Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
MỤC LỤC
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
LỜI MỞ ĐẦU
Hòa chung với xu thế toàn cầu hóa, sau nhiều nỗ lực, đến cuối năm 2006 Việt
Nam đã được kết nạp là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới WTO.
Sự ra nhập đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh chóng, giao lưu buôn bán giữa
nước ta và các nước trên thế giới tăng trưởng không ngừng, kim ngạch xuất nhập khẩu
liên tiếp tăng lên qua từng năm. Với 3260km đường bờ biển, lại nằm ở vị trí trung tâm
của Đông Nam Á, vì vậy vận chuyển hàng hóa bằng đường biển đã trở thành phương
thức vận chuyển chủ yếu trong hoạt động xuất nhập khẩu. Theo báo cáo của bộ giao
thông vận tải năm 2003 thì hàng năm có khoảng 90% khối lượng hàng hóa xuất nhập
khẩu được vận chuyển theo phương thức này, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của
nên kinh tế nước ta.
Như bất kì phương thức vận tải nào khác, vận tải bằng đường biển cũng không thể
nào tránh khỏi những rủi ro bất ngờ, gây nên tổn thất lớn đối với các chủ hàng, đến nền
kinh tế quốc gia. Đó là lí do mà nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển đã ra đời từ rất sớm, sự ra đời của nghiệp vụ này nhằm giúp
các chủ hàng đảm bảo được sự ổn định về mặt tài chính, dẫn đến ổn định hoạt động sản
xuất kinh doanh.
Nghiệp vụ Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển đã
phát triển rất mạnh trên thế giới, tuy nhiên khi triển khai trong nước vẫn còn gặp khó
khăn. Tỷ trọng hàng nhập khẩu được bảo hiểm bởi các công ty bảo hiểm trong nước
chỉ chiếm 25%, và hàng xuất khẩu chỉ chiếm 8%. Đây quả là những con số còn khá
khiêm tốn.
Xuất phát từ vấn đề đó, sau thời gian thực tập tại Công ty Bảo hiểm Toàn Cầu
(GIC), em đã chọn đề tài : “Thực trạng triển khai nghiệp vụ bảo hiểm hàng hóa xuất
nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo hiểm Toàn Cầu” để làm chuyên
đề thực tập tốt nghiệp. Mục đích của đề tài là nghiên cứu, phân tích đánh giá việc thực
hiện bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại công ty bảo
xuất nhập khẩu đem lại lợi thế thương mại cho cả hai bên.
Xuất nhập khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán trên phạm vi quốc tế, nó không
phải là hành vi buôn bán riêng lẻ, mà là cả một hệ thống các quan hệ buôn bán trên nền
thương mại có tổ chức cả trong nước và nước ngoài, nhằm thúc đẩy nền sản xất hàng
hóa, chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế, từng bước nâng cao đời sống cho người dân, nhờ
đó con người có khả năng sử dụng vượt xa khả năng sản xuất của mình.
Xuất nhập khẩu là thế lực to lớn chi phối nền kinh tế thế giới mang lại giá trị sử
dụng cho nền kinh tế quốc tế thông qua hoạt động mua bán, nó lam thay đổi cơ cấu tích
lũy và tiêu dùng của các tầng lớp dân cư khác nhau trong xã hội. Đồng thời XNK giúp
cho thương mại trong nước phát triển, làm tăng tính cạnh tranh giữa các doanh nghiệp,
giảm giá cả hàng hóa dịch vụ, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ…
1.1.2 Vai trò và đặc điểm vận tải bằng đường biển
1.1.2.1 Vai trò
- Trong xu hướng toàn cầu hóa, các nước luôn phải cố gắng duy trì và mở rộng thị
trường trên toàn thế giới, làm cho các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa giữa các
nước và các khu vực mở rộng cả chiều rộng và chiều sâu, khối lượng hàng hàng hóa
được lưu chuyển ngày càng lớn. Hoạt động xuất nhập khẩu không ngừng phát triển.
Việc vận chuyển hàng hóa có thể sử dụng nhiều phương thức khác nhau như đường sắt,
đường bộ, đường hàng không… nhưng đến nay, vận tải bằng đường biển vẫn đóng vai
trà huyết mạch quan trọng nối liền hoạt động thông thương đó. Ngày nay, hơn 90% tổng
khối lượng hàng hóa xuất nhâp khẩu được chuyên chở bằng đường biển trên toàn thế
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
3
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
giới, ở Việt Nam là hơn 95% tổng khối lượng HHXNK.
- Vận tải bằng đường biển góp phần thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa thông
qua các quan hệ trao đổi buôn bán hàng hóa, phát triển ngoại thương, thực hiện đường
lối đối ngoại của Đảng và nhà nước. Đồng thời góp phần tăng thu ngoại tệ cho quốc
gia.
1.1.2.2 Đặc điểm
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
trong việc tuân theo các tập quán, quốc gia đó. Ngoài ra, còn phải chịu môi trường
chính trị khắc nghiệt như chiến tranh, đình công, hay cướp bóc có thể gây tổn thất lớn
đối với tàu và hàng.
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mỗi chuyến tàu thường có giá trị rất
lớn bao gồm cả giá trị tàu và hàng hóa trên tàu, nếu rủi ro xảy ra có thể gây tổn thất rất
lớn đối với tài sản và con người. Có những chuyến hàng có thể là cả một gia tài của chủ
hàng, nếu tổn thất toàn bộ xảy ra để lại hậu quả rất nặng nề.
Hàng hóa được chở trên tàu thuộc trách nhiệm của chủ hàng, tuy nhiên trách
nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi và mức độ tuy thuộc điều kiện giao hàng
và hợp đồng vận chuyển.
Ngoài ra, các chuyến vận chuyển còn có thể gặp trục trặc kỹ thuật từ những
con tàu chở hàng.
Do các tàu biển hoạt động tương đối độc lập giữa vùng không gian rộng lớn,
do đó nếu xảy ra sự cố thì việc cứu hộ, cứu nạn sẽ rất khó khăn.
1.1.3 Sự cần thiết của bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển
bằng đường biển
Quá trình vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển tuy có nhiều ưu
điểm vượt trội, nhưng cũng có nhiều yếu tố đe dọa đến độ an toàn của tàu và hàng, gây
thiệt hại lớn đối với các thương nhân. Do đó, các chủ hàng thường phải mua bảo hiểm
cho hàng hóa để đảm bảo sự ổn định tài chính của mình.
Bảo hiểm là sự san sẻ rủi ro thông qua một quỹ tiền tệ tập chung từ sự đóng góp
của người tham gia bảo hiểm (được gọi là phí bảo hiểm), và người bảo hiểm sẽ bồi
thường cho người được bảo hiểm những tổn thất của hàng hóa hay trách nhiệm liên
quan do một rủi ro đã thỏa thuận gây nên.
Trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển, người
tham gia bảo hiểm có thể là người xuất hoặc người nhập tùy theo từng điều kiện thương
mại và điều kiện giao hàng mà hai bên đã thỏa thuận với nhau để bảo hiểm cho hàng
hóa được chuyên chở trên tàu.
Vì những rủi ro có thể xảy ra gây nên thiệt hại lớn đối với tàu và hàng hóa trên
trực tiếp tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn lao động
Thông qua hoạt động bảo hiểm, tái bảo hiểm , liên doanh liên kết thiết lập
được mối quan hệ quốc tế rộng rãi, học hởi được nhiều kinh nghiệm từ nước ngoài.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường
biển góp phần thúc đẩy sự phát triển hoạt động xuất nhập khẩu, và ngược lại, một quốc
gia có hoạt động xuất nhập khẩu phát triển thì chắc chắn sẽ có một trình độ bảo hiểm
hàng hóa xuất nhập khẩu cao.
1.2. BẢO HIỂM HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU VẬN CHUYỂN
BẰNG ĐƯỜNG BIỂN
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
1.2.1 Rủi ro và tổn thất được bảo hiểm trong bảo hiểm hàng hóa xuất
nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
1.2.1.1 Các rủi ro
Rủi ro trong hàng hải là những rủi ro do thiên tai, tai nạn bất ngờ trên biển gây ra,
làm hư hỏng hàng hóa và các phương tiện vận chuyển. Để thuận tiện trong việc xây
dựng các quy tắc bảo hiểm và để hạn chế tối đa những hiện tượng tranh chấp, khiếu nại
trong giám định bồi thường, người ta tiến phân loại các rủi ro như sau:
a, Căn cứ vào nguyên nhân gây ra tổn thất:
- Rủi ro do thiên tai gây ra như biển động, bão lốc, sống thần, thời tiết xấu, mây,
mưa gió...
- Tai nạn bất ngờ trên biển như: rủi ro mắc cạn, chìm đắm, đâm va với các vật thể
không phải là nước…
- Rủi ro do hành động của con người: ăn trộm, cướp biển, bạo loạn, đình công,
chiến tranh..
- Tổn thất trong quá trình bốc dỡ hàng hóa lên tàu, sà lan.
b, Căn cứ theo điều kiện bảo hiểm :
- Rủi ro được bảo hiểm: là rủi ro được bảo hiểm theo điều kiện bảo hiểm gốc.
Các rủi ro phải mang tính chất bất ngờ, ngẫu nhiên, xảy ra ngoài ý muốn của con
Tổn thất bộ phận: là một phần của đối tượng bảo hiểm theo một hợp đồng bảo
hiểm bị mất mát hư hỏng, thiệt hại. Tổn thất bộ phận có thể là tổn thất về số lượng,
trọng lượng, thể tích, phẩm chất hoặc giá trị hàng hóa.
- Tổn thất toàn bộ là toàn bộ hàng hóa bị thiệt hại, hư hỏng biến chất, biến dạng,
không còn giá trị. Tổn thất toàn bộ được chia làm 2 loại:
Tổn thất toàn bộ thực tế: là toàn bộ đối tượng hàng hóa được bảo hiểm theo hợp
đồng bảo hiểm bị hư hỏng, mất mát, thiệt hại, bị biến chất, biến dạng không còn như lúc
đầu được bảo hiểm, hoặc bị mất đi, tước đoạt không lấy lại được nữa. Tổn thất toàn bộ
thực tế xảy ra khi:
- Khi hàng hóa bị hủy hoại hoàn toàn. Ví dụ như lô hàng gốm sứ xuất khẩu, trên
đường đi gặp bão lớn làm lô hàng bị đổ vỡ toàn bộ.
- Hàng hóa bị tước đoạt không lấy lại được. Ví dụ hàng hóa bị cướp biển lấy đi
toàn bộ.
- Hàng hóa bị biến dạng, biến chất không còn là vật thể bảo hiểm nữa.Ví dụ như
Xi măng bị nước vào, toàn bộ xi măng không sử dụng được nữa.
- Hàng hóa trên tàu được tuyên bố là mất tích.
Tổn thất toàn bộ ước tính: là hàng hóa được bảo hiểm bị tổn thất, thiệt hại chưa
đến mức tổn thất toàn bộ thực tế, nhưng không thể tránh khỏi tổn thất toàn bộ thực tế,
hoặc nếu bỏ thêm chi phí cứu vớt có thế chi phí cứu vớt bằng hoặc lớn hơn giá trị hàng
hóa. Và cũng có thể là toàn bộ chi phí mà chủ hàng gửi hàng đến nơi nhận lớn hơn giá
trị bản thân lô hàng đó tại thời điểm nhất định. Khi gặp trường hợp này, tốt nhất các chủ
hàng nên tuyên bố từ bỏ hàng và người bảo hiểm sẽ phải bồi thường tổn thất toàn bộ.
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
Vídụ: Một lô hàng gạo được xuất từ Việt Nam sang Nam Phi, dọc đường hàng bị
ngấm nước và bắt đầu mốc thối, nếu cố mang sang Nam Phi thi gạo sẽ hư hỏng toàn bộ
thực tế chắc chắn sẽ xảy ra.
Hoặc tàu bị tai nạn cần vào cảng lánh nạn để sửa chữa mới có thể tiếp tục lịch
trình, nhưng thời gian sửa chữa kéo dài, gạo bị ngấm nước có thể sẽ được mang ra xử lý
9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
- Mất mát, thiệt hại hoặc chi phí phải là hậu quả trực tiếp của hành động tổn thất
chung;
- Xảy ra trên biển.
- Tổn thất chung bao gồm hy sinh tổn thất chung và chi phí tổn thất chung:
+ Hy sinh tổn thất chung là những thiệt hại, hậu quả trực tiếp của hành động tổn
thất chung như: vứt hàng xuống biển cho tàu nổi, đốt hàng làm nhiên liệu, máy tàu hư
hại do làm việc quá công suất để cứu tàu ra khỏi bãi cạn..
+ Chi phí tổn thất chung là những chi phí trả cho người thứ ba trong việc cứu tàu
cứu hàng, chi phí thoát nạn, chi phí làm cho tàu tiếp tục hành trình, bao gồm: chi phí
cứu nạn; chi phí làm nổi tàu bị mắc cạn, chi phí thuê kéo lai dắt tàu khi bị nạn; chi phí
tại cảng lánh nạn như: phí ra vào cảng lánh nạn, chi phí tái xếp lưu kho, tiền lương của
thuyền trưởng và thuyền viên.
b, Các loại tổn thất thường gặp trong bảo hiểm hàng hóa xuát nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển
• Tổn thất do va chạm với hàng hóa khác.
Hàng hóa có thể bị lem dầu, ẩm ướt, sâu bọ … do lây lan từ hàng hóa khác. Và
cần xác định rõ hư hỏng đó xảy ra trước hay sau khi xếp hàng lên tàu.
• Tổn thất do hao mon, rách vỡ, chảy bình thường.
Hao mòn, rách vỡ, chảy là những rủi ro miễn bồi thường theo điều khoản thông
thường của hợp đồng bảo hiểm. Cần phải thận trọng khi ước lượng và báo cáo về
những hàng hóa có thể bị tổn thất do những nguyên nhân đó, và phải ghi rõ ràng là tổn
thất bộ phận hay toàn bộ là do những nguyên nhân trên.
Hàng mất hay hư hòng vì hao mòn, rách vỡ, chảy đều không được bồi thường trừ
khi chủ hàng mua bảo hiểm đặc biệt do “hiểm họa đường biển” gây ra. Việc xếp hàng
không đúng quy cách cũng gây nên vỡ, chảy chất lỏng trong chai lọ đều không thuộc
mục “hiểm họa đường biển”, nhưng nếu hàng xếp bị đổ xuống biển do biển động mạnh
hoặc dẫn đến những hư hại tương tự thì có thể xếp vào những tổn thất đó.
• Tổn thất do đọng nước hấp hơi.
Có một số mặt hàng có thể bị mất trọng lượng trong quá trình vận chuyển do
những nguyên nhân tự nhiên như giảm thủy phần. Điều kiện làm cho hàng khô đi sẽ
làm cho nó giảm hụt trọng lượng, trong khi độ ẩm tăng lên là cho nó hút thêm hơi nước
làm cho trọng lượng lại tăng lên.
• Tổn thất do rỉ sét.
Rỉ là sự oxi hóa trên sắt thép chủ yếu là do hơi nước, nước ngọt, nước mặn và mồ
hôi. Hàng hóa có thể bị rỉ sét do môi trường ẩm, có khí CO
2
và một vài tác nhân nào đó,
hoặc là do sự có mặt của các hóa chất. Nếu hàng hóa được lót vật liệu chống ướt nhưng
không có biện pháp thông gió tốt đã làm ngưng tụ hơi ẩm gây nên rỉ sét.
• Tổn thất do mất trộm và mất cắp.
Khi kiện hàng xảy ra thiếu hụt, cần phải xem xét kỹ lưỡng tình trạng bên ngoài
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
của kiện hàng. Chúng có thể bị mở ra một cách tinh vi,có nhiều thời gian để ngụy trang
việc mở hàng, cạy ván, rút đinh, nếu xem qua có thể không phat hiện được, trường hợp
nảy xảy ra với những kiện hàng rượu vang hay rượu mạnh.
• Tổn thất do không nhận được rõ ký mã hiệu.
Việc xác định được thiếu ký hiệu riêng hay ký riêng bị mất có thể gặp khó khăn.
Giám định viên phải cố gắng kiểm tra xem hàng có giao đúng không, hàng thiếu có lưu
tại kho của chủ hàng hay kho cảng không, nếu hàng giao không đúng thì phải nêu đầy
đủ trong chứng thư loại hàng thay thế đã giao và người yêu cầu giám định đã nhận
• Tổn thất do hao hụt khối lượng.
Hao hụt khối lượng có thể do nhiều nguyên nhân do đó lúc tham khảo giấy chứng
nhận khối lượng, giám định viên không nên xem kết quả ghi trong đó là hoàn toàn
chính xác mà phải kiểm tra thật kỹ lưỡng để lập biên bản cho chính xác.
• Tổn thất do đóng hàng thiếu.
Đóng gói thiếu là cách giải thích thông thường khi hàng mất mà trong kiện hang
- Tổn thất do hành vi xấu cố ý của người được bảo hiểm.
- Các hao hụt tự nhiên về trọng lượng, thể tích hay các hao mòn thông thường, các
khuyết tật của đối tượng bảo hiểm.
- Việc đóng gói, chuẩn bị đối tượng bảo hiểm chưa đầy đủ hoặc chưa, hoặc không
thích hợp.
- Tình trạng không trả được nợ hoặc sự thiếu thốn về tài chính của chủ tàu, người
thuê tàu, quản lý tàu.
- Việc sử dụng bất kỳ một loại vũ khí chiến tranh gì dùng tới phản úng hạt nhân
hoặc đốt nóng hạt nhân…
- Việc phương tiện vận chuyển không đủ khả năng đi biển, không an toàn cho việc
chuyên chở đối tượng.
- Do chiến tranh, nội chiến cách mạng nổi loạn khởi nghĩa hoặc xung đột. đình
công, công nhân cấm xưởng, bế xưởng rối loạn lao động, khủng bố.
- Do sự chiếm bắt giữ, hay kiếm chế hay cầm giữ ( loại trừ cướp biển ) và hậu quả
của những sự việc đó hoặc bất kỳ sự mưu toan gì.
b, Điều kiện bảo hiểm B
Điều kiện bảo hiểm B mở rộng hơn điều kiện C, ngoài những rủi ro trên, trong điều
kiện này còn bảo hiểm cho những tổn thất thiệt hại, mát mát do những rủi ro sau:
- Hàng bị nước cuốn trôi khỏi tàu.
- Nước biển, nước hồ hoặc nước sông xâm nhập vào tàu, sà lan, phương tiện
vận chuyển container hoặc nơi chứa hàng.
- Tổn thất toàn bộ bất kỳ kiện hàng nào rơi mất khỏi tàu hoặc rơi trong khi đang
xếp hàng, hay đang dỡ hàng khỏi tàu hoặc xà lan.
- Động đất núi lửa phun, sét đánh.
c, Điều kiện bảo hiểm A
Đây là điều kiện bảo hiểm rộng nhất, bảo hiểm cho tất cả những hư hỏng mất mát
của hàng hóa kể cả cướp biển và còn không áp dụng mức miễn thường, trừ những rủi
ro loại trừ.
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
13
Giống điều kiện B, A của Viện ITL và thêm những điều khoản bổ sung như ở
điều kiện C.
1.2.3 Nội dung bảo hiểm
1.2.3.1 Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm là các hàng hóa xuất nhập khẩu được vận chuyển bằng
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
14
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
đường biển có chứng từ mua bán, hợp đồng vận chuyển và chứng từ giao nhận. Đây là
cơ sở để phân định trách nhiệm giữa các bên có liên quan, trách nhiệm đó phụ thuộc
vào điều kiện mua hàng.
Theo điều kiện thương mại quốc tế “Incoterm 2000” điều kiện giao hàng gồm 13
loại và được chia thành nhóm:
- Nhóm E: có một điều kiện EXW(Ex Works) là điều kiện giao hàng tại xưởng,
người bán chịu chi phí tối , giao hàng tại xưởng, tại kho của mình là hết nghĩa vụ.
- Nhóm F: là nhóm điều kiện mà người bán không phải trả cước phí vận tải chính.
Bao gồm ba điều kiện là FCA (giao hàng cho người vận tải tại nơi quy định ở nước xuất
khẩu); FAS (giao hàng dọc mạn tàu tại cảng xếp hàng quy định); FOB (giao hàng lên
tàu tại cảng xếp hàng quy định).
- Nhóm C: trong nhóm điều kiện này, người bán chịu cước phí vận tải chính, địa
điểm chuyển rủi ro về hàng hóa tai nước xuất khẩu. Bao gồm 4 điều kiện: CFR(giá trị
hàng hóa bao gồm tiền hàng và cước phí); CIF (giá trị hàng hóa gồm tiền hàng, phí bảo
hiểm và cước vận chuyển); CPT (người bán chịu cước phí trả tới nơi quy định); CIP
(cước phí, bảo hiểm tới nới đích quy định).
