Lời nói đầu
Lịch sử của thị trờng chứng khoán gắn liền với quá trình hình thành và
phát triển của nền kinh tế thị trờng. ở nhiều nớc trên thế giới, thị trờng chứng
khoán đã xuất hiện hàng trăm năm nay. Đây cũng là lĩnh vực hoạt động hết sức
sôi động, nhạy cảm, có tác động mạnh mẽ tới toàn bộ hoạt động của đời sống
kinh tế - chính trị - xã hội ở cả cấp vĩ mô và vi mô trong phạm vi một quốc gia
nói riêng và cả toàn cầu nói chung. Bởi vậy, thị trờng chứng khoán không chỉ là
mối quan tâm chung của các nhà lãnh đạo, quản lý, các chủ doanh nghiệp, các
nhà đầu t, mà nó còn là mối quan tâm chung của mỗi gia đình cũng nh mỗi ngời
dân.
ở nớc ta, do nền kinh tế mới chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trờng
những năm gần đây nên sự sự ra đời của thị trờng chứng khoán hiện mới đang
trong giai đoạn chuẩn bị. Vì thế, thị trờng chứng khoán đối với chúng ta còn là
vấn đề hết sức mới mẻ.
Nội dung gồm:
Chơng I: Những vấn đề chung.
Chơng II: Các thị trờng chứng khoán lớn trên thế giới
Chơng III: Vấn đề xây dựng thị trờng chứng khoán tại Việt Nam
1
NộI DUNG
Chơng 1. Những vấn đề chung
I- Vai trò, chức năng của thị trờng chứng khoán
Với sự hình thành thị trờng chứng khoán, nền kinh tế quốc gia đã có
thêm một công cụ mới trong qui trình vận hành của nó. Những đóng góp của thị
trờng chứng khoán đối với nền kinh tế đợc thể hiện cụ thể trong những chức
năng sau đây:
1.1- Chức năng huy động vốn
Với sự xuất hiện của thị trờng chứng khoán, chúng ta dễ dàng nhận thấy
vai trò của nó trong việc huy động vốn cho đầu t, nó là một cánh cửa qua đó các
chính phủ, công ty và các tổ chức kinh tế có thể phát hành các trái phiếu và cổ
phiếu để huy động vốn cho sản xuất và kinh doanh. Trớc đây việc tìm ra nguồn
phiếu của công ty khác cùng lĩnh vực đầu t, có thể giá cổ phiếu và trái phiếu của
công ty này cao hơn của công ty khác. Điều đó thúc đẩy các công ty có giá cổ
phiếu hoặc trái phiếu hạ hoặc thấp hơn phải tự xem xét lại hoạt động của công
ty mình xem đã hiệu quả hay cha, từ đó phải liên tục tổ chức lại để năng cao
hiệu quả sản xuất nhằm cạnh tranh với các đối thủ trên thị trờng.
1.5- Chức năng thời biểu kinh tế
Các chỉ số chứng khoán đợc tạo ra bằng nhiều cách khác nhau nhằm
cung cấp những thông tin về tình trạng tốt hay xấu của thị trờng chứng khoán.
Tuy nhiên, chỉ số đó không chỉ phản ánh động thái của thị trờng chứng khoán.
Chỉ số chứng khoán tăng có nghĩa là giá trung bình các cổ phiếu tăng; giá cổ
phiếu tăng có nghĩa là tình trạng của nền kinh tế đang khích lệ. Bởi vì khi tình
trạng sản xuất của các công ty, các hãng sản xuất có cổ phiếu đợc tính trong chỉ
số chứng khoán đang phát đạt thì sẽ có nhiều ngời muốn mua cổ phiếu của các
công ty đó, hay nói cách khác là muốn đầu t vào lĩnh vực đó, cuối cùng khi nhu
3
cầu mua cổ phiếu đó tăng lên giá cả các cổ phiếu tăng và do đó chỉ số chứng
khoán tăng. Nh vậy, chỉ số chứng khoán theo lôgíc đó là một hàm thời biểu
phản ánh tình trạng của toàn bộ nền kinh tế.
