.4.4. Yếu tố xã hội 30
Kết luận chương 1 31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO
HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ BẮC NINH (Giai đoạn 2010-2013) 32
2.1. Khái quát về tình hình giáo dục, giáo dục đạo đức và pháp luật cho học
sinh THPT ở Thành phố Bắc Ninh 32
2.1.1. Về tình hình giáo dục 32
2.1.2. Thực trạng về đạo đức của học sinh THPT ở Thành phố Bắc Ninh
hiện nay 34
2.1.3. Thực trạng giáo dục pháp luật cho học sinh 35
2.2. Thực trạng công tác quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các
trường THPT trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh 40
2.2.1. Thực trạng về nhận thức công tác GDPL cho học sinh 40
2.2.2. Thực trạng về xây dựng kế hoạch GDPL 43
2.2.3. Thực trạng về tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch GDPL 43
3.2.5. Nâng cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện về ý thức pháp luật của bản
thân học sinh 74
3.2.6. Thường xuyên kiểm tra, đánh giá công tác GDPL cho học sinh; biểu
dương kịp thời các gương người tốt việc tốt 75
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp 76
3.4. Thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 77
3.4.1. Mục đích, nội dung, cách thức thăm dò 77
3.4.2. Kết quả thăm dò tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 77
Kết luận chương 3 80
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 81
1. Kết luận 81
2. Khuyến nghị 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 86
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL : Cán bộ quản lý
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
CNCS : Chủ nghĩa Cộng sản
CNXH : Chủ nghĩa xã hội
GD : Giáo dục
GDPL : Giáo dục pháp luật
GDCD : Giáo dục công dân
GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo
HS : Học sinh
THCS : Trung học cơ sở
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền - Nhà nước của dân,
do dân và vì dân, đảm bảo Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật là một trong
những mục tiêu cơ bản của Đảng ta. Vì vậy việc trang bị tri thức pháp luật,
hình thành ý thức pháp luật để phát triển toàn diện nhân cách con người, tìm tòi
các biện pháp tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật để đạt hiệu quả cao là
một trong những nhiệm vụ cấp thiết của các cấp ủy Đảng, chính quyền, đặc biệt
là nhiệm vụ của các cơ sở giáo dục và đào tạo, các nhà trường phổ thông.
Đối với các em học sinh, ý thức tuân thủ pháp luật và sự hiểu biết pháp
luật là một nội dung quan trọng hình thành nên nhân cách. Trong nhà trường,
cùng với kiến thức văn hóa, kiến thức pháp luật giúp các em nâng cao hiểu biết
và dần dần có thói quen tự giác tuân thủ các quy định của pháp luật, biết thực
hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, quyền lợi của công dân, xây dựng một môi trường
xã hội có kỷ cương, nề nếp “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật”.
Trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội, Đảng ta đã xác định “Giáo dục
và đào tạo là quốc sách hàng đầu” nhằm đào tạo lớp người mới làm chủ tương
lai của đất nước. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII chỉ rõ: Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục Việt Nam là
nhằm xây dựng những con người mới có đầy đủ phẩm chất, năng lực, trí tuệ,
sức khỏe, có tính tổ chức kỷ luật để kế thừa xây dựng đất nước.
Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, một số nhà trường phổ thông chỉ
coi trọng việc “dạy chữ” phục vụ cho thi cử, ít quan tâm đến việc giáo dục đạo
đức, ý thức công dân và trang bị kiến thức pháp luật. Mặc dù chương trình môn
GDCD (có nội dung GDPL) đã trở thành môn học chính khóa từ năm học
sống xã hội thì những tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, sự phát triển
mạnh của công nghệ thông tin cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển
nhân cách, đạo đức, ý thức pháp luật của học sinh các trường phổ thông. Các
phim ảnh bạo lực, phim sex, văn hóa phẩm đồi trụy, nạn cờ bạc, ma túy, mại
dâm, trộm cắp, số đề, những thông tin độc hại trên mạng Internet… đang từng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
bước tấn công tuổi trẻ và xâm nhập vào các nhà trường. Đã có không ít học
sinh THPT không làm chủ được bản thân đã bị lôi kéo, sa ngã vào các tệ nạn xã
hội dẫn đến sa sút về đạo đức, yếu kém về học tập hoặc có hành vi vi phạm
pháp luật phải bỏ học. Số trẻ em nhất là học sinh THPT vi phạm pháp luật ngày
càng làm vẩn đục môi trường văn hóa trong nhà trường, cảnh báo về những yếu
kém bất cập trong công tác giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật của nhà
trường phổ thông hiện nay. Các trường phổ thông nói chung, trường THPT ở
Thành phố Bắc Ninh nói riêng, đã ý thức được điều đó và đang đẩy mạnh các
hoạt động GDPL để trang bị kiến thức, giáo dục hành vi cho học sinh, ngăn
chặn các tác động xấu xâm nhập vào học sinh và nhà trường. Tuy nhiên, hiện
nay việc tổ chức giáo dục còn nhiều hạn chế, nhà trường chưa có sự phối hợp
đồng bộ, thống nhất với các LLGD ngoài nhà trường, chưa huy động được tối
đa các lực lượng toàn xã hội tham gia nên việc GDPL trong nhà trường còn
mang tính lý thuyết, đơn lẻ, một chiều, hình thức. Kết quả GDPL chưa đáp ứng
được yêu cầu đặt ra.
