Thực trạng và xu hướng phát triển của ngành logistics việt nam - Pdf 23

HỌ VÀ TÊN : PHẠM VĂN ĐIỆN
LỚP HC : K47T1
MSV : 11D220010
GIẢNG VIÊN : TS.LỤC THỊ THU HƯỜNG
BÀI TẬP : 10
THỰC TRẠNG VÀ TƯƠNG LAI NGÀNH LOGISTICS VIỆT NAM
MỤC LỤC
1. Đánh giá đặc điểm thị trường Logistics VN 3
2. Một số đánh giá về những thành tựu và kết quả trong phát triển Logistics 3
2.1. Logistics có sự phát triển nhanh chóng và trở thành ngành kinh tế đóng góp ngày càng quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước 3
2.2.Bước đầu hình thành khuôn khổ pháp lý cần thiết để điều chỉnh hoạt động Logistics phát
triển 3
2.3.Cơ sở hạ tầng có những bước phát triển nhất định ,từng bước đáp ứng được một phần nào
nhu cầu phát triển các hoạt động Logistics 4
2.4.Số lượng các doanh nghiệp Logistics ngày càng tăng lên cả về số lượng và năng lực kinh
doanh 4
3.Những tồn tại và khó khăn trong phát triển Logistics tại Việt Nam 4
3.1.Hệ thống khuôn khổ pháp lý còn nhiều hạn chế ,chưa có một cơ chế ,chính sách đồng bộ để
điều chỉnh hoạt động Logistics phát triển 4
3.2.Chưa xây dựng được chiến lược tổng thể phát triển Logistics ở Việt Nam 5
3.3.Cở sở hạ tầng Logistics còn yếu kém dẫn đến chi phí Logistics ở Việt Nam còn cao 5
3.4.Thủ tục hải quan còn nhiều bất cập ,gây khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp 6
3.5.Quy mô doanh nghiệp Logistics chủ yếu là vừa và nhỏ , kinh doanh còn manh mún ,hoạt
động cơ bản tập trung ở thị trường nội địa 7
3.6.Thị trường Logistics còn rất nhiều hạn chế ,chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của
đất nước 8
4.Một số giải pháp nhằm chủ yếu phát triển ngành Logistics tại Việt Nam đến năm 2020 9
1
CÂU 2 :XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI CỦA NGÀNH
LOGISTICS 10

giờ đây việc đi thuê các dịch vụ Logistics ở bên ngoài ngày càng trở nên phổ biến. 11
2.2. Xu hướng phát triển của Logistics tại Việt Nam 11

2
CÂU 1 : ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH
LOGISTICS VIỆT NAM HIỆN NAY
1. Đánh giá đặc điểm thị trường Logistics VN
Mặc dù Logistics đã và đang phát triển mạnh mẽ trên thế giới, nhưng ở Việt
Nam vẫn còn khá mới mẻ. cho đến nay, thị trường Logistics VN vẫn ở giai đoạn đầu
của quá trình phát triển, với những đặc điểm cơ bản sau:
- Một thị trường có quy mô không lớn, nhưng đầy tiềm năng và hấp dẫn
- Năng lực về Logistics của VN chưa cao:
- Hạ tầng cơ sở Logistics của VN yếu kém, thiếu đồng bộ, quy mô nhỏ,
rời rạc
- Cạnh tranh ngày càng khốc liệt
2. Một số đánh giá về những thành tựu và kết quả trong phát triển Logistics
2.1. Logistics có sự phát triển nhanh chóng và trở thành ngành kinh tế đóng góp
ngày càng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước .
Logistics đã trở thành một ngành kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao ở Việt Nam
,đóng vai trò quan trọng trong sản xuất , lưu thông hàng hóa , góp phần làm tăng thêm
giá trị cũng như nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa ,tạo nhiều việc làm và tăng
thêm thu nhập cho người lao động , tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước.Có những
đóng góp quan trọng trong sự phát triển thương mại nội địa và quốc tế tại Việt Nam
2.2.Bước đầu hình thành khuôn khổ pháp lý cần thiết để điều chỉnh hoạt động
Logistics phát triển
Xây dựng Luật Thương Mại 2005 là một đột phá mới trong hoạt động
Logistics.Ngoài ra còn ban hành các nghị quyết về vận tải đa phương thức ,cụ thể là
Nghị định 87/2009/NĐ-CP ban hành ngày 29/10/2009 thay thế cho Nghị định
125/2003/NĐ –CP.Phát triển hoạt động vận tải đa phương thức ở Việt Nam sẽ giúp
thúc đẩy sự phát triển các loại hình 3PL .hướng tới các loại hình 4PL ,5PL

,chưa tạo được sự thống nhất .Đo đó mà rất nhiều doanh nghiệp chưa nắm vững luật
pháp quốc tế ,luật pháp các nước trong đó có Việt Nam .Đây là một nguy cơ tiềm ẩn
khả năng thiệt thòi
3.2.Chưa xây dựng được chiến lược tổng thể phát triển Logistics ở Việt Nam
Là một ngành kinh tế quan trọng và đang tăng trưởng khá nhanh ,nhưng cho đến
nay Việt Nam vẫn chưa xây dựng được một chiến lược dài hạn ,có tính tổng thể nhằm
phát triển hoạt động Logistics
3.3.Cở sở hạ tầng Logistics còn yếu kém dẫn đến chi phí Logistics ở Việt Nam còn
cao
Hạ tầng cơ sở Logistics của VN yếu kém, thiếu đồng bộ, quy mô nhỏ, rời rạc. Hệ
thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho hoạt động Logistics của VN hiện nay còn nghèo nàn,
quy mô nhỏ, bố trí bất hợp lý. Nếu so sánh trong ASEAN thì cơ sở hạ tầng cảng biển,
đường bộ, sân bay của VN chỉ xếp thứ 5. Nếu xếp hạng quốc tế, theo số liệu của Báo
cáo cạnh tranh toàn cầu của WEF qua các năm, thì VN luôn bị xếp hạng rất thấp về
chất lượng hạ tầng cảng, đường bộ và cung cấp điện (luôn ở mức trên 100). Trong
những năm vừa qua cơ sở hạ tầng đã có nhiều thay đổi đáng kể, nhiều công trình và hệ
thống giao thông đường bộ, cảng nội địa và cảng biển được nâng cấp.Tuy nhiên nhìn
từ góc độ Logistics, cơ sở hạ tầng chúng ta còn quá yếu kém, lạc hậu, thiếu đồng bộ,
hệ thống kho bãi quy mộ nhỏ và rời rạc, trang thiết bị, phương tiện như xe vận chuyển
hang, dây chuyền, băng tải, đường ống, thiết bị chiếu sáng , xe nâng hạ hàng hóa, máy
đóng gói và các thiết bị mã vạch… với công nghệ thấp và cũ kỷ. Hệ thống vận tải
đường biển, đường sông, hàng không, đường bộ, đường sắt còn nhiều bất cập, dẩn đến
tốc độ lưu chuyển trong logistic còn khá chậm nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt
động hiệu quả của ngành logistics.
Theo đánh giá của Ông Gopal R, giám đốc Bộ phận vận tải và hậu cần khu vực
châu Á – Thái Bình Dương của tập đoàn Frost & Sullivan, chi phí Logistics tại VN
gần như gấp đôi-gấp ba so với các nước công nghiệp khác, xuất phát từ việc thiếu
thốn về hạ tầng và năng lực vận tải yếu kém.
5
Cơ sở hạ tầng là một trong bốn yếu tố nền tảng để phát triển ngành Logistics quốc

với gần 500 cán bộ quản lý Logistics trên cả nước thì một số cán bộ công chức hải
quan còn quan liêu ,cửa quyền ,hệ thống hải quan trực tuyến đã được triển khai nhưng
chưa thực sự đem lại tiện ích cho doanh nghiệp khi khai báo .Hầu như trong các khâu
thủ tục thông quan đều phải có những chi phí không chính thức …
3.5.Quy mô doanh nghiệp Logistics chủ yếu là vừa và nhỏ , kinh doanh còn manh
mún ,hoạt động cơ bản tập trung ở thị trường nội địa
Theo thống kê ở VN hiện có khoảng gần 1.000 công ty Logistics chính thức đang
hoạt động, trong đó có khoảng 18% là công ty nhà nước; 70% là công ty TNHH,
doanh nghiệp tư nhân; 10% các đơn vị giao nhận chưa có giấy phép và 2% công ty
Logistics do nước ngoài đầu tư vốn. Tính đến tháng 11/2012, Hiệp hội Giao nhận Kho
vận VN (VIFFAS) có 193 thành viên (161 thành viên chính thức và 32 thành viên liên
kết). Mới đây, Chủ tịch VIFFAS được bầu làm Chủ tịch AFFA (Liên đoàn các Hiệp
hội Giao nhận Đông Nam Á), có thể coi đây là mộtdấu mốc quan trọng trong quá trình
phát triển của Hiệp hội. Kết quả điều tra cho thấy hầu hết các doanh nghiệp Logistics
của nước ta có thời gian hoạt động bình quân là 5-7 năm, quy mô vốn đăng ký dưới 5
tỉ VND, thậm chí nhiều doanh nghiệp có vốn chỉ khoảng 500 triệu, thuộc loại rất nhỏ.
Quy mô của doanh nghiệp còn thể hiện qua số lao động. Rất nhiều doanh nghiệp có số
lượng lao động dưới 10 người, chỉ đáp ứng được một khâu đơn giản của chuỗi dịch vụ
Logistics. Với quy mô vốn nhỏ, thời gian hoạt động khiêm tốn và ít nhân viên, hoạt
động không có tính chuyên nghiệp, chỉ có thể cung cấp những loại hình dịch vụ đơn
giản. Hầu hết các doanh nghiệp Logistics VN chưa có văn phòng đại diện ở nước
ngoài. Thông tin từ nước ngoài và các công việc phải giải quyết đều do các đại lý thực
hiện.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp Logistics VN phần lớn là doanh
nghiệp tư nhân, một số doanh nghiệp lớn của nhà nước thì lại chịu sự quản lý của các
Bộ, ngành khác nhau, nên thường hoạt động đơn lẻ, tách rời nhau, thậm chí còn đối
đầu để tranh giành khách hàng, vì vậy, sức vốn đã yếu lại càng thêm yếu. Thời gian
qua các doanh nghiệp Logistics VN đã bị thua đậm các doanh nghiệp nước ngoài ngay
trên sân nhà. Hội nhập đòi hỏi chúng ta phải thay đổi tư duy, thay đổi cách làm, phải
7

Có một số doanh nghiệp chưa nhận thấy tầm quan trọng của logistics xem logistics
chỉ đơn thuần là các dịch vụ “hậu cần cho xuất nhập khẩu”, có nghĩa gói gọn trong
vận tải, cảng biển, hệ thống kho bãi, hãng tàu. Thậm chí có doanh nghiệp chưa biết
logistic là gì. Đây cũng là lý do cơ bản để Logistics khó có cơ hội phát triển. Doanh
nghiệp cần thay đổi nhận thức và hiểu rõ tầm quan trọng của logistics đối với doanh
nghiệp,
Về mặt nhà nước, chính phủ và các cơ quan chức năng cần tài trợ , hỗ trợ và quan
tâm quy hoạch, xây dựng chính sách pháp lý , bảo đảm tính hợp lý , rõ ràng với mục
đích tạo một môi trường minh bạch có định hướng đối với ngành Logistic. Cần có
chiến lược đầu tư đúng tầm cho các cảng biển, sân bay, cảng nội địa, đường sắt,
đường song theo một tổng thể co khả năng thích ứng trong điều kiện logistics hội
nhập quốc tế.
4.Một số giải pháp nhằm chủ yếu phát triển ngành Logistics tại Việt Nam đến
năm 2020
− Cần đầu tư nghiên cứu một cách bài bản về chuỗi cung ứng
− Cần tiếp tục xây dựng một khung pháp lý hoàn chỉnh cho hoạt động Logistics.
− Cần phát huy vai trò định hướng và hỗ trợ của Nhà nước
− Cần làm tốt khâu quy hoạch và xây dựng cơ sở hạ tầng cảng biển, sân bay, hệ
thống đường giao thông, kho bãi…
− Cần tập trung phát triển hạ tầng công nghệ thông tin
− Tập trung, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ cho ngành dịch vụ
Logistics
9
CÂU 2 :XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN TRONG TƯƠNG LAI CỦA NGÀNH
LOGISTICS
2.1. Xu hướng phát triển của Logistics trên thế giới
Một xu thế tất yếu của thời đại ngày nay là toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới. Bất
kỳ một quốc gia hay ngành nghề nào, không phân biệt lớn hay nhỏ, mới hay cũ, muốn
tồn tại và phát triển thì phải chấp nhận và tích cực tham gia vào xu thế mới này. Toàn
cầu hoá làm cho giao thương giữa các quốc gia, các khu vực trên thế giới phát triển

phổ biến.
2.2. Xu hướng phát triển của Logistics tại Việt Nam
Xét về mức độ phát triển có thể chia các công ty giao nhận Việt Nam thành 4 cấp
độ:
Cấp độ 1 : Các đại lý giao nhận truyền thống –các đại lý giao nhận chỉ thuần túy
cung cấp các dịch vụ do khách hàng yêu cầu .Thông thường các dịch vụ các dịch vụ
đó là : vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ ,thay mặt chủ hàng làm thủ tục hải
quan ,làm các chứng từ ,lưu kho bãi ,giao nhận .Ở cấp độ này gần 80% các công ty
giao nhận Việt Nam phải thuê lại kho và dịch vụ vận tải
Cấp độ 2 : Các đại lý giao nhận đóng vai trò người gom hàng hóa và cấp vận đơn
nhà .Nguyên tắc hoạt động của những người này là phải có đại lý độc quyền tại các
cảng lớn để thực hiện các hoạt động đóng hàng / rút hàng xuất nhập khẩu . Hiện nay
khoảng 10% các tổ chức giao nhận Việt Nam có khả năng cung cấp dịch vụ gom hàng
11
tại CFS của chính họ hoặc do họ thuê của nhà thầu .Những người này sử dụng vận
đơn nhà như những vận đơn của hãng tàu nhưng chỉ có một số mua bảo hiểm trách
nhiệm giao nhận vận tải
Cấp độ 3 : Đại lý giao nhận đóng vai trò là nhà vận tải đa phương thức
( multimodal Transport Organizations –MTO)được định nghĩa là sự kết hợp từ hai
phương tiện vận tải trở lên MTO ra đời để đáp ứng dịch vụ giao nhận door – to –door
chứ không đơn giản chỉ từ cảng đến cảng ( Terminal –To – Termial hoặc Port – To –
Port) nữa . Trong vai trò này, một số công ty đã phối hợp với công ty nước ngoài tại
các cảng dỡ hàng bằng một hợp đồng phụ để tự động thu xếp vận tải hàng hóa tới
điểm cuối cùng theo vận đơn .Tính đến nay đã có hơn 50% các đại lý giao nhận ở Việt
Nam hoạt động như đại lý MTO nối mạng lưới đại lý khắp các nước trên thế giới
Cấp độ 4 : Đại lý giao nhận trở thành nhà cung cấp dịch vụ logistics .Đây là kết
quả tất yếu của quá trình hội nhập .Một số tập đoàn logistcs lớn trên thế giới đã có
văn phòng đại diện tại Việt Nam và thời gian qua đã hoạt động rất hiệu quả trong lĩnh
vực logistics như : Kuehne & Nagel ; Shenker , Bikart ,Ikea , APL , TNT , NYK,
Maersk Logistics Đã có những liên doanh hoạt động trong lĩnh vực này như : First


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status