1.6- Công cụ để hoà nhập vào nền kinh tế thế giới
Thị trờng chứng khoán đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền
kinh tế. Nó là một công cụ kinh tế nhờ đó ngời có thể huy động đợc những
nguồn vốn khác nhau cho đầu t. Với chức năng là một công cụ giúp cho việc di
chuyển đầu t nhanh chóng dễ dàng, nó đã góp phần hết sức quan trọng làm tăng
tính linh hoạt và tốc độ của quá trình vận hành của nền kinh tế. Đồng thời, qua
đó ngời ta có thể nhận biết đợc tình trạng của nền kinh tế và do đó có thể đa ra
những chính sách kinh tế kịp thời khắc phục những vấn đề đang đặt ra. Rõ ràng,
thị trờng chứng khoán có những u việt của nó và không thể thiếu đợc trong một
nền kinh tế hàng hoá phát triển.
II- Những khía cạnh tiêu cực của thị trờng chứng
khoán và vai trò của chính phủ
mua bán ở Sở Giao dịch chứng khoán.
Một thị trờng chứng khoán hoạt động ổn định, đảm bảo công bằng cho
các bên tham gia thị trờng là điều kiện tiên quyết để đảm bảo và phát huy các
chức năng và vai trò của nó trong nền kinh tế. Nói cách khác nhà nớc phải đóng
vai trò nh ngời trọng tài đa ra những quy chế và đạo luật quy định các hoạt động
của thị trờng chứng khoán để đảm bảo đợc việc đó.
III- Những yếu tố ảnh hởng đến thị trờng chứng
khoán.
5
Nh chúng ta đã thấy ở trên, chỉ riêng những tính toán gian lận của một
hay một vài công ty lớn tham gia thị trờng chứng khoán cũng có thể gây ra
những hỗn loạn cho thị trờng chứng khoán nh thế nào. Dới đây chỉ là một vài
yếu tố cơ bản tác động đến thị trờng chứng khoán mà thôi. Những yếu tố này về
cơ bản có thể chia ra làm ba loại: các yếu tố chính trị, các yếu tố kinh tế và các
yếu tố tâm lý.
3.1 Các yếu tố kinh tế.
Từ cuộc khủng hoảng 1929-1933, chúng ta đã thấy rõ tình hình chung
của nền kinh tế có ảnh hởng nh thế nào đến động thái của thị trờng chứng
khoán. Tuy nhiên, không chỉ có tình trạng chung của nền kinh tế mới có ảnh h-
ởng đến thị trờng chứng khoán. Tình trạng sản xuất của riêng một công ty lớn
cũng có thể gây ra những thay đổi trong giá cổ phiếu của nhiều công ty khác có
liên quan. Các yếu tố kinh tế vĩ mô có một ảnh hởng bao trùm lên hoạt động
của thị trờng chứng khoán. Chẳng hạn, tình trạng lạm phát gia tăng và khó kiểm
soát đa đến những thiệt hại trong nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau đồng thời tất
yếu sẽ dẫn đến tình trạng giá cổ phiếu sẽ có khuynh hớng giảm xuống. Mặt
khác, lạm phát cũng có ảnh hởng trực tiếp đến sự giảm giá các chứng khoán,
bởi vì giá mua lúc đó phải thấp hơn trong khi lãi tức từ các chứng khoán vẫn giữ
nguyên để bù lại những mất mát do lạm phát gây ra. Lãi suất ngân hàng là một
yếu tố kinh tế vĩ mô có ảnh hởng lớn đến giá cả chứng khoán. Khi lãi suất ngân
hàng tăng ngời đầu t đứng trớc một lựa chọn là tiếp tục đầu t vào chứng khoán
khi có một phán đoán nào đó về giá của các cổ phiếu và chứng khoán. Việc
không kiểm soát đợc hành vi bản thân các bên tham gia thị trờng là vấn đề nan
giải nhất trong việc tính toán kinh tế. Thờng yếu tố này luôn luôn gây ra tình
trạng biến động quá mức thực tế về giá cả cũng nh khối lợng mua bán cổ phiếu
và chứng khoán trên thị trờng. Bởi vì sự quá khích lệ hoặc quá lo âu về một
phán đoán nào đó sẽ làm cho giá cổ phiếu và chứng khoán tăng hoặc giảm quá
mức cân bằng cung cầu thực sự của nó. Chính đây là những biến động khó kiểm
7
soát nhất vì ngời ta không thể xác định đợc yếu tố tâm lý sẽ làm cho giá cả tăng
hoặc giảm đến mức nào.