Qua thực tiễn nhận thấy: GDPL cho học sinh THPT ở một thành phố trẻ,
giàu truyền thống văn hiến, cách mạng như Thành phố Bắc Ninh là một vấn đề
xã hội đồng thời cũng là một yêu cầu cấp thiết cần được nghiên cứu để thực
hiện có hiệu quả.
Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, chúng tôi lựa
chọn đề tài “Quản lý giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường Trung học
biện pháp quản lý GDPL cho học sinh THPT.
5.2. Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng GDPL và quản lý GDPL cho học
sinh ở các trường THPT trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh.
5.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý GDPL cho học sinh ở các trường THPT
trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh nhằm nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện của Thành phố.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu của đề tài
6.1. Giới hạn nghiên cứu
Biện pháp quản lý GDPL cho học sinh của 7 trường THPT trên địa bàn
Thành phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Nình.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
6.2. Địa bàn nghiên cứu
7 trường THPT trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh (THPT
Chuyên Bắc Ninh, THPT Hàm Long, THPT Hàn Thuyên, THPT Hoàng Quốc
Việt, THPT Lý Nhân Tông, THPT Lý Thường Kiệt và THPT Nguyễn Du).
6.3. Phạm vi thời gian
Đánh giá biện pháp quản lý GDPL cho học sinh THPT tại 7 trường
THPT trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh trong 3 năm học (từ năm học 2010-
2011 đến năm học 2012-2013) và đề xuất biện pháp quản lý GDPL cho học
sinh các trường THPT trên địa bàn Thành phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh cho
những năm tiếp theo.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
, văn bản liên
quan đến đề tài.
7.2. Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
Để tiến hành điều tra và nghiên cứu thực tiễn công tác quản lý GDPL ở
hóa trong các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban
hành và được bảo đảm cho pháp luật được thực hiện. Mục đích của pháp luật
trước hết là điều chỉnh các quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp trong xã hội
nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một “trật tự” phù hợp với ý chí
của giai cấp cầm quyền.
Một khi nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, một xã hội dựa trên pháp
luật, thì trong xã hội đó, mỗi công dân phải được trang bị đầy đủ những kiến
thức pháp luật cần thiết để suy nghĩ, hành động theo pháp luật.
Bằng con đường giáo dục, các tri thức khoa học đã đưa đến cho con người
mọi hiểu biết về tự nhiên, xã hội, kỹ thuật, công nghệ… để họ được phát triển
toàn diện, làm việc trong các ngành nghề của xã hội để nuôi sống họ và góp
phần xây dựng và bảo vệ đất nước. Tri thức pháp luật cũng vậy, muốn truyền
tải đến mọi người một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất tất yếu phải thông qua
con đường giáo dục.
Do vậy, công tác giáo dục pháp luật cho công dân nói chung, cho học sinh
phổ thông nói riêng là một việc làm vô cùng quan trọng kể cả trước mắt và lâu
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
dài. Ngày 09 tháng 12 năm 2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị số
32/CT-TW “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến giáo
dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân”,
trong đó nhấn mạnh: “Công tác phổ biến giáo dục pháp luật cần phải được coi
là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong việc tăng cường quản lý xã hội
bằng pháp luật và xác định rõ phổ biến giáo dục pháp luật là một bộ phận của
công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị
đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng”.
Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu: “Phát huy dân chủ, giữ vững kỷ
luật, kỷ cương, tăng cường pháp chế, quản lý xã hội bằng pháp luật, tuyên
pháp luật qua các hoạt động báo chí” luận văn thạc sĩ của Nguyễn Sỹ Hùng
năm 2003; cuốn “Vai trò của pháp luật trong quá trình hình thành nhân cách”
của TS. Nguyễn Đình Đặng Lục, xuất bản năm 2005.
