Giải pháp nng cao ch́t lượng tín dụng t - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Trong công cuộc đổi mới nền kinh tế Việt Nam thời gian qua, đất nước
chúng ta đã thu được những kết quả bước đầu rất khả quan, tạo được niềm tin
trong nhân dân cũng như nhà đầu tư trong và ngoài nước. Cùng với những thành
tựu đổi mới của đất nước, hệ thống ngân hàng nước ta đã có những bước tiến
đáng kể trong hoạt động của mình, góp phần tích cực vào việc kìm chế lạm phát,
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và ổn định nền kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, hoạt động của ngành vẫn còn nhiều bất cập cả về cơ chế chính
sách và tổ chức hoạt động. Bên cạnh những mặt được, ngành ngân hàng Việt
Nam còn có những tồn tại. Một trong những tồn tại chủ yếu là số nợ khê đọng,
nợ khó đòi còn lớn, làm suy giảm năng lực của hệ thống ngân hàng, ảnh hưởng
tới sự ổn định của hệ thống ngân hàng cũng như ổn định kinh tế. Chính vì vậy
để đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ của ngành, ngay từ đầu năm ngân hàng
Nhà nước cũng như các TCTD đã có biện pháp để đẩy mạnh tăng trưởng tín
dụng, trên cơ sở an toàn và hiệu quả; mở rộng và đa dạng hóa các hình thức đầu
tư để tạo sự chu chuyển vốn thông suốt, khắc phục tình trạng ứ đọng vốn của
các TCTD trong năm vừa qua. Trong năm tới đòi hỏi các ngân hàng thương mại
nói chung, ngân hàng TMCP Quân Đội nói riêng đặc biệt chú trọng nâng cao
chất lượng tín dụng trong hoạt động kinh doanh của mình.
Hoạt động tín dụng chưa an toàn và chất lượng tín dụng chưa cao đang là
mối quan tâm không chỉ đối với giới quản lý và điều hành của hệ thống ngân
hàng mà còn là mối quan tâm của xã hội bởi vì đây là tín hiệu tổng hợp, vừa
phản ánh trình độ hoàn thiện pháp luật theo cơ chế thị trường trong quản lý kinh
tế nói chung và quản lý hoạt động ngân hàng nói riêng, vừa phản ánh sự lớn
mạnh và những mặt còn bất cập trong quản lý và điều hành hệ thống ngân hàng.
1
Qua quá trình thực tập tại Ngân hàng TMCP Quân Đội em nhận thấy mục
tiêu nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng quân đội chính là một
mục tiêu được các cổ đông, hội đồng quản trị cũng như ban lãnh đạo ngân hàng
luôn quan tâm và đặt ra trong chương trình chiến lược của ngân hàng Quân Đội

xã hội và dân cư. Nó là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng. Quá
trình hình thành quan hệ tín dụng chính là quá trình hình thành các quan hệ vay
mượn lẫn nhau trong xã hội. Đó là mối quan hệ vay mượn có hoàn trả cả gốc và
lãi sau một khoảng thời gian nhất định, là quan hệ chuyển dịch tạm thời quyền
sử dụng vốn, là quyền bình đẳng cả hai bên đều có lợi.
1.1.2 Đặc điểm tín dụng ngân hàng:
Tín dụng ngân hàng là một loại hình tín dụng nên nó có đầy đủ các đặc
điểm của tín dụng cùng với những đặc trưng riêng có của nó:
3
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy tín dụng là sự cung cấp một
lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin. ở đây người cho vay tin tưởng người đi vay
sử dụng vốn vay có hiệu quả sau một thời gian nhất định và do đó có khả năng
trả được nợ. Đây là yếu tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng. Trong thực tế
một số nhân viên tín dụng khi xét duyệt cho vay không dựa trên cơ sở đánh giá
mức độ tín nhiệm về khách hàng mà lại chú trọng đến các bảo đảm, chính quan
điểm này đã làm ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn. Để đảm
bảo thu hồi nợ đúng hạn, người cho vay thường xác định rõ thời gian cho vay,
căn cứ vào quá trình luân chuyển vốn của đối tượng vay, vào tính chất vốn của
người cho vay.
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên
tắc phải hoàn trả cả gốc và lãi. Vì vốn cho vay của ngân hàng là vốn huy động
của những người tạm thời thừa nên sau một thời gian nhất định ngân hàng phải
trả lại cho người ký thác. Mặt khác, ngân hàng cần phải có nguồn để bù đắp chi
phí hoạt động như: khấu hao TSCĐ, trả lương cán bộ công nhân viên, ... nên
người vay vốn ngoài việc trả nợ gốc còn phải trả cho ngân hàng một khỏan lãi.
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình
thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (động sản vả bất động sản).
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói
cách khác là người đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.