Dới đây là mô hình cho thấy lôgíc tác động của các yếu tố vừa đợc trình
bầy tới thị trờng chứng khoán.
Qua mô hình đó chúng ta thấy các yếu tố kinh tế và chính trị một mặt
ảnh hởng trực tiếp đến thị trờng chứng khoán theo con đờng riêng, mặt khác
đồng thời ảnh hởng đến thị trờng chứng khoán thông qua con đờng các yếu tố
tâm lý. Mô hình cho thấy tính chất nhậy cảm của thị trờng chứng khoán, nghĩa
là những động thái của nó phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố tâm lý. Bản thân các
yếu tố kinh tế và chính trị là các yếu tố biến động, song chúng lại đợc khuyếch
Các yếu tố
kinh tế
Các yếu tố
chính trị
Các yếu tố
tâm lý
TT CK
8
Mô hình các yếu tố ảnh hởng đến thị trờng chứng khoán
đại bởi các yếu tố tâm lý. Điều đó giải thích tại sao thị trờng chứng khoán lại có
nhiều biến động đến thế.
IV- Quá trình quốc tế hoá thị trờng chứng khoán.
các nớc hoà nhập vào nền kinh tế thế giới.
* *
*
Tóm lại, về mặt lịch sử hình thành và phát triển của thị trờng chứng
khoán, có thể chia làm 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 là giai đoạn từ thế kỷ 15 và 16 đến cuối thế kỷ 19: trong đó
ngời ta mua bán chủ yếu các thơng phiếu và trái phiếu
- Giai đoạn 2 là từ cuối thế kỷ 19 với sự ra đời của công ty cổ phần, ngời
ta mua bán thêm một loại chứng khoàn khi đó chiếm u thế là cổ phiếu, đây là
giai đoạn có tính bùng nổ có tính cách mạng của thị trờng chứng khoán.
- Giai đoạn 3 kể từ cuối thập kỷ 70 tới nay là giai đoạn quốc tế hoá của
thị trờng chứng khoán.
Thị trờng chứng khoán rõ ràng đã đóng một vai trò hết sức quan trọng
trong nền kinh tế của mỗi quốc gia nói riêng và trong toàn bộ nền kinh tế thế
giới nói chung. Những mặt tiêu cực của nó nếu không đợc kiểm soát sẽ gây ra
những hậu quả không tốt cho nền kinh tế và xã hội. Kiểm soát các hoạt động
của thị trờng chứng khoán để hạn chế những tiêu cực của nó chính là nhiệm vụ
của chính phủ.
Xét về điều kiện hình thành thị trờng chứng khoán chúng ta thấy những
điều kiện tiên quyết cho sự hình thành thị trờng chứng khoán là:
Thứ nhất, phải có nhu cầu huy động vốn, điều kiện này có nói lúc nào
cũng sẵn sàng.
10
Thứ hai, thu nhập của dân c phải đến một mức độ nhất định làm nẩy sinh
nhu cầu đầu t trực tiếp của những ngời tiết kiệm.
