1
MỤC LỤC trang
MỤC LỤC 1
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 2
2. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
2.1 Cơ sở lí luận 3
2.2 Thực trạng của vấn đề 4
2.3 Các biện pháp đã tiến hành nghiên cứu 4
2.3.1. Nguyên nhân của thực trạng trên. 5
2.3.2Các biện pháp khắc phục khó khăn khi dạy kĩ năng nghe. 6
2.3.3Các giai đoạn và nội dung một bài nghe. 9
a. Prelistening. 9
b. While – listening. 10
c Post- listening. 10
2.3.4 Tiết dạy minh họa. 11
2.4. Hiệu quả SKKN 13
3. KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
PHIẾU ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI ĐỀ TÀI 16
2
1. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Ngày nay có khoảng gần một tỉ người nói tiếng Anh với tư
cách là tiếng mẹ đẻ, và cũng có một số lượng người tương đương như vậy
dùng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai và nó là ngôn ngữ giao tiếp chung của
toàn thế giới. Ngay cả người dân Pháp (đang dùng một thứ tiếng được cho là
phổ biến), người dân Tây Ban Nha, người Ấn Độ hay nước có dân số hơn 1,3
tỉ người như trung Quốc cũng học Tiếng Anh. Vì vậy trên thế giới hiện nay,
tiếng Anh là một ngôn ngữ được dùng như là ngôn ngữ chung cho toàn bộ các
lĩnh vực. Ở nước ta cũng thế, muốn hòa nhập vào thế giới hiện đại, muốn
sánh vai với cường quốc năm châu thì không còn cách nào khác là phải khởi
động phong trào học tiếng Anh vốn đã bị dân chúng ( Đặc biệt là người dân
nghe cũng như quá trình dạy kỹ năng nghe.
- Nghe là một trong bốn kỹ năng quan trọng của việc học ngoại ngữ, nghe
đúng thì nói mới đúng mà nghe nói là hai kĩ năng thường dùng nhất trong
giao tiếp. Chúng ta không thể giao tiếp được nếu không nghe. Để thành công
khi đối thoại, ta phải nghe hiểu được những gì người khác nói. Khi nói, ta có
thời gian để suy nghĩ là sẽ nói gì, dùng từ như thế nào để diễn đạt một cách
chủ động. Còn khi nghe thì ta phải tiếp thu một cách thụ động, phụ thuộc vào
người nói nên khi học nghe người học thường lúng túng. Nghe là một trong
bốn kỹ năng cần thiết trong quá trình giao tiếp. Giống như kỹ năng đọc, nghe
cũng là một kỹ năng tiếp thu, nhưng nghe thường khó hơn đọc vì ngôn bản
tiếp thu qua nghe là lời nói. Khi ta nói các ý thường không được sắp xếp có
trật tự như khi ta viết; ý hay lặp đi lặp lại, có nhiều từ thừa, từ đệm, không
đúng ngữ pháp. Hơn nữa khi nghe người khác nói, ta chỉ nghe được một lần,
còn khi đọc ta có thể đọc đi đọc lại nhiều lần văn bản. Do đó khi dạy kỉ năng
nghe, ngoài những thủ thuật áp dụng chung cho các kỉ năng tiếp thu, GV còn
cần có những thủ thuật đặc thù cho các hoạt động luyện nghe của học sinh.
- Nghe là một kỹ năng ngôn ngữ liên quan đến các kỹ năng phụ khác. Khi
chúng ta dạy cho các em nghe chúng ta cần chú ý đến các yếu tố sau:
* Khi nghe, người nghe phải có khả năng nhận biết sự khác nhau giữa
các âm vị. Ví dụ, chúng ta phải nhận thấy được sự khác nhau giữa /g/ và /k/,
ví dụ trong từ: "pig" và ' pick", hai từ này chỉ có một âm khác giữa chúng;
hoặc là các cặp từ như " sheep và ship", " run và sun". Trong mỗi cặp từ này,
sự khác nhau giữa các từ chỉ có một âm độc nhất đã hình thành một từ mới
5
với nghĩa hoàn toàn khác nhau. Đó mới là từ chỉ có một âm tiết, còn những từ
có nhiều âm tiết hơn.