để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, phương tiện
vận tải có quy mô lớn, ...
* Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng:
5
- Cho vay không đảm bảo là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của
bản thân khách hàng.
- Cho vay có đảm bảo là loại cho vay được ngân hàng cung ứng, phải có
tài sản thế chấp hoặc cầm cố , hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba.
* Căn cứ vào xuất xứ tín dụng:
- Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu,
đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ cho vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua
lại các khê ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán.
Các ngân hàng thương mại thường cho vay gián tiếp theo hình thức chiết khấu
thương mại, mua các phiếu bán hàng chịu của người bán, mua các khỏan nợ của
DN,...
1.1.4 Hoạt động tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
Hoạt động tín dụng của ngân hàng đựơc hiểu bao gồm cả nghiệp vụ huy
động vốn và nghiệp vụ cho vay. ở Việt Nam, trong bước chuyển đổi sang kinh tế
thị trường có sự quản lý của nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế
nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Mọi người được tự do kinh doanh
theo pháp luật, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp đan kết với nhau hình thành
các tổ chức kinh doanh đa dạng. Theo hướng đó nền kinh tế phát triển sẽ kéo
theo nhu cầu sử dụng vốn cũng đa dạng hơn, và chu kỳ tạm thời thừa vốn của
các chủ thể trong nền kinh tế cũng đa dạng hơn. Ngân hàng thương mại lúc đó là
chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. Nó đứng ra huy
động các nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế
như: vốn tạm thời đựơc giải phóng ra từ quá trình sản xuất, từ nguồn tiết kiệm
của các cá nhân trong xã hội. Bằng nguồn vốn huy động được trong nền kinh tế,

nhọn cũng như những ngành kinh tế kém phát triển nhưng lại cần thiết và có lợi
7
cho quốc kế dân sinh, tín dụng ngân hàng đã góp phần thúc đẩy những ngành
kinh tế này phát triển.
b. Tín dụng ngân hàng là công cụ điều hòa lưu thông tiền tệ, kiểm soát
được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông, qua đó điều tiết vĩ mô nền kinh
tế:
Do những điểm ưu việt của mình mà tín dụng ngân hàng đóng vai trò
quan trọng, quyết định đến sự ổn định của lưu thông tiền tệ. Qua hoạt động các
DN mở tài khỏan và thanh toán qua ngân hàng ngày càng nhiều, với tính chất
thường xuyên liên tục. Cũng như việc cho vay và thu nợ của ngân hàng gắn liền
với sự vận động của giá trị vật tư hàng hóa trong quá trình sản xuất và lưu
thông, đã tạo ra những tiền đề kinh tế khách quan cho phép nhà nước thông qua
hệ thống ngân hàng sử dụng công cụ lưu thông tín dụng để kiểm soát khối lượng
tiền cũng như chất lượng tiền cung ứng trong lưu thông. Sự phát triển của
nghiệp vụ tín dụng đi đôi với việc thanh toán không dùng tiền mặt trong lưu
thông, góp phần ổn định lưu thong tiền tệ. Đây cũng là một nhân tố quan trọng
để kiềm chế lạm phát, giúp nền kinh tế phát triển.
c. Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế giúp các đơn vị thực hiện chế độ
hạch toán kinh tế, khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế trong hoạt động kinh
doanh:
Trong quá trình hoạt động tín dụng, vấn đề cơ bản và quan trọng nhất là
phải thu hồi được vốn và có lãi. Do vậy khi sử dụng vốn vay ngân hàng, các đơn
vị vay vốn phải thực hiện đầy đủ các điều khoản đã ghi trong hợp đồng tín dụng,
là đảm bảo trả nợ vay đúng hạn và một số điều khoản khác. Qua đó đòi hỏi đơn
vị vay vốn phải quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, giảm
chi phí, tăng cường vòng quay vốn... Mỗi chủ thể kinh doanh phải chủ động tìm
kiếm thị trường và thực hiện các biện pháp như: ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ
thuật mới, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ cán bộ công nhân viên, mở
rộng thị trường... Như vậy tín dụng ngân hàng được sử dụng như một đòn bẩy

9
không chỉ có ý nghĩa với ngân hàng cho vay mà còn có ý nghĩa với khách hàng
vay vốn và với toàn bộ nền kinh tế. Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng tín
dụng ngân hàng được xem xét dưới góc nhìn của các chủ thể sau:
a. Đối với các ngân hàng thương mại:
Với tư cách là trung gian tài chính trong nền kinh tế, việc nâng cao chất
lượng tín dụng là điều kiện để ngân hàng tăng cường nguồn vốn của mình. Nếu
chất lượng tín dụng tốt, biểu hiện bằng việc áp dụng linh hoạt và hiệu quả công
tác huy động vốn thì sẽ tạo được nguồn vốn phong phú, đa dạng làm cơ sở cho
việc tạo ra cơ cấu tài sản có phù hợp với cơ cấu tài sản nợ. Bên cạnh đó, chất
lượng tín dụng giúp ngân hàng bảo toàn được vốn của mình bởi vì khi cho vay
có hiệu quả, có khả năng thu hồi cả gốc và lãi, ngân hàng sẽ không phải dùng
nguồn vốn để bù đắp, mà nguồn vốn này phần lớn là của khách hàng. Do vậy,
chất lượng tín dụng tốt là điều kiện để ngân hàng bảo toàn vốn của mình và của
khách hàng gửi tại ngân hàng. Mặt khác, nâng cao chất lượng tín dụng là cơ sở
để ngân hàng tăng cường lợi nhuận cho mình vì phần lớn lợi nhuận thu được
hàng năm của ngân hàng được hình thành từ việc thu lãi từ các khoản tiền cho
vay.
Hơn thế nữa, nâng cao chất lượng tín dụng giúp ngân hàng nâng cao được
nghiệp vụ tín dụng, có thêm nhiều kinh nghiệm, xử lý nhanh các tình huống xảy
ra, có khả năng phán đoán tốt. Từ đó sẽ nâng cao uy tín cho ngân hàng, mở rộng
thị phần và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động ngân hàng, đồng thời đảm bảo
quyền lợi cho khách hàng.
b. Đối với các chủ thể vay vốn:
Việc nâng cao chất lượng tín dụng góp phần lành mạnh hóa các quan hệ
tín dụng giữa khách hàng với ngân hàng, mà ngân hàng lại là đối tác quan trọng
nhất trong các đối tác trong nền kinh tế (vì ngân hàng vừa là người cho vay vừa
là trung gian thanh toán). Hoạt động tín dụng được thực hiện, việc tuân thủ các
nguyên tắc và điều kiện trên cơ sở cả hai bên đều có ý thức thúc đẩy và thắt chặt
mối quan hệ sẽ tạo ra những khoản tín dụng có chất lượng. Từ đó giúp doanh

+ Có kiến thức cơ bản: nghiệp vụ tín dụng, bảo lãnh, thanh toán
quốc tế, kế toán, pháp luật...
+ Có kiến thức về giao tiếp, bán hàng, chăm sóc khách hàng
+ Là những người nhiệt tình, có trách nhiệm trong công việc
+ Trong kinh doanh, đạo đức nghề nghiệp luôn đặt lên hàng đầu
+ Luôn nghiêm túc chấp hành quy định của ngân hàng và tìm hiểu
những quy định về tín dụng để áp dụng cho đúng, cho phù hợp và đảm bảo tuân
thủ tuyệt đối.
+ Luôn có lập trường quan điểm độc lập, rõ ràng, các căn cứ lập
luận đưa ra đều phải có cơ sở lý luận tránh tình trạng chung chung, mang nặng
cảm tính.
+ Năng động và nhạy bén trong công việc. Dù ở những vị trí khác
nhau luôn có tinh thần học tập, cầu thị
- Quy trình tín dụng: đây là một chỉ tiêu rất quan trọng, nó trực tiếp quyết
định đến hiệu quả, chất lượng của họat động tín dụng ngân hàng. Căn cứ vào
quy trình tín dụng mà ngân hàng xây dựng ta có thê đã đánh giá được phần nào
chất lượng tín dụng của ngân hàng. Quy trình vừa nhanh gọn nhưng lại hiệu quả
thì đó chính là phản ánh một mô hình tín dụng có chất lượng tốt.
- Công nghệ thông tin: hiện nay hoạt động của ngân hàng không thể tách
rời với công nghệ thông tin. Và hoạt động tín dụng cũng vậy, đó là công cụ hỗ
trợ cho hoạt động tín dụng được nhanh chóng và thuận lợi hơn. Do vậy thông
qua công nghệ mà ngân hàng áp dụng ta có thể đánh giá được chất lượng tín
dụng, phần mềm càng tham gia hỗ trợ cho cán bộ tín dụng trong nhiều công việc
thì càng tạo nhiều điều kiện nâng cao được chất lượng tín dụng.
1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu định lượng:
a. Các chỉ tiêu pháp quy:
- Theo QĐ 1627 của thống đốc NHNN thì tổng dư nợ cho vay đối với các
đối tượng đặc biệt (như: tổ chức kiểm toán, kiểm toán viên kiểm toán tại NH;
thanh tra viên thực hiện thanh tra tại ngân hàng. Các cổ đông lớn, kế toán trưởng
12