- Nhóm D: theo nhóm này, người bán chịu mọi chi phí để đưa hàng hóa về nơi
quy định, địa điểm chuyển rủi ro tại nước dỡ hàng. Bao gồm 5 điều kiện DAF(giao
hàng tại biên giới); DES ( giao hàng tại tàu ở cảng quy định); DEQ (giao hàng tại cầu
cảng đích); DDU (giao hàng chưa tính thuế tại nơi đích quy định); DDP (giao hàng đã
tính thuế tại nơi đích quy định).
Trong xuất nhập khẩu hàng hóa vận chuyển bằng đường biển thường áp dụng điều
1.2.3.2. Hợp đồng bảo hiểm
Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển là sự
thỏa thuận bằng văn bản giữa người bảo hiểm và người được bảo hiểm, theo đó nhà
bảo hiểm sẽ cam kết bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất, mất mát của
hàng hóa hay trách nhiệm liên quan do rủi ro đã thỏa thuận gây nên còn người được
bảo hiểm cam kết trả phí bảo hiểm. Đây là hợp đồng bảo hiểm hàng hải, mang tính chất
là hợp đồng bồi thường, hợp đồng tín nhiệm và có thể chuyển nhượng được. Có hai loại
hợp đồng:
- Hợp đồng bảo hiểm chuyến: là hợp đồng bảo hiểm một chuyến hàng từ nơi
này đến nơi khác ghi trên hợp đồng bảo hiểm. Trách nhiệm của người bảo hiểm theo
hợp đồng này bắt đầu và kết thúc theo điều khoản “từ kho đến kho”. Loại hợp đồng
này phù hợp với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, có lượng hàng xuất khẩu ít, không
thường xuyên.
Hợp đồng bảo hiểm chuyến thể hiện bằng đơn bảo hiểm hoặc Giấy chứng nhận
bảo hiểm do Công ty bảo hiểm cấp.
Đơn bảo hiểm chính là một hợp đồng bảo hiểm đầy đủ. Nội dung gồm hai phần:
mặt trước và mặt sau của Đơn bảo hiểm. Mặt trước thường ghi các chi tiết về hàng, tàu,
hành trình. Mặt sau thường ghi các điều lệ hay quy tắc của Công ty bảo hiểm. Nội dung
hợp đồng bảo hiểm bao gồm:
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
- Ngày cấp đơn bảo hiểm
- Nơi ký kết hợp đồng bảo hiểm
- Tên và địa chỉ của người mua bảo hiểm
- Tên khách hàng được bảo hiểm
- Qui cách đóng gói, loại bao bì và ký mã hiệu của hàng
- Số lượng, trọng lượng của hàng
- Tên tàu hoặc phương tiện vận chuyển hàng
- Cách xếp hàng trên tàu
dụng (L/C), ngày mở và trị giá L/C, số vận đơn B/L...
- Điều kiện về quan hệ: nếu đã mua bảo hiểm bao của người bảo hiểm nào thì
trong thời gian đó người được bảo hiểm không được phép mua bảo hiểm hàng hóa của
người bảo hiểm khác.
Khi ký kết hợp đồng bảo hiểm bao chủ hàng cần phải lưu ý đến các vấn đề sau:
+ Mỗi chuyến hàng đều phải thông báo cho nhà bảo hiểm biết bằng văn bản.
+ Nếu chủng loại hàng hóa có sự thay đổi chủ hàng cũng phải thông báo cho nhà
bảo hiểm biết bằng văn bản và phải thỏa thuận lại tỷ lệ phí bảo hiểm.
+ Nếu chủ hàng đã ký hợp đồng bảo hiểm bao nhưng sau một khoảng thời gian
nào đó, vì một lý do nào đó cần phải chuyển nhượng cho người khác thì hai bên phải
làm thủ tục chuyển nhượng đúng pháp luật. Và chủ hàng cũ phải ký hậu vào tất cả các
đơn bảo hiểm đã ký kết.
+ Tất cả những giấy tờ, thông báo thay đổi, thỏa thuận phí,... đều phải được
đính kèm với hợp đồng bảo hiểm gốc. Sau khi ký kết, nhà bảo hiểm sẽ cấp đơn bảo
hiểm cho chủ hàng. Đơn bảo hiểm là bằng chứng chứng tỏ chủ hàng đã ký kết đầy đủ,
đúng qui phạm. Đơn này có thể chuyển nhượng từ người đứng tên trong đơn cho người
khác được hưởng quyền lợi của đơn bảo hiểm. Người chuyển nhượng cũng chỉ cần ký
hậu vào đơn và chuyển cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm mới.
Hợp đồng bảo hiểm bao có lợi cho cả hai bên, người bảo hiểm đảm bảo thu được
khoản phí bảo hiểm trong thời hạn bảo hiểm, người được bảo hiểm vẫn được bồi
thường nếu tổn thất đã xảy ra nhưng chưa kịp thông báo bảo hiểm, và phí thì thấp hơn
hợp đồng bảo hiểm chuyến.
1.2.3.3 Giá trị bảo hiểm, số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm.
a, Giá trị bảo hiểm
Giá trị bảo hiểm là giá trị của đối tượng lúc bắt đầu tham gia bảo hiểm, trong bảo
hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu giá trị bảo hiểm thường được tính theo giá trị CIF nghĩa
là bao gồm giá hàng hóa tại cảng đi C (cost), cộng phí bảo hiểm I (Insuarance), và cước
phí vận chuyển tới cảng đích F (Frieght). Ngoài ra để đảm bảo quyền lợi của mình,
người được bảo hiểm có thể bảo hiểm thêm cả khoản lãi dự tính cho việc xuất, nhập
khẩu mang lại.
−
+
1
a là lãi dự kiến, và theo tập quán quốc tế a thường là 10%.
b, Số tiền bảo hiểm
Số tiền bảo hiểm là số tiền mà người tham gia đăng ký bảo hiểm cho hàng hóa của
mình dựa trên giá trị bảo hiểm. Nó có thể là toàn bộ hay một phần giá trị bảo hiểm do
người bảo hiểm yêu cầu và được bảo hiểm.
- Nếu số tiền bảo hiểm bằng giá trị bảo hiểm được gọi là bảo hiểm ngang giá trị
hay bảo hiểm toàn phần.
- Nếu số tiền bảo hiểm nhỏ hơn giá trị bảo hiểm thì được gọi là bảo hiểm dưới giá
trị. Trong trường hợp này, khi tổn thất toàn bộ xảy ra , nhà bảo hiểm sẽ bồi thường cho
người được bảo hiểm số tiền lớn nhất chỉ bằng số tiền bảo hiểm. Nếu xảy ra tổn thất bộ
phận, nhà bảo hiểm sẽ bồi thường số tiền bằng giá trị tổn thất nhân tỷ lệ giữa số tiền bảo
hiểm và giá trị bảo hiểm.
- Nếu số tiền bảo hiểm lớn hơn giá trị bảo hiểm được gọi là bảo hiểm trên giá trị
thì phần vượt quá đó sẽ không được tính. Do vậy bảo hiểm trên giá trị là rất hiếm.
Trường hợp đối tượng bảo hiểm được bảo hiểm trùng tức là cùng rủi ro cùng giá
trị bảo hiểm nhưng được bảo hiểm bởi nhiều công ty bảo hiểm khác nhau thì trách
nhiệm của các công ty bảo hiểm chỉ giới hạn trong phạm vi của mình được tính theo tỷ
lệ tham gia các hợp đồng bảo hiểm của các công ty.
Trong bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu nếu số tiền bảo hiểm chỉ bằng giá trị
FOB hay CFR thì người được bảo hiểm chưa bảo hiểm đầy đủ giá trị có nghĩa là bảo
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
19
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
hiểm dưới giá trị.
c, Phí bảo hiểm
Phí bảo hiểm là khoản tiền mà người tham gia bảo hiểm phải trả cho nhà bảo hiểm
để được bồi thường nếu không may tổn thất do các rủi ro đã thỏa thuận gây nên. Phí
cần giám định và có giám định cũng không giám định được.
Việc giám định tổn thất nhằm xác định được tổn thất thuộc trách nhiệm của các
bên có liên quan, có thuộc phạm vi bảo hiểm hay không.
Ước tính chính xác mức độ tổn thất giúp nhà bảo hiểm xác định được số tiền bảo
hiểm, đồng thời giúp chủ hàng xác định được đầy đủ quyền lợi của mình. (giám định
tổn thất chính là cơ sở để tiến hành khiếu nại bồi thường và giải quyết khiếu nại)
Giám định tổn thất để có biện pháp xử lý và ngăn ngừa tổn thất lây lan nhằm hạn
chế mức độ tổn thất có hiệu quả nhất.