Nhìn chung, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý luận sự
cần thiết phải quan tâm đến vấn đề GDPL cho công dân nói chung, học sinh
phổ thông nói riêng; còn các công trình, đề tài nghiên cứu nêu các nội dung,
biện pháp hình thức tổ chức GDPL để áp dụng trong các trường THPT nhằm
đạt kết quả tốt nhất thì chưa được quan tâm nghiên cứu một các cụ thể, đầy đủ
để có thể thực hiện có hiệu quả cao, đặc biệt là để có thể áp dụng phù hợp trong
các trường THPT ở địa bàn Thành phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh. Do đó, chúng
tôi tập trung nghiên cứu các biện pháp của nhà trường để GDPL cho học sinh
các trường THPT ở thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh nhằm đổi mới, bổ sung
và hoàn thiện hệ thống các biện pháp GDPL cho học sinh trong nhà trường phổ
thông cho phù hợp với điều kiện hiện nay của Thành phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc
Ninh nói riêng cũng như của đất nước ta nói chung.
1.2. Một số khái niệm cơ bản
1.2.1. Khái niệm về pháp luật
1.2.1.1. Pháp luật là gì?
Cũng như Nhà nước, pháp luật là một hiện tượng xã hội có vị trí đặc biệt
quan trọng trong đời sống chính trị của xã hội có giai cấp, nó là công cụ sắc bén
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
9
để thực hiện quyền lực Nhà nước, duy trì địa vị và bảo vệ lợi ích của giai cấp
nắm quyền. Theo học thuyết Mác - Lênin, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và
phát triển trong xã hội có giai cấp.
Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, đã có một thời kỳ - thời
kỳ cộng sản nguyên thủy - không có Nhà nước và do vậy cũng không có pháp
luật. Ở thời kỳ này, con người sống chung và hưởng chung thành quả lao động
của giai cấp nắm quyền lãnh đạo và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội
nhằm tạo ra trật tự và ổn định trong xã hội.
Pháp luật XHCN Việt Nam là hệ thống các quy phạm do Nhà nước Việt
Nam, đại diện cho quyền lực của giai cấp công nhân liên minh với giai cấp
nông dân và tầng lớp trí thức đặt ra thể hiện ý chí, nguyện vọng và lợi ích của
giai cấp công nhân và nhân dân lao động, có tính chất bắt buộc chung đối với
toàn xã hội, nhằm điều chỉnh các mối quan hệ trong quá trình xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
1.2.1.2. Một số khái niệm có liên quan
- Ý thức pháp luật
Ý thức pháp luật là một hình thái ý thức xã hội được hình thành dưới sự
tác động của toàn bộ mọi mặt đời sống xã hội, thể hiện mối quan hệ của con
người với pháp luật, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp
trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt động của cơ
quan Nhà nước và các tổ chức xã hội.
- Quy phạm pháp luật
Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành và bảo
đảm thực hiện, thể hiện ý chí và bảo vệ lợi ích của giai cấp nắm quyền để điều
chỉnh các quan hệ xã hội.
- Vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp
luật và có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các
quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
11
- Trách nhiệm pháp lý
Trách nhiệm pháp lý được hiểu là sự phản ứng tiêu cực của Nhà nước đối với
1.2.3. Khái niệm giáo dục pháp luật và giáo dục pháp luật trong trường THPT
1.2.3.1. Khái niệm giáo dục pháp luật
Khái niệm GDPL cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau:
- Có quan niệm cho rằng, GDPL không phải là một bộ phận độc lập trong
hệ thống giáo dục ở trường phổ thông, nó là một bộ phận giáo dục chính trị tư
tưởng và giáo dục đạo đức. Một khi giáo dục chính trị tư tưởng và giáo dục đạo
đức được tiến hành tốt thì hiển nhiên sẽ có sự tôn trọng pháp luật ở mỗi người
công dân.
- Tuyên truyền, phổ biến hay giải thích pháp luật là công việc, nhiệm vụ
của cơ quan chuyên trách, của các phương tiện thông tin đại chúng, của bộ máy
tuyên truyền.
- Giáo dục pháp luật đồng nghĩa với dạy và học pháp luật ở các nhà
trường, còn việc tuyên truyền, phổ biến về pháp luật ở ngoài xã hội không phải
là giáo dục pháp luật.
- Cũng có quan niệm cho rằng: Không có khái niệm giáo dục pháp luật.
Bởi vì, pháp luật là quy tắc có tình bắt buộc chung, mọi người phải có nghĩa vụ
tuân theo, muốn hay không muốn cũng phải làm theo, do đó không cần đặt vấn
đề giáo dục pháp luật mà chỉ cần phổ biến pháp luật để mọi người tự tìm hiểu
và có cách xử sự cho đúng.