Thứ ba, xuất hiện loại hàng hoá gọi là chứng khoán, trong đó cổ phiếu
đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Thứ t, phải có một hệ thống luật pháp hữu hiệu để kiểm soát hoạt động
của thị trờng chứng khoán.
V- Nguyên tắc căn bản về hoạt động và cơ cấu thành
tiếp; họ chỉ cần thông báo với nhau giá cao nhất sẵn sàng mua và giá thấp nhất
sẵn sàng bán thông qua hệ thống máy tính nối mạng giữa các công ty chứng
khoán. Những lệnh đặt hàng mua bán về một loại chứng khoán mà giá cả
khớp nhau sẽ mặc nhiên đợc thực hiện. Các giá chào mua và rao bán thờng
xuyên đợc điều chỉnh tuỳ theo tình hình diễn biến của thị trờng.
c- Đấu giá tự động: đúng nh tên gọi của hình thức này, quá trình đấu giá
do hệ thống máy tính xử lý. Hệ thống máy của các công ty chứng khoán thành
viên đợc nối mạng với máy chủ của sở giao dịch. Các công ty thành viên chỉ
việc yết giá mua và bán của mình trên mạng. Các lệnh mua bán sẽ đợc
truyền đến máy chủ trong một thời gian nhất định, máy chủ tự động xác định
một giá chốt đảm bảo số lợng chứng khoán đợc mua bán nhiều nhất và ngay sau
đó thông báo kết quả máy xử lý cho những công ty chứng khoán có các lệnh đặt
hàng đợc thực hiện.
5.1.3- Nguyên tắc công khai
Nguyên tắc này quy định tất cả các hoạt động trên thị trờng chứng khoán
đều đợc công khai hoá cho các thành viên tham gia và dân chúng biết thông qua
các phơng tiện thông tin đại chúng. Do đó Sở giao dịch chứng khoán phải thông
báo tất cả các loại chứng khoán đợc giao dịch trên thị trờng; số lợng giao dịch,
giá cả mua bán của từng loại và thậm chí thông báo tình hình tài chính và kết
quả kinh doanh của các công ty có chứng khoán giao dịch trên thị trờng.
12
Ba nguyên tắc cơ bản này là nền tảng hớng dẫn mọi hoạt động của thị tr-
ờng chứng khoán. Vì vậy, tinh thần của các nguyên tắc này đợc thể hiện trong
mọi văn bản pháp quy, từ các đạo luật, đến điều lệ và quy chế của các thị trờng
chứng khoán và các tổ chức liên quan đến hoạt động của thị trờng chứng khoán
nhằm bảo vệ quyền lợi của công chúng mua chứng khoán và cả các thành viên
của thị trờng chứng khoán.
5.2- Các công ty chứng khoán và các nhà đầu t
Ngày nay, mạng lới của các công ty môi giới có hiệu quả đã có khả năng
phục vụ các nhà đầu t ở mọi nơi trên thế giới mua và bán các loại chứng khoán
5.2.2- Các loại công ty môi giới (brocker company)
Các nhà môi giới thông thờng không hoạt động với t cách cá nhân độc
lập mà họ tổ chức thành từng công ty. Tuỳ theo luật lệ của mỗi nớc mà các công
ty chứng khoán đợc thành lập theo hình thức công ty cổ phần, công ty chung
vốn hay công ty t nhân. Song, dù tồn tại dới hình thức nào, các công ty này đều
phải có giấy phép hoạt động do một cơ quan có thẩm quyền của Nhà nớc cấp và
phải đợc kết nạp là thành viên của một Sở giao dịch chứng khoán thì hoạt động
môi giới công ty mới đợc chấp nhận.