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
b, Nội dung
khi có yêu cầu giám định tổn thất, các chuyên viên giám định sẽ tiến hành giám
định để :
- Xác định được loại tổn thất và nguyên nhân tổn thất cho hàng hóa là do hư
hỏng, đổ vỡ, ẩm mốc, hay thiếu hụt tự nhiên. Nguyên nhân tổn thất là bốc xếp đâm va,
bão lũ...
- Xác định trách nhiệm tổn thất thuộc về ai :
Tổn thất thuộc về người mua hay người bán, thuộc về khách hàng hay người bảo
hiểm, người vận tải hay cơ quan giao nhận cảng.
- Xác định chính xác mức độ tổn thất :
Sau khi giám định, người giám định sẽ cấp chứng thư giám định. Chứng thư gồm
hai loại: Biên bản giám định và Giấy chứng nhận giám định.
+ Giấy chứng nhận giám định thường dùng khi người bảo hiểm là các công ty
của Việt Nam.
+ Biên bản giám định là chứng từ quan trọng trong việc đòi bồi thường khi hàng
cập cảng đến, nếu tổn thất phải yêu cầu giám định ngay.
- Tổ chức giám định đáp ứng được các yêu cầu của công ty Giám định tônt thất :
+ Giám định khách quan, trung thực, kịp thời, chính xác.
+ Bám sát hiện trường để phản ánh được cụ thể tình hình tổn thất của đối tượng
Khi thanh toán tiền bồi thường, người bảo hiểm có thể khấu trừ những khảon thu
nhập của người được bảo hiểm trong việc bán hàng hóa và đòi người thứ ba.
Cách tính toán bồi thường tổn thất:
o Tổn thất toàn bộ.
- Tổn thất toàn bộ thực tế (actual total loss): Người bảo hiểm sẽ bồi thường toàn
bộ STBH hoặc GTBH. Số tiền bồi thường P=V (Giá trị bảo hiểm) hoặc P=A (số tiền
bảo hiểm) nếu STBH < GTBH.
- Tổn thất toàn bộ ước tính (cosntructive total loss): có hai trường hợp xảy ra:
+ Nếu người được bảo hiểm có thông báo từ bỏ lô hàng và được người bảo hiểm
chấp nhận thì người được bảo hiểm phải bồi thường toàn bộ.
+ Nếu người bảo hiểm không từ bỏ lô hàng hoặc từ bỏ nhưng không được người
bảo hiểm chấp nhận thì chỉ được bồi thường như tổn thất bộ phận
o Tổn thất bộ phận.
Về nguyên tắc, số tiền bồi thường được xác định:
P =
1
21
V
VV
−
× A hoặc (A/V)
Trong đó:
V1: Giá trị của hàng hóa khi còn nguyên vẹn tại cảng dỡ hàng
V2: Giá trị hàng hóa khi đã bị tổn thất tại cảng dỡ hàng
A: nếu STBH =GTBH
A/V: nếu STBH < GTBH
Việc tính toán số tiền bảo hiểm theo công thức này mới đảm bảo bồi thường thật
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
1
thì mới thu đủ số tiền bồi thường, còn nếu nhập khẩu theo điều kiện CIF hay
CIP thì GTBH phải bằng CIF hoặc CIP công thêm 10%
- Bồi thường các phí: Các chi phí được người bảo hiểm bồi thường bao gồm :
+ Chi phí tố tụng, đề phòng tổn thất và các chi phí được chi ra nhằm ngăn ngừa
hạn chế hoặc để bảo vệ quyền lợi của hàng hóa được bảo hiểm hoặc những chi phí có
liên quan đến việc đòi người thứ ba bồi thường.
+ Chi phí giám định tổn thất thuộc trách nhiệm bảo hiểm.
o Bồi thường tổn thất chung :
- Hy sinh tổn thất chung: Nếu toàn bộ hay một phần hàng hóa phải hy sinh để cứu
tàu và được công nhận là tổn thất chung thì người bảo hiểm phải bồi thường giá trị đã
hy sinh.
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
23
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: ThS.Tô Thiên Hương
- Đóng góp tổn thất chung: trên cơ sở bảng phân bố tổn thất chung do chuyên viên
tính toán lập nên, người bảo hiểm sẽ bồi thường phần đóng góp của chủ hàng vào tổn
thất chung dù hàng hóa có hy sinh hay không, dù bảo hiểm theo điều kiện gì.
Nguyễn Văn Minh Bảo hiểm 48A
24