* Người học cần nhận ra những biến đổi âm trong lời nói nhanh và liên
tục của người nói so với cách phát âm rõ ràng từng âm tiết của giáo viên trên
lớp vì muốn học sinh hiểu bài. Chẳng hạn các hiện tượng nuốt âm, khi nói
nhanh "he's three brothers" thì ta chỉ nghe được "he three brothers". Hay hiện
nhận và phản hồi thông tin. Một trong những yếu tố tâm lý dẫn đến tình trạng
không nắm bắt được thông tin được nhiều người học chia sẻ là họ không thể
quyết định nhịp độ hay chẻ nhỏ thông tin thành từng mảng dễ kiểm soát như
khi đọc, viết hoặc nói. Người học chỉ có thể điều chỉnh cho kịp với nhịp độ
đang diễn ra. Nếu không có tâm lý vững người nghe không thể làm được điều
này. Khó hơn nữa là lời nói lập tức biến mất ngay sau khi thốt ra. Người nghe
nếu không nắm bắt được sợi chỉ xuyên suốt, mãi lo chú ý đến tiểu tiết hoặc
quá sa đà vào việc diễn nghĩa những gì nghe được, sẽ bỏ mất thông tin kế
tiếp, dẫn đến hoãng sợ bỏ luôn những thông tin tiếp theo.
Nắm bắt được khái niệm và bản chất của quá trình học nghe, dạy nghe
như trên, giáo viên sẽ có những phương án, giải pháp thích hợp cho quá trình
giảng dạy của mình nhằm nâng cao chất lượng dạy học, còn học sinh sẽ
chuẩn bị cho mình những kỹ năng, giới hạn cần thiết nhằm nghe có hiệu quả
hơn.
2.2. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu:
Như đã trình bày ở phần “Đặt vấn đề”, năng lực tiếp thu của học sinh miền
núi chúng ta đã yếu, tiếng Việt của các em cũng chưa thành thạo mà lại phải
tiếp thu một ngôn ngữ xa lạ nên các em khó có thể theo kịp sức ép của
chương trình Tiếng Anh THCS hiện hành. Nên tất cả các giáo viên Tiếng Anh
trên địa bàn huyện chúng ta đều phàn nàn những điều này:
- Trong giờ nghe, thường thì không khí lớp học rất trầm lắng, học sinh
vốn đã trầm lại còn trầm hơn, học sinh thì thường căng thẳng, uể oải và giáo
viên thì khó có thể tạo ra một bầu không khí sôi nổi cho lớp học được.
7
- Đa số học sinh không có hứng thú với tiết học này và đôi khi nó làm
cho giáo viên cũng nản theo.
- Những thực trạng trên đã dẫn đến một thực trạng chung là chất lượng
của kỹ năng nghe ở trường tôi cũng như ở toàn bộ các trường khác trong
huyện rất kém so với ba kĩ năng khác.
Mà kĩ năng nghe là kĩ năng đầu tiên người học ngôn ngữ tiếp cận (nghe
- Học sinh và kể cả một số giáo viên không chú trọng đến kỹ năng này
vì gần như tất cả các bài kiểm tra một tiết, học kì và các bài thi không có nội
dung nghe.
- Cơ sở vật chất ở một số trường còn thiếu như: không có băng đài
hoặc băng đài chất lượng kém, thiếu ổ cắm ở lớp học nên giáo viên phải đọc.
Mà chất lượng đọc của của giáo viên thì bất cứ ai cũng biết là không thể bằng
người bản ngữ và giáo viên không thể sắm vai tất cả các nhân vật trong các
bài hội thoại.
- Giọng nói của người nói trong băng khác với giáo viên và các bạn
trong lớp. Thầy và trò đều không phải là người bản xứ, nguời học ít có điều
kiện nghe đúng thứ tiếng Anh của người bản địa, hay sử dụng ngôn ngữ trong
các tình huống giao tiếp thực. Học sinh vì thế có khuynh hướng phản ứng
chậm, thậm chí không giao tiếp được khi được đặt vào các tình huống giao
tiếp cụ thể.
- Học sinh bị phân tâm bởi tiếng ồn chung quanh.
- Các em thường cố gắng nghe tất cả các từ có trong bài nghe nên dẫn
đến các em rối trí .
- Các em không theo kịp bài nghe do mãi mê suy nghỉ về nghĩa của
một từ, cụm từ hay cấu trúc nào đó trong bài.
- Trọng âm, ngữ âm bài nghe khác so với trọng âm, ngữ âm của giáo
viên.
9
- Không kiểm soát được những nội dung sẽ nghe nên khi nghe các em
lúng túng.
- Hoc sinh không nghe thường xuyên sẽ không nhận ra những từ mà
các em đã biết.
- Trở ngại lớn nhất phải kể đến là sự thiếu kiến thức ngôn ngữ. Vốn từ
hạn chế là trở ngại lớn nhất đối với quá trình nghe hiểu của học sinh . Hạn chế
này khiến học sinh do phải dừng lại suy nghĩ khi gặp từ mới, đã để vuột mất
thông tin cần nắm tiếp theo. Đó là chưa kể đến yếu tố tâm lý căng thẳng khi
trường thiếu phòng học thì phòng này vẩn được dùng như 1 phòng học bình
thường, nhưng khi có các tiết học này thì trường linh động cho các lớp đổi
phòng học cho nhau thì vẩn đảm bảo được số phòng học.
- Giáo viên phải nỗ lực giúp học sinh nâng cao kiến thức về ngôn ngữ
cho các em bằng cách khích lệ các em học tập bằng nhiều cách khác nhau,
cho các em thấy tầm quan trọng của Tiếng Anh trong cuộc sống như tôi đã
nêu ở mục "Tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu". Hiện nay, đa số các hộ
gia đình học sinh chúng ta đã có truyền hình nhiều kênh hay đầu máy video
nên giáo viên giới thiệu cho các em biết những bài hát Tiếng Anh, những bộ
phim hay, hấp dẫn, nổi tiếng trên các kênh HBO,MTV, MOVIE STARS ,
hay các bộ phim hoạt hình nổi tiếng, phổ biến trên kênh Cartoon ,hay kênh
VTV4 phát cho người Việt Nam ở nước ngoài đều được dịch sang Tiếng Anh.
Trên địa bàn huyện chúng ta cũng không hiếm những quán NET nên giáo
viên nên khuyến khích các em tự học Tiếng Anh qua trang web học Tiếng
Anh như Tiếng Anh 123, Hellochao, học Tiếng Anh 24h ,luyện nghe Tiếng
Anh, học Tiếng Anh , giúp các em làm quen với người nước ngoài qua các
mạng xã hội facebook, twitter, LinkedIn. Tất cả nhằm tạo sự say mê cho học
sinh, khi học sinh thích, say mê rồi thì việc học Tiếng Anh sẽ trở thành nhu
cầu học tập của các em.
11
- Cần cho học sinh có thói quen nghe Tiếng Anh một cách thường
xuyên bằng cách giáo viên giảng bài bằng Tiếng Anh với những câu đơn giản
mà các em đã được học và thỉnh thoảng nói chuyện với các em về các kênh,
trang web trên để kích thích sự hiếu kì của các em.
- Cần thay đổi những nội dung bài nghe trong chương trình khi chúng
quá xa lạ với học sinh bằng những tài liệu nghe có nội dung gần gủi với thực
tế đời sống văn hóa của các em. Giáo viên nên sưu tầm những bài nghe từ các
kênh phát thanh hoặc các cuộc phỏng vấn, hội thảo ,phim ảnh có rất nhiều
trên Internet ( Nhưng phải chú ý đảm bảo chuẩn kiến thức kĩ năng của tiết
học) Ngôn ngữ từ những tình huống thực tế đó được đánh giá là rất quan
giáo viên phải giới thiệu nhiệm vụ cho học sinh trước khi nghe và phải chắc
chắn là học sinh đã hiểu hướng dẫn bằng câu hỏi “What are you going to do
now?”. Từng dạng bài tập nên được thiết kế / biên soạn để thực hành những
kĩ năng nghe khác nhau: nghe tìm ý chính, nghe điền từ, nghe thông tin cụ
thể, … và các bài tập phải gây hứng thú cho học sinh, phải hấp dẫn, phải có
cao trào và có tính đột phá.
- Giải thích một số từ và cấu trúc cần thiết, liên quan trực tiếp đến nội
dung chính của bài học: tuy nhiên không cần giới thiệu hết từ mới, nên để học
sinh đoán nghĩa của từ trong ngữ cảnh hoặc bỏ qua những từ không cần thiết
với chủ đề của bài học. Nếu học sinh không hiểu nghĩa của từ mà giáo viên
cần mở rộng vốn từ cho học sinh, sau khi nghe, giáo viên sẽ giải nghĩa bằng
định nghĩa hoặc cho ví dụ.
- Khi tiến hành các hoạt động nghe, việc dùng các giáo cụ trực quan,
tranh, hình ảnh minh hoạ kèm theo sẽ hỗ trợ rất tốt cho việc làm rõ ngữ cảnh,
gợi ý nội dung sắp nghe. ( hiện nay trên thư viện violet ở mục tư liệu điện tử
có nhiều bài nghe trong chương trình được một số giáo viên và chuyên gia
xây dựng thành video clip, giáo viên nên tải về cho học sinh xem khi nghe).
Tranh ảnh và clip là những phương tiện để kiểm tra mức độ nghe hiểu của học
sinh rất tốt. Nghe, xác định tranh có liên quan, sắp xếp tranh theo thứ tự
13
- Tiến hành thiết kế các hoạt động nghe theo ba giai đoạn: trước khi,
trong khi và sau khi nghe. Chia quá trình nghe thành từng bước:
+ Nghe ý chính, trả lời câu hỏi hướng dẫn, so sánh dự đoán.
+ Nghe chi tiết, hoàn thành bài tập, yêu cầu nghe.
+ Nghe, kiểm tra đáp án với tốc độ bình thường, không ngừng, hoặc ngừng
nếu các em không thể phát hiện ra vấn đề.
( Nếu học sinh nghe không rõ thì ở mỗi từ, cấu trúc quan trọng, giáo viên
cho băng tạm ngừng, tua lại và cho các em nghe lại).
- Khai thác sự khác nhau trong câu trả lời của các cặp, các nhóm và so
sánh kết quả, thảo luận sau khi nghe nhằm kích lệ học sinh trong những tiết
nghe, học sinh sẽ đánh dấu vào đều mình đoán đúng.
+ Ordering
Cho học sinh một số tình huống hoặc tranh có đánh số a,b,c đã bị đảo vị
trí lên bảng. Học sinh thảo luận nhóm đoán thứ tự tranh hoặc câu có sẵn sẽ
xuất hiện trong bài nghe.
+ Pre- questions:
Giáo viên cho một vài câu hỏi dể có chứa ý chính của bài nghe để tập
trung sự chú ý của học sinh trong khi nghe . Học sinh chỉ đoán câu trả lời, sau
khi nghe lần một, yêu cầu học sinh đối chiếu kết quả đoán với đáp án học sinh
đã nghe được.
+ Prediction and matching: Học sinh đoán và ghép người hoặc vật với
bức tranh hoặc câu phát biểu, địa điểm và bản đồ hoặc tình huống
+ Đoán vị trí, đặc điểm của tình huống bài, ý chính của bài
b- While- listening
Học sinh tập trung nghe chi tiết để hoàn thành yêu cầu nghe Mở băng 2-
3 lần, yêu cầu học sinh nghe, làm các dạng bài tập nghe hiểu theo yêu cầu
sách giáo khoa hoặc do giáo viên thiết kế như:
+ Defining T - F : Nghe và xác định xem các ý kiến đúng hay sai.
+ Check the correct answers. Tìm đáp án đúng trong số các lựa chọn.
15
+ Matching: Liên kết tên với địa danh, tên với hoạt động, tên và sự kiện,
hoạt động và sự kiện
+ Filling in the gap, chart : Điền từ, thông tin còn thiếu vào ô trống của
đoạn văn, bài hội thoại, biểu đồ
+ Answer the comprehension questións: Trả lời câu hỏi.
+ Deliberate mistakes: Nghe và tìm lỗi.
+ Gap- filling: Điền từ, thông tin cho sẵn vào ô trống.