Dựa trên phạm vi nghiệp vụ kinh doanh của từng công ty mà các công ty
môi giới lại đợc chia thành các loại khác nhau. Dới đây chúng ta sẽ tìm hiểu về
ba loại hình công ty môi giới phổ biến nhất:
a. Môi giới toàn dịch vụ (full service brocker): là những công ty môi
giới có thể cung cấp toàn bộ các dịch vụ có liên quan đến chứng khoán cho
khách hàng.
b. Môi giới với giá hạ (discount brocker) bán phần dịch vụ: Nguyên
tắc và cũng là u thế của các công ty này là phí dịch vụ thấp hơn nhiều so với phí
dịch vụ của các công ty môi giới toàn dịch vụ. Các công ty này không làm dịch
vụ t vấn; dịch vụ phổ biến nhất là thơng lợng mua bán chứng khoán cho
khách hàng.
14
c. Môi giới của môi giới (nhà môi giới hai đô la hay nhà môi giới độc lập
two dollar brocker or independent brocker): họ là những nhà môi giới độc
lập, không thuộc về một công ty môi giới nào. Họ nhận làm môi giới chung
gian để thơng lợng, đấu giá mua bán chứng khoán cho các công ty môi giới
thuê họ, hởng hoa hồng từ các dịch vụ đó.
Các nhà môi giới có tổ chức riêng của mình gọi là Hiệp hội những nhà
môi giới chứng khoán. Hiệp hội giữ vai trò ngời hớng dẫn chuyên môn, kiểm
soát, và giáo dục nghề nghiệp cho các thành viên. Tất cả các nhà môi giới buộc
phải là thành viên của Hiệp hội này. Nếu một thành viên bị khai trừ ra khỏi
Hiệp hội thì có nghĩa là ngời đó không đợc hành nghề môi giới chứng khoán
hành cùng chia sẻ rủi ro.
5.5- Các chuyên gia (nhà môi giới chuyên môn - specialist)
Chuyên gia là những thành viên của Sở giao dịch chứng khoán, chịu trách
nhiệm về sự hoạt động đều đặn, công bằng hợp lý của một đến một nhóm chứng
khoán theo sự phân công của Hội đồng quản trị. Các chuyên gia thực hiện hai
chức năng sau đây đối với nhóm chứng khoán do họ phụ trách.
a. Thực hiện các lệnh giao dịch giới hạn (limit order): các chuyên gia
chịu trách nhiệm thực hiện lệnh mua bán các chứng khoán đợc phân công phụ
trách cho các nhà môi giới.
b. Tạo thị trờng (buying and selling): là một chức năng đặc biệt mà các
chuyên gia đợc hội đồng quản trị phân công phụ trách do họ là những nhà
chuyên môn giàu kinh nghiệm. Trách nhiệm của họ là khi có độ chênh lệch
(spread) quá lớn giữa giá chào mua và chào bán của loại chứng khoán mà nhà
chuyên gia phụ trách, họ phải sẵn sàng mua hoặc bán (block purchase or sale)
các chứng khoán này cho bản thân mình ở mức giá thị trờng. Khi thi hành chức
năng này các nhà chuyên gia hoạt động với t cách là những ngời giao dịch và họ
góp phần quan trọng vào việc duy trì một thị trờng ổn định của các loại chứng
khoán.
16
Vị trí vai trò và chức năng của các chuyên gia ở Sở giao dịch buộc họ
phải tuân thủ một số quy định riêng trong giờ giao dịch: không đợc phép thực
hiện các giao dịch của các loại chứng khoán không thuộc phạm vi phân công
phụ trách; phải làm việc hết sức thận trọng và công minh cho quyền lợi của
khách hàng
Ngoài các thành phần cơ bản của thị trờng chứng khoán nh đã đề cập ở
trên, trong cơ cấu của thị trờng còn có những bộ phận khác giúp cho sự vận
hành của thị trờng mà dới đây chúng ta sẽ xem xét.
5.6- Các thành phần khác
5.6.1- Bộ máy quản trị và điều hành
Bộ máy bao gồm: