LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ
Giáo viên hướng dẫn là Cô Đoàn Bích Hạnh. Các nội dung nghiên cứu và kết
quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ
công trình nghiên cứu nào trước đây. Những số liệu trong các bảng biểu phục
vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các
nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài còn sử
dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ
chức khác, và cũng được thể hiện trong phần tài liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước hội đồng thẩm định, cũng như kết quả luận văn của mình.
Hà Nôi, ngày 4 tháng 6 năm 2014
Tác giả
Vi Văn Dũng
i
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận
được sự quan tâm giúp đỡ của gia đình, thầy cô, bạn bè…để tôi có thể hoàn
thành đề tài của mình, tôi xin cám ơn:
Gia đình tôi, nhất là mẹ và em tôi luôn giúp đỡ quan tâm, chia sẻ giúp đỡ,
sát cánh và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và thực
hiện khóa luận.
Tôi xin cám ơn giáo viên hướng dẫn cô Đoàn Bích Hạnh đã tận tình hướng
dẫn chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa
luận.
Tôi xin cám ơn tất cả cán bộ, nhân viên, giáo viên Trường Đại học Nông
Nghiệp Hà Nội đã tạo mọi điều kiện tốt nhất trong quá trình tôi học tập
nghiên cứu tại trường.
Tôi xin cám ơn tập thể cơ quan, ban, ngành: UBND huyện Bảo Lâm –
Cao Bằng, Chi cục Thống kê, Phòng Nông nghiệp, Phòng Tài nguyên và Môi
trường huyện Bảo Lâm đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi hoàn
2.1.4 Vai trò chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 9
2.1.5 Các nhân tố tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp 10
2.2 Cơ sở thực tiễn 11
2.2.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một số nước thế giới
11
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 20
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
iii
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 20
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 20
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 23
3.1.3 Đánh giá tiềm năng của huyện 35
3.2 Phương pháp nghiên cứu 36
3.2.1 Chọn địa điểm nghiên cứu 36
3.2.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 37
PHẦN IV: THỰC TRẠNG CHUYỂN DICH CƠ CẤU NÔNG NGHIỆP HUYỆN BẢO LÂM
GIAI ĐOẠN (2009 – 2013) 37
4.1 Thực trạng chuyển dich cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Bảo Lâm 38
4.2.1 Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành trồng trọt 42
4.2.2 Chuyển dịch cơ cấu nội bộ ngành chăn nuôi 51
4.2.3 Chuyển dịch cơ cấu nội ngành thủy sản 59
4.3 Đánh giá chung 63
4.3.1 Những thành tựu 63
4.3.2 Những hạn chế 64
4.3.3 Nguyên nhân 64
4.4 Định hướng và giải pháp 65
4.4.1 Định hướng phát triển 65
4.4.2 Giải pháp 72
PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận 75
giai đoạn 2010-2013 31
Biểu 4.1: biểu đồ cơ cấu kinh tế huyện Bảo Lâm 2009-2013 40
Biểu 4.2 Biểu đồ cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp 42
Biểu 4.2.3 biểu đồ cơ cấu diện tích gieo trồng nông nghiệp huyện Bảo Lâm
giai đoạn 2009-2013 49
Biểu 4.2.4 biểu đồ cơ cấu giá trị ngành chăn nuôi của huyện Bảo Lâm 53
giai đoạn 2009-2013 53
Biểu 4.2.5 biểu đồ cơ cấu số lượng vật nuôi của huyện Bảo Lâm 57
giai đoạn 2009-2013 57
3. NÔNG NGHIỆP HÀN QUỐC TRÊN ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN 77
vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GT Giá trị
GTSX Giá trị sản xuất
SL Sản lượng
CN Công nghiệp
NN Nông nghiệp
DV Dịch vụ
DT Diện tích
LN Lâm nghiệp
TS Thủy sản
SX Sản xuất
CNH – HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
vii
LỜI MỞ ĐẦU
Nông nghiệp nước ta trong nhiều năm qua đã góp phần to lớn vào công
cuộc đổi mới đất nước, góp phần cải thiện đời sống của người dân. Đặc biệt
trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới việc phát huy được sức mạnh của
mình sẽ là yếu tố sống còn của một nền kinh tế hội nhập. Với lợi thế điều kiện
tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và truyền thống lâu đời về canh
chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản
xuất hàng hóa tập trung gắn liền với các khu công nghiệp chế biến công nghệ
cao và gần thị trường. Áp dụng các tiễn bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng năng
suất, chất lượng và sức cạnh tranh của sản phẩm, tăng nhanh tỷ trọng giá trị
sản phẩm và lao động trong các ngành công nghiệp và dịch vụ…
Trong những năm qua cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn về cơ bản đã
chuyển sang sản xuất hàng hóa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Nhưng kết quả đạt được chưa xứng với tiềm năng của một nước nông nghiệp
nhiệt đới gió mùa nhiều lợi thế như: cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm;
2
chưa đáp ứng đúng như cầu và yêu cầu của thị trường đặc biệt là các thị
trường lớn như EU, Mỹ, Nhật; sản xuất nhiều nơi còn nhỏ lẻ, lạc hậu, thiếu
bền vững và khả năng canh tranh của nhiều nông phẩm còn thấp. Tỷ lệ nghèo
đói và tình trạng thiếu việc làm, thất nghiệp ở nông thôn còn cao như hiện
nay, không có sự giàu có của nông dân thì không có sự giàu có của quốc gia,
không có hiện đại hóa nông thôn thì không có hiện đại của một quốc gia. Do
vậy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, theo hướng sản xuất
hàng hóa chuyên môn hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa có vị trí vai trò quan
trọng trong thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo công ăn, việc làm, xóa đói giảm
nghèo, xây dựng nông thôn hiện đại, giàu đẹp góp phần đưa nước ta thành
nước công nhiệp, hiện đại, giàu đẹp văn minh.
Bảo Lâm là huyện vùng cao biên giới nằm ở phía Tây của tỉnh Cao Bằng,
huyện có diện tích tự nhiên là 902 km
2
, huyện có 13 xã và 1 thị trấn, dân số
56.696 người (năm 2013), có 9 dân tộc đang định cư, chiếm tới 45% là dân
tộc Hmông, 25% Tày, 15% Nùng, còn lại là Lô Lô, Sán Chỉ, Dao, Kinh, Hoa,
Quý Châu. Trong những năm qua thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng và
chủ trương, chính sách của nhà nước, nền kinh tế - xã hội của huyện đã có
nhiều thay đổi, chuyển biến rõ nét trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
- Phạm vi không gian: trên địa bàn huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng.
- Phạm vi thời gian: 5 năm (2009 – 2013)
4
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm liên quan
* Cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế hiểu một cách đầy đủ là một tổng thể hệ thống kinh tế bao
gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau
trong những khoảng không gian và thời gian nhất định, được thể hiện cả về
mặt tĩnh và định lượng, cả về mặt số lượng lẫn chất lượng, phù hợp với mục
tiêu được xác định của nền kinh tế.
Về mặt bản chất: cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận
kinh tế với vị trí, tỷ trọng tương ứng của chúng với mỗi quan hệ hữu cơ tương
đối ổn định hợp thành.
*Cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Kinh tế nông nghiệp bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp là
lĩnh vực sản xuất vật chất nhằm đáp ứng những nhu cấu thiết yếu về lương
thực thực phẩm cho nhân dân, làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp va
là nguồn hàng cho xuất khẩu.
Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp là đại lượng kinh tế phản ánh số lượng
các bộ phận cấu thành trong ngành (các chuyên ngành trong nông nghiệp) và
mối quan hệ tỷ lệ của từng chuyên ngành trong toàn ngành nông nghiệp (được
tính theo giá trị tổng sản lượng).
a. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế là một tổng thể các mối quan hệ tỷ lệ về số lượng tương
đối ổn định của các bộ phận của nền kinh tế trong những điều kiện thời gian
và không gian nhất định. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự tác động làm thay
đổi dần tỷ trọng của từng ngành kinh tế, từng thành phần kinh tế, tỷ trọng lao
động của từng ngành trong tổng thể nền kinh tế.