Xuất phát từ nhận thức bản thân pháp luật của Nhà nước đã có vai trò giáo
dục, mỗi quan niệm trên mới chỉ thấy GDPL ở một khía cạnh nào đó, chưa thấy
hết vai trò giáo dục chung của pháp luật đối với nhận thức và hành vi xã hội
của cá nhân.
Theo chúng tôi, khái niệm giáo dục pháp luật trước tiên phải được hiểu
theo nghĩa chung nhất đó là vấn đề giáo dục và tiếp đó là vấn đề pháp luật. Quá
trình hình thành ý thức con người là quá trình ảnh hưởng thống nhất của các
điều kiện khách quan và các nhân tố chủ quan, trong đó các điều kiện khách
quan đóng vai trò là những nhân tố ảnh hưởng, các nhân tố chủ quan đóng vai
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
truyền tải kiến thức pháp luật đến đối tượng, phải là hình mẫu trong việc tuân
theo pháp luật. Đặc biệt, chủ thể giáo dục phải có khả năng minh họa những
vấn đề xảy ra trong đời sống mà có ý nghĩa pháp lý dưới những thuật ngữ,
những nguyên tắc, những quy định pháp luật cụ thể. Nếu thiếu khả năng này, ở
chủ thể giáo dục mất đi ý nghĩa thiết thực của nó.
- Xét về vị trí, vai trò trong hệ thống giáo dục thì GDPL có vai trò chi phối
rất lớn đối với các dạng giáo dục chính trị-xã hội khác. Trong điều kiện xã hội
hiện nay nó là “tiêu chí” đánh giá trong nội dung một số môn học trừu tượng
như: Giáo dục thẩm mỹ, giáo dục đạo đức, giáo dục tâm lý… Chính vì vậy
“sức mạnh”, “khả năng” tác động của GDPL có ưu thế hơn so với ý thức thái
độ của đối tượng giáo dục. Điều này có ý nghĩa đối với đối tượng GDPL ở mọi
lứa tuổi. Đối với lứa tuổi chưa thành niên (tuổi học sinh THPT) và tuổi trưởng
thành, nếu có nhận thức đầy đủ về pháp luật như bản chất, giá trị, thuộc tính
của nó thì sự xuất hiện khả năng tự kìm chế hành vi (có hại, sai trái) sẽ lớn hơn.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra kết luận tương đối đầy đủ nhất về
GDPL như sau: GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của
chủ thể giáo dục thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau tác động
lên đối tượng giáo dục một cách hệ thống nhằm hình thành ở họ tri thức pháp
lý, tình cảm và hành vi phù hợp với pháp luật hiện hành, xây dựng lối sống
theo pháp luật.
Với khái niệm trên, GDPL không đơn thuần là sự tác động đơn giản nhất
thời mà là một loại hoạt động, một hệ thống các hoạt động có tổ chức với cấu
trúc đồng bộ của nó, bao gồm chủ thể, khách thể, đối tượng, nguyên tắc, mục
đích xác định.
1.2.3.2. Mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức GDPL cho học sinh THPT
* Mục tiêu GDPL:
- Vấn đề quyền, nghĩa vụ của công dân quy định trong Hiến pháp.
- Giáo dục ý thức pháp luật, đây là nội dung rất cơ bản.
* Phương pháp GDPL cho học sinh THPT:
Đây là hệ thống những cách thức tác động của nhà giáo dục tới học sinh đề
hình thành ở các em những tri thức, niềm tin, tình cảm, thái độ và thói quen
ứng xử, hành vi theo pháp luật.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
Thông thường người ta sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp thuyết phục
Đây là nhóm phương pháp tác động vào nhận thức, tình cảm của học sinh
để hình thành cho các em ý thức, thái độ tích cực với cuộc sống qua khuyên
giải, tranh luận, nêu gương.
- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động
Đưa học sinh vào các hoạt động thực tiễn, thông qua việc phân tích, xử lý
tình huống cụ thể để tập dượt, hình thành ở học sinh thái độ, hành vi và thói
quen tuân thủ pháp luật.
- Nhóm phương pháp kích thích hành vi
Là nhóm phương pháp tác động vào động cơ, tình cảm của học sinh nhằm
tạo nên tính tích cực hoạt động và khả năng điều chỉnh hành vi, khắc phục
những hạn chế, sai lệch trong hành vi pháp luật. Nhóm này gồm khen thưởng,
trách phạt, thi đua.
* Hình thức GDPL cho học sinh THPT:
Thực tiễn cho thấy tồn tại hai hình thức cơ bản sau:
- GDPL cho học sinh thông qua các môn học
Những nội dung GDPL cho học sinh THPT do Bộ GD&ĐT quy định về
các quyền và nghĩa vụ công dân và nâng cao nhận thức của học sinh về trách
nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo thực hiện các quyền của công dân