- Công ty Cổ phần đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp Sông Đà (SUDICO)
%.*/012(3,(4(5,63+7++8/9,-
Lĩnh vực hoạt động chính: Hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm phi
nhân thọ; Đầu tư tài chính; Các dịch vụ tài chính khác.
1
Nguyê
̃
n Văn Minh Bảo hiểm 48A
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: cung cấp hơn 20 nhóm sản phẩm bảo
hiểm thương mại cho kỹ thuật, tài sản, trách nhiệm con người, xe cơ giới, hàng
không, hàng hải, hàng hóa vận chuyển.
- Hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm phi nhân thọ: đây là một công cụ quản lý rủi ro
đảm bảo khả năng tài chính cho các hợp đồng có giá trị bảo hiểm lớn và tăng doanh
thu từ phí nhận tái bảo hiểm và hoa hồng từ nhượng tái bảo hiểm. GIC đã xây dựng
được mối quan hệ hợp tác với hầu hết công ty tái bảo hiểm có uy tín trên toàn thế
giới, như Swiss Re, Murich re, Lububan Re,và Vinare….
- Đầu tư tài chính là một kênh chính tạo ra lợi nhuận cho công ty, điều hòa nguồn
vốn sử dụng và sử dụng tối đâ hợp lý nguồn vốn nhàn rỗi, nhằm nâng cao năng lực
tài chính, hỗ trợ khả năng khai thác. Như đầu tư bất động sản, đầu tư chứng
khoán…
Khách hàng tiêu biểu của công ty là: Tập đoàn điện lực Việt Nam (BH tài sản của
các tập đoàn, các công trình xây dựng, lắp đặt thủy điện, nhiệt điện); Hệ thống kho
bạc tên toàn quốc; Công ty bay dịch vụ miền Bắc; Công ty bay dịch vụ miền Nam;
Cụm cảng hàng không miền Nam; Công ty vận tải dầu khí Palcon… và các khách
hàng lớn khác.
Cơ cấu tổ chức
2
Nguyê
̃
+ Hỗ trợ các phòng khác kinh doanh các loại hình bảo hiểm khác có liên quan đến nghiệp
vụ hàng hải.
+ Tham mưu cho ban giám đốc các vấn đề có liên quan đến nghiệp vụ hàng hải..
- Bộ phận phi hàng hải
+ Trực tiếp kinh doanh các nghiệp vụ bảo hiểm phi hàng hải: bảo hiểm xe cơ giới; bảo
hiểm toàn diện học sinh, bảo hiểm du lịch…
+ Hỗ trợ các phòng khác kinh doanh các loại hình bảo hiểm khác có liên quan đến nghiệp
vụ phi hàng hải.
+ Tham mưu cho Ban Giám Đốc các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểm phi hàng
hải.
+ Là đầu mối liên lạc với các Phòng ban chức năng thuộc công ty và các cơ quan liên
quan khác để giải quyết các vấn đề liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểm phi hàng hải.
+ Phát triển và quản lý hệ thống đại lý hoạt động thuộc bộ phận phi hàng hải quản lý.
- Bộ phận TS-KT:
+ Trực tiếp khai thác nghiệp vụ kinh doanh bảo hiểm tài sản và kỹ thuật như: bảo hiểm tài
sản, bảo hiểm cháy nổ; bảo hiểm xây dựng lắp đặt…
+ Hỗ trợ các loại hình bảo hiểm có liên quan đến nghiệp vụ bảo hiểm Tài sản và Kỹ thuật,
đối với các phòng ban của công ty, các chi nhánh theo phân cấp và phân công.
+ Tham mưu cho ban lãnh đạo công ty để tổ chức thực hiện, triển khai các kế hoạch của
Công ty đối với nghiệp vụ Tài sản và Kỹ thuật.
- Bộ phận tổ chức hành chính tổng hợp:
+ Tổ chức thực hiện việc quản lý hành chính tổng hợp của công ty. Hướng dẫn và hỗ trợ
các chi nhánh về công tác tổ chức nhân sự theo chỉ đạo của Công ty.
+ Tham mưu cho ban giám đốc các vấn đề liên quan đến công tác tổ chức hành chính tổng
hợp của công ty.
+ Phụ trách các vấn đề về trang thiết bị nhằm đảm bảo hoạt động của văn phòng
- Bộ phận kế toán:
+ Quản lý tài chính của công ty, kế toán thống kê hoạt động của công ty.
+ Tham mưu cho ban giám đốc về vấn đề tài chính của công ty. Thực hiện báo cáo kết quả
kinh doanh, để lãnh đạo đưa ra các phương hướng chỉ đạo cụ thể.
thu, tình hình bồi thường như vậy là tương đối tốt.
Sau hơn một năm hoạt động, lợi nhuận doanh nghiệp sau thuế đạt 5,343 tỷ đồng,
tuy còn khiêm tốn nhưng con số này chúng tỏ khả năng phát triển của Công ty.
- Năm 2008, doanh thu phí công ty đạt 385,810 tỷ đồng, đạt 341,98% so với cùng
kỳ năm trước, trong đó doanh thu của EVN chiếm 5% tổng doanh thu.
Tổng số tiền bồi thường là 45,861 tỷ đồng, chiếm 22,8% doanh thu. Tình hình bồi
thường toàn công ty nhìn chung là tốt, tuy nhiên ở một số nghiệp vụ như Bảo hiểm
Hàng hóa, Xe cơ giới, Tai nạn con người có tỷ lệ bồi thường khá cao, trong đó bảo hiểm
hàng hóa vận chuyển là 42% doanh thu phí đạt được.
Tổng chi phí quản lý là 65,196 tỷ đồng, chiếm 16,9% doanh thu. Chi phí quản lý
Công ty giảm về mặt tương đối so với năm trước là 7%, nguyên nhân chủ yếu theo đánh giá
của Công ty là các chi nhánh đã có tiến bộ rất lớn về doanh thu so với năm trước nên các
khoản chi cố định đã giảm đi nhiều.
- Hiện nay, GIC là công ty thứ 5 cung cấp được loại hình bảo hiểm tàu biển, và là
5
Nguyê
̃
n Văn Minh Bảo hiểm 48A
công ty thứ 3 cung cấp đầy đủ các sản phẩm của bảo hiểm hàng không.
- Đặc biệt sản phẩm “Bảo hiểm toàn diện hộ gia đình” là sản phẩm riêng chỉ có ở GIC.
Đây là bảo hiểm hỗn hợp, toàn diện, vừa phù hợp với sự phát triển của thị trường, vừa
mang tính xã hội hóa cao, kết hợp với mạng lưới cán bộ nhân viên của ngành điện. GIC
đã đưa ra sản phẩm này nhằm bảo hiểm cho các hộ sử dụng điện trên toàn quốc.
Thời gian triển khai chương trình Bảo hiểm hộ gia đình bắt đầu từ tháng 03 năm
2008 và tính đến hết năm 2008 doanh thu phí đạt được 430 triệu đồng. Chương trình
mang tính chất lâu dài nên thời gian đầu doanh thu còn thấp, chi phí triển khai còn cao.
2.2 W
,((W
,'B
%^
I^I^19,-'B
+@(B%'(B
+XB
=(%E
H
Công tác khai thác là một khâu rất quan trọng trong các doanh nghiệp, các công
ty, khai thác được coi như là đầu vào cho hoạt động sản xuất tạo ra lợi thế thương mại
cuối cùng cho doanh nghiệp, nó quyết định đến sự sống còn của công ty. Doanh nghiệp
bảo hiểm kinh doanh dịch vụ tài chính không có hoạt động sản xuất cho nên họ chủ yếu
tập trung vào khai thác thị trường. Nếu công ty khai thác tốt tức là bán được nhiều hợp
đồng bảo hiểm, mang lại doanh thu lớn sẽ là cơ sở để tăng lợi nhuận, chiếm lĩnh thị
phần, nâng cao vị thế của mình trên thị trường bảo hiểm. Chính vì tính chất quan trọng
của khâu khai thác mà hầu hết các công ty bảo hiểm phải lập ra các chiến lược khai thác.
Công việc khai thác càng trở nên khó khăn hơn trong điều kiện thị trường cạnh tranh
ngày càng gay gắt, trước tình hình đó đòi hỏi các công ty phải tổ chức tốt khâu khai
thác. Đối với Bảo Minh mục tiêu và cũng là thước đo hiệu quả của khâu khai thác là xây
dựng và phát triển một thị trường bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu ổn định lâu dài và
tăng trưởng cao, để làm được điều đó công ty càn phải làm được một số việc sau:
Vào đầu năm các nhân viên của phòng bảo hiểm hàng hải phải thu thập được
thông tin về kim ngạch xuất nhập khẩu như chủng loại hàng hoá, số lượng hàng hoá của
từng công ty xuất nhập khẩu, qua đó sẽ tập hợp số liệu để lập kế hoạch khai thác và định
mức thu phí trong năm cho các đối tượng. Đối với khách hàng mới thì các cán bộ phải
theo trình tự sau:
a. Kiểm tra chứng từ và đánh giá rủi ro
- Đánh giá rủi ro:
+ Đây là bước nghiên cứu để dự kiến mức độ rủi ro có thể xảy ra đối với lô hàng
và tàu trong suốt hành trình.
+ Đối với tàu chở hàng, các cán bộ khai thác của công ty phải xem xét kỹ các yếu
tố sau:
o Thứ nhất: quốc tịch của tàu và chủ tàu. Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến
độ an toàn của hành trình. Chẳng hạn tàu có quốc tịch Đông Âu thường xảy ra tổn thất
thấp hơn tàu của các vùng khác.
o Thứ hai: là nếu tàu được bảo hiểm thân tàu tại Bảo Minh thì kiểm tra xem
7
Nguyê
̃
n Văn Minh Bảo hiểm 48A
tổng giá trị của tàu và hàng có vượt quá phân cấp 11 triệu USD hay không ? Trường hợp
vượt quá sẽ thông báo cho phòng tái bảo hiểm để thu xếp nhượng tái.
o Thứ ba: là khả năng tài chính của chủ tàu, nếu chủ tàu có khả năng tài chính
tốt thì ít xảy ra tranh chấp.
o Thứ tư: tuổi của tàu. Đối với tàu già, khả năng gây tổn thất sẽ tăng lên thậm
chí không đủ khả năng đi biển. Trong trường hợp này cần thu thêm phụ phí tàu già. Nếu
khách hàng nhập hàng theo giá CIF thì khai thác viên đề nghị khách hàng áp đặt vấn đề
của tàu và bảo lưu quyền đòi lại phí tàu già trên hợp đồng mua bán. Đối v ới hàng hoá
bảo hiểm các nhân viên cần phải xem xét các vấn đề sau: Vấn đề thứ nhất là loại hàng
(bao gồm chủng loại, tính chất, nội tỳ hàng hoá). Vấn đề thứ hai là phương thức đóng
gói, bao bì, chất xếp hàng hoá, phương thức vận chuyển, ký mã hiệu.
Đối với cảng đi, cảng đến: cũng là yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ xảy ra tổn thất cho
hàng hoá vì nó chứa đựng rất nhiều các yếu tố liên quan như người bán hàng, người
nhận hàng, tình trạng bốc xếp, tập quán của cảng. Qua việc nghiên cứu cảng đi, cảng
đến, nhân viên bảo hiểm biết được những rủi ro hàng hoá nào có thể gặp đối với hành
b. Xem xét chấp nhận, từ chối bảo hiểm.
- Từ chối bảo hiểm: Sau khi kiểm tra nếu thấy chứng từ không hợp lệ và không
thể căn cứ vào đó để cấp đơn bảo hiểm, khai thác viên bảo hiểm sẽ từ chối ngay bằng
cách lập công văn từ chối và gửi bằng fax hay qua đường bưu điện kèm theo các tài liệu
giải thích cho khách hàng hiểu.
- Chấp nhận bảo hiểm: Sau khi kiểm tra hồ sơ yêu cầu bảo hiểm, phân tích số
liệu thống kê, phân tích khả năng tài chính của khách hàng, đánh giá rủi ro nếu thấy đạt
yêu cầu thì Công ty quyết định bảo hiểm, đồng thời thoả thuận thời gian giao kết hợp
đồng chính thức.
c. Cấp đơn bảo hiểm.
Khi đã đồng ý bảo hiểm, khai thác viên vào sổ cấp đơn, số đơn bảo hiểm được
lấy theo số thứ tự trong sổ. Tiếp theo tiến hành tính số tiền bảo hiểm, tỷ lệ phí bảo hiểm,
người được bảo hiểm có thể yêu cầu bảo hiểm theo một trong các giá trị: FOB, CF, CIF
và thêm vào đó tỷ lệ lãi ước tính.
Các điều kiện bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển
hiện đang được GIC áp dụng gồm: Bộ điều khoản ICC 01/01/1982 hay 01/11/1963 hoặc
QTC-90. Tuy nhiên ICC 01/01/1982 là thông dụng nhất và đang được sử dụng ở hầu hết
các hợp đồng trong đó gồm có:
- Điều khoản bảo hiểm hàng hoá (Institute Cargo Clauses), (A), (B), (C) ngày
01/01/1982.
- Điều khoản bảo hiểm chiến tranh cho hàng hoá (Institute War Clauses)
01/01/1982.
9
Nguyê
̃
n Văn Minh Bảo hiểm 48A