Ngành là một tổng thể các đơn vị kinh tế thực hiện một loạt các chức năng
trong hệ thống phân công lao động xã hội. Ngành phản ánh một loạt hoạt
động nhất định của con người trong quá trình sản xuất xã hội, nó được phân
theo tính chất và đặc điểm của công nghệ, đặc tính của sản phẩm sản xuất ra
và chức năng của nó trong quá trình tái sản xuất.
Trong một vùng lãnh thổ bao giờ cũng phát triển nhiều ngành kinh tế. Mỗi
vùng lãnh thổ nông nghiệp bao giờ cũng có nhiều ngành với mối quan hệ mật
thiết với nhau. Chính vì vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành trong
nông nghiệp chính là làm thay đổi các quan hệ tỵ lệ giữa các ngành trong
GDP của vùng đó.
Các ngành trong cơ cấu kinh tế kinh tế nông thôn ra đời và phát triển dựa
trên phân công lao động xã hội. Như vậy phân công theo ngành là cơ sở hinhg
thành các ngành và cơ cấu ngành. Chính vì vậy chuyển dịch cơ cấu ngành trong
cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn là một quá trình chuyển từ trạng thái cơ
cấu cũ sang cơ cấu mới phù hợp hơn với sự phát triển của khoa học công nghệ,
nhu cầu thị trường và nhằm sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực của vùng.
2.1.3.2 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ
Sự phân công lao động theo ngành kéo theo sự phân công lao động theo
lãnh thổ, đó là hai mặt của quá trình gắn bó hữu cơ với nhau, thúc đẩy nhau
phát triển. Sự phân công lao động theo ngành bao giờ cũng diễn ra trên một
lãnh thổ nhất định. Vì vậy cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ chính là sự bố trí
các ngành sản xuất và dịch vụ theo không gian cụ thể nhằm khai thác tiềm
năng và lợi thế so sánh của từng vùng. Xu thế chuyển dịch cơ cấu vùng lãnh
thổ là theo hướng đi vào chuyên môn hóa, tập trung sản xuất hàng hóa và dịch
vụ, hình thành những vùng sản xuất hàng hóa lớn, tập trung có hiệu quả cao,
7
mở rộng mối quan hệ với các vùng chuyên hóa khác, gắn với cơ cấu kinh tế
của từng vùng với cả nước.
2.1.3.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế
Cơ cấu thành phần kinh tế là nội dung quan trọng của quá trình chuyển dịch
Thứ ba, giúp hình thành và phát triển các ngành mới có khả năng ứng dụng
tiến bộ khoa học, chuyên môn hóa hơn, tập trung hơn, chuyển dịch cơ câu
nông nghiệp là một phần của chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xa hơn là tự động hóa thì
nông nghiệp cũng phải công nghiệp để giảm sức lao động và tăng xuất, khi
các điều kiện khác khó có thể thay đổi thì thay đổi khoa học kỹ thuật là biện
pháp hữu hiệu nhất.
Thứ tư, tạo cơ hội cho các ngành phụ trợ như dịch vụ nông nghiệp, công
nghiêp chế biến hình thành và phát triển. Khí một ngành mới, ra đời cần có
đầu vào mới và đầu ra mới thì chúng sẽ hình thành thì trường đầu vào mới và
đầu ra mới thì đó là sẽ giúp các dịch vụ bổ trợ cho nó ra đời, và công nghiệp
chế biến mới để chế biến đầu ra đó.
Thứ năm, theo xu thế chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tập
trung và chuyên môn hóa sẽ hình thành các vùng nguyên liệu sẽ là yếu tố tập
trung thu hút đầu tư công nghiệp chế biến.
b. Đối với xã hội
Thứ nhất, chuyển dịch cơ cấu đồng nghĩa với chuyển dịch lao động, sẽ
giúp giải quyết việc làm và cung cấp nhiều lao động cho các ngành công
nghiệp và dịch vụ khác.