+ Reordering: Sắp xếp lại tranh, bài hội thoại, các ý cho một bài nghe bất
kì.
+ Finding the topic: Nghe và tìm chủ để của bài nghe.
Lesson 3: Listen
I- Objectives:
- Luyện kỹ năng nghe hiểu lấy thông tin chính.
- Học sinh nghe một đoạn băng về ô nhiễm của đại dương và hoàn thành
các thông tin còn thiếu.
II- Stages of teaching
1) Pre- listening
- Giáo viên giới thiêụ chủ đề bài nghe bằng một số hình ảnh về ô nhiểm đại
dương và những ảnh hưởng của nó. Sau đó sữ dụng thủ thuật brain storming
yêu cầu học sinh nêu các nhân tố gây ô nhiễm đại dương. (Các em có thể nói
bằng Tiếng Việt nếu các em chưa biết Tiếng Anh)
gabbages from rivers gabbages from people
What causes ocean pollution?
gabbages from vessels oil from vessels
- Sau đó vào bài bằng các từ mới.
+ to pump
+ raw sewage
+ oil spill
17
+ Waste materials.
+ Ship
- Giáo viên đưa ra câu hỏi đoán trước khi nghe:
" What causes the ocean pollution? " . Trước khi đưa ra câu hỏi giáo viên
cần thiết kế lại bài tập bằng cách thêm vào một số dự kiện để học sinh nghe
dể dàng hơn như sau:
+ GV yêu cầu học sinh làm việc theo nhóm, đoán câu trả lời.
+ HS dính bảng phụ của các em lên bảng.
2) While- listening
Cho học sinh nghe băng
Lần 1 : Học sinh nghe băng và tìm đáp án ( nghe liên tục )
- GV có thể dể dàng giúp đỡ những học sinh yếu kém tiến bộ.
- Với việc dạy một tiết nghe hiểu được áp dụng các biện pháp nêu trên,
kết quả kiểm tra nghe của học sinh qua các năm học ở trường tôi như sau:
Năm học
Kết quả kiểm tra nghe của
học sinh
* Năm học 2009- 2010
* Năm hoc 2010 2011
*Năm học 2011 2012
*Năm học 2012 2013
*Năm học 2013 2014 (tính đến tháng 2/ 2014)
Yếu: 81%, Trung bình: 15%,
Khá:4%
Yếu: 75%, Trung bình: 17%
Khá:8%
Yếu: 71%, Trung bình: 19%
Khá:9%, Giỏi: 1%
Yếu: 68%, Trung bình: 20%
Khá: 11%, giỏi: 1%
Yếu: 66%, Trung bình: 21%
Khá: 12%, giỏi: 1%
19
3. KẾT LUẬN:
Với kết quả trên thì ta thấy rỏ ràng là những giải pháp trong đề tài có
hiệu quả thực tế rất đáng kể. Đặc biệt, Tất cả các giải pháp đều dể dàng thực
hiện vào công tác giảng dạy, vì vậy giáo viên trên huyện chúng ta có thể tham
khảo tính hiệu quả của đề tài để áp dụng giảng dạy cho học sinh của mình.
Những suy nghĩ của tôi trên đây về việc dạy nghe chỉ là những kinh
nghiệm rút ra từ phương pháp cũ và mới qua thực tế giảng dạy và tìm hiểu tài
liệu. Có thể còn nhiều thiếu và sai sót, cần được điều chỉnh, bổ sung và thay
- Họ và tên tác giả: Phạm Ngoc Huy
- Chức vụ: Giáo viên
- Đơn vị: Trường THCS Hướng Hiệp
1. Điểm cụ thể:
Phần
Nhận xét
của người đánh giá xếp loại đề tài
Điểm
tối đa
Điểm
đạt
được
1. Tên SKKN và lĩnh vực áp
dụng
2
2. Mô tả nội sung, bản chất
của sáng kiến
5
3. Tính mới của sáng
kiến(trong phạm vi nào)
4
4. Những nội dung mang lại
từ việc áp dụng sáng
kiến( khối lượng, chất lượng,
năng suất, hiệu quả công tác
thay dổi như thế nào…) được
cấp có thẩm quyền công
nhận.
5