9
Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu kinh tế sẽ làm cho bộ mặt nông thôn thay đổi
rõ rệt,vì đồng hành với đó giao thông cơ sở hạ tầng, y tế, trường học sẽ được
xậy dựng để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người nông dân.
2.1.5 Các nhân tố tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
a. Điều kiện tự nhiên: ở những vị trí địa lý khác nhau và khí hậu khác nhau
việc xác định cơ cấu kinh tế nông nghiệp cũng khác nhau. Xác định cơ cấu
kinh tế nông nghiệp cũng đồng nghĩa với việc xác cơ cấu kinh tế nông nghiệp
ở các vùng có điều kiện tự nhiên và khí hậu khác nhau. Do đó cơ cấu kinh tê
nông nghiệp của một vùng lãnh thổ bao giờ cũng dựa trên vị trí địa lý và khí
hậu của từng vùng đó. Nhưng trong vài năm trở lại đây với công nghệ mới
2.2.1 Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của một số
nước thế giới
Chúng ta sẽ xem xét một trong những thành tựu mà nhờ chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp mà một số quốc gia trên thế giới đạt được, qua đó
chúng ta có thể rút ra một số kinh nghiệm và hiểu thêm ý nghĩa của chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
2.2.1.1 Kinh nghiệm đổi mới nông nghiệp của Hàn Quốc
Hàn Quốc là quốc gia mới nổi của châu Á có nền kinh tế phát triển đứng
thứ ba châu Á và thứ 10 thế giới về GDP. Sau Chiến tranh Triều Tiên, kinh tế
Hàn Quốc đã phát triển nhanh chóng, từ một trong những nước nghèo nhất
thế giới trở thành một trong những nước giàu nhất. Cuối thế kỷ 20, Hàn
Quốc là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tếnhanh nhất trong
lịch sử thế giới hiện đại. GDP (PPP) bình quân đầu người của đất nước đã
nhẩy vọt từ 100 USD vào năm 1963 lên mức kỉ lục 10.000 USD vào năm
1995 và 25.000 USD vào năm 2007. Bất chấp các ảnh hưởng nặng nề từ
cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á 1997, nước này đã khôi phục kinh tế rất
11
nhanh chóng và vững chắc. Người ta thường nhắc đến sự phát triển thần kỳ về
kinh tế của Hàn quốc như là "Huyền thoại sông Hán", đến nay huyền thoại
này vẫn tiếp tục. Hàn Quốc cũng là một nước phát triển có sự tăng trưởng
kinh tế nhanh nhất, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân là 5% mỗi năm -
một phân tích gần đây nhất bởi Goldman Sachs năm 2007 đã chỉ ra Hàn Quốc
sẽ trở thành nước giàu thứ 3 trên thế giới vào năm 2025 với GDP bình quân
đầu người là 52.000 USD và tiếp 25 năm sau nữa sẽ vượt qua tất cả các nước
ngoại trừ Hoa Kỳ để trở thành nước giàu thứ hai trên thế giới, với GDP bình
quân đầu người là 81.000 USD.
Những thành tựu trên đạt được của kinh tế Hàn Quốc được góp một phần
không nhỏ bởi nông nghiệp. Hàn Quốc có 21% diện tích đất trồng trọt với đặc
trưng về khí hậu và địa lý của khu vực gió mùa với sự tập rõ rệt lượng mưa
vào mùa hè và cấu tạo đất giữ nước tốt. Trên cơ sở đặc trưng này mà nghề
Vào những năm 60 của thế kỉ trước, nông thôn Hàn Quốc còn hết sức lạc hậu
đời sống vô vàn khó khăn. Cả nước có đến 74% dân số thuộc nhóm nghèo đói và
chỉ có 20% dân số tiếp cận với điện, nhưng thiên tai lũ lụt triền miên, người dân
Hàn Quốc phải gánh chịu và tự khắc phục hậu quả. Lũ lụt năm 1969, là một trận
lũ lịch sử có sức phá hoại rất lớn, người dân Hàn Quốc phải tu sửa lại nhà cửa,
đường xá, mà không có sự hỗ trợ của chính phủ. Điều này, làm cho tổng thống
đương nhiệm Park Chung Hee suy nghĩ là làm sao phát triển kinh tế vùng nông
thôn và ông nhận ra rằng, sự trợ giúp của chính phủ cũng vô nghĩa nếu người
dân không tự giúp chính mình, hơn nữa khuyến khích nội lực trong cộng đồng
nông thôn và mở rộng hợp tác là chìa khóa phát triển nông thôn, ý tưởng này
chính là nền tảng cho phong trào Saemaul.
Trong quá trình tiến hành phong trào Saemaul canh tân nông thôn, Chính
phủ đã vạch ra đường lối chỉ đạo thực tiễn là “đi từng bươc, đừng nhiều quá,
quá nhanh”; đối với chính quyền không gượng ép người dân và tất cả các dự
án phải có tác dụng nâng cao lợi ích chung cùng lợi ích của nông dân. Trong
13
việc khuyến khích nông dân, chính quyền sẽ giúp đỡ và ưu tiên trợ giúp
những người chứng tỏ tinh thần cao về tự lực và hợp tác.
Với đường lối chỉ đạo như vậy, Chính phủ đã lien tục chỉ điều chỉnh chính
sách hộ trợ phát triển đề phù hợp với tình hình thực tiễn. Năm 1971, các dự án
phát triển nông thôn thực hiện hỗ trợ cho 33 nghìn làng với mỗi làng là 300
bao xi măng. Đất đai và công lao động do người dân trong chính các làng tự
đóng góp. Đến năm 1972, chiến lược đầu tư đã được điều chỉnh, Chính phủ
đã lựa chọn một nữa số làng đã thực hiện tốt hơn để tiếp tục hỗ trợ trong 33
nghìn làng của năm 1971. Nhưng nhà nước đã tăng cường đầu tư cho các làng
1 tấn thép và tăng thêm 500 bao xi măng.
Để khuyến khích của hoạt động của từng làng, Chính quyền thực hiện việc
đánh giá, sắp xếp cho các làng theo 3 nhóm: nhóm làng tích cực nhất, nhóm
làng trung bình và nhóm làng cơ bản. Bằng việc trao thưởng cho mỗi làng
2000 đô la nếu được thăng nhóm xếp hạng nhờ đẩy nhanh quá trình nông thôn
nhau của ba lục địa: châu Á, châu Âu, châu Phi.
Kinh tế Israel là một nền kinh tế đa dạng với quyền sở hữu chủ yếu của
chính phủ và phát triển nhanh nhờ công nghệ cao. Là một đất nước có rất ít
nguồn tài nguyên thiên nhiên, Israel phụ thuộc chủ yếu vào việc nhập
khẩu dầu mỏ, than đá, thực phẩm, kim cương chưa chế biến, và các sản phẩm
đầu vào khác, các trang thiết bị quân sự. Nước này cũng nhận một nguồn viện
trợ trực tiếp đáng kể từ Hoa Kỳ, với khoảng 1,2 tỉ USD mỗi năm kể từ những
năm 1970, sau đó giảm dần từ năm 1995. Năm 2007, viện trợ từ Hoa Kỳ vào
khoảng 0,07% GDP.
Năm 2006, theo số liệu của Quỹ tiền tệ quốc tế, GDP của Israel theo sức
mua tương đương là 195 tỉ USD, còn theo số liệu của Ngân hàng thế giới là
179 tỉ USD. GDP bình quân đầu người là 31.767 USD gần bằng với hầu hết
các nước Tây Âu như Pháp hay Italy, còn theo theo tính toán của IMF năm
15
2006 là 26.200 USD thấp hơn các nước Tây Âu ngoại trừ Hy Lạp, Tây Ban
Nha và Bồ Đào Nha nhưng cao hơn các nước Đông Âu, ngang bằng
với EU Ngành công nghiệp chính bao gồm sản xuất chế biến kim loại, điện
tử, chế biến thức ăn, hóa chất, trang thiết bị vận tải. Israel có ngành sản xuất
kim cương lớn, là một trung tâm sản chế biến và đánh bóng kim cương của
thế giới. Đây cũng là một trung tâm lớn về phát triển phần mềm. Israel còn là
điểm đến du lịch hấp dẫn. Năm 1998,Tel Aviv được Newsweek xếp vào một
trong 10 trung tâm công nghệ có thế lực nhất thế giới. Nhiều tỉ phú Mỹ và các
ông trùm kinh doanh bao gồm Bill Gates,Warren Buffett và Donald Trump đã
ngợi về môi trường kinh doanh ở đây. Israel cũng nổi tiếng như là một trung
tâm Silicon hiện nay.
Nông nghiệp Israel, đất đai canh tác phần lớn là đất sa mạc và núi đá,
không có nhiều nước, nước sinh hoạt và sản xuất được lấy tại sông Jordan và
từ nước mưa, nước biển. Nước tưới nông nghiệp được lấy từ 75% nước thải
sinh hoạt và nước mưa dự trữ để tái sử dụng.
Giữa sa mạc mênh mông mọc lên những vườn cây sum suê trái ngọt. Công
nghiệp như Israel hiện nay.
2.2.1.3 Thực trạng nông nghiệp Việt Nam
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam. Hiện nay, Việt
Nam vẫn là nước nông nghiệp. Năm 2009, giá trị sản lượng của nông nghiệp
đạt 71.473 nghìn tỷ đồng (giá so sánh với năm 1994), tăng 1,32% so với năm
2008 và chiếm 13,85% tổng giá trị sản phẩm trong nước. Tỷ trọng của nền
kinh tế bị giảm trong những năm gần đây, trong khi các lĩnh vực kinh tế khác
gia tăng. Đóng góp của nông nghiệp vào tạo việc làm còn lớn hơn cả đóng
góp ngành này vào GDP. Trong 2005, có khoảng 60% lao động làm việc
trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Sản lượng nông nghiệp
xuất khẩu chiếm khoảng 30% trong năm 2005 việc tư do hóa sản xuất, đặc
biệt sản xuât lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước đứng đầu thế giới về sản xuất
17
lúa gạo. Những nông sản quan trọng khác như: cà phê, sợi bông, đậu phộng,
đường, cao su, cũng có sản lượng lớn.
Song bên canh đó nông nghiệp còn tồn tại nhiều hạn chễ:
Nông sản Việt Nam chủ yếu là các sản phẩm thô, chúng ta sản xuất gạo, cà
phê, hồ tiêu… với sản lượng rất lớn nhưng giá cả trung bình so với các quốc
gia khác. Chúng ta xuất khẩu những sản phẩm thô chưa qua chế biến với giá
thấp và nhập về các sản phẩm tinh với giá cao, do chúng ta chưa có công nghệ
kĩ thuật để chế biến nông sản.
Nông dân chúng ta cũng chưa thực sự quan tâm tới chất lượng sản phẩm, sử
dụng quá lạm dụng các chất kích thước, phân bón, thuốc trừ sâu làm cho nông
sản không an toàn, mà trong bối cảnh đời sống của người dân nâng cao thì
nhu cầu về thực phẩm an toàn ngày càng cao. Do vậy nông sản của chúng ta
rất khó thâm nhập các thị trường lớn như châu Âu, Mỹ, Nhật…chúng ta tự
hào là nước nông nghiệp nhưng các ngành dịch vụ, du lịch khách sản chất
lượng cao thường nhập nông sản của Thái Lan, hay các quốc gia có chất
lượng và độ an toàn thực phẩm cao hơn.
Các công nghệ cao chưa được đầu tư đúng mức, sử dụng lực lượng lao động