nhiêu đồng doanh thu.
- Tỷ lệ nợ quá hạn:
Nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn =
Tổng dư nợ
Chỉ tiêu này cho biết trong một đồng dư nợ cho vay có bao nhiêu đồng là
nợ quá hạn. Chỉ tiêu này phản ánh việc quản lý nợ của ngân hàng, chỉ tiêu này
càng lớn chứng tỏ số nợ quá hạn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng dư nợ, rủi ro tín
dụng của ngân hàng càng tăng và việc quản lý tín dụng của ngân hàng không
hiệu quả, chất lượng tín dụng không tốt.
Chỉ tiêu này có thể xác định chi tiết theo thời gian quá hạn của khoản nợ:
Nợ quá hạn dưới 180 ngày
Tỷ lệ nợ quá hạn =
dưới 180 ngày Tổng dư nợ
Nợ quá hạn từ 180 ngày đến 360 ngày
Tỷ lệ nợ quá hạn =
khả dụng Tổng dư nợ
Nợ quá hạn trên 360 ngày
Tỷ lệ nợ khó đòi =
Tổng dư nợ
Nếu tỷ lệ nợ khó đòi càng cao thì ngân hàng không những phải gánh chịu
rủi ro tín dụng lớn mà còn có nguy cơ mất khả năng thanh toán, vì đây là những
khoản nợ khó có khả năng thu hồi, và ngân hàng cũng có nguy cơ mất vốn.
- Hiệu suất sử dụng vốn:
Tổng dư nợ
14
Hiệu suất sử dụng vốn = 100%
Tổng nguồn vốn huy động
Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ ngân hàng đã tận dụng được nguồn vốn
huy động được một cách tối đa, không để nguồn vốn đõ bị đọng lại. Hiệu suất sử

nguồn trả nợ cho ngân hàng. Còn nếu không thì khoản tín dụng mà ngân hàng
cung cấp khó hoặc không thể thu hồi được vì lý do chủ quan thuộc về đạo đức
kinh doanh của khách hàng.
- Năng lực quản lý của ban lãnh đạo và trình độ tay nghề của người lao
động có ảnh hưởng lớn tới khoản tín dụng. Khi mà năng lực, trình độ của người
lãnh đạo còn hạn chế, thiếu năng động trong kinh doanh, không kịp thay đổi
mục tiêu chiến lược khi môi trường kinh doanh thay đổi. Hơn nữa nếu đội ngũ
nhân viên thiếu hiểu biết, không có kinh nghiệm, thiếu kỷ luật thì sẽ dẫn đến
tình trạng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ và ảnh hưởng đến chất lượng của khoản
vay.
1.2.3.2 Nhóm nhân tố từ phía ngân hàng
- Chính sách tín dụng và các cơ chế quản lý tín dụng của ngân hàng càng
phù hợp chặt chẽ và có hiệu quả, thì càng tạo điều kiện cho các cán bộ tín dụng
làm tốt các công vịêc và có thể tạo ra các khoản tín dụng có chất lượng.
- Năng lực cán bộ quản lý và đội ngũ cán bộ tín dụng: con người luôn là
nhân tố quan trọng nhất quyết định đến sự thành công hay thất bại của một
khoản tín dụng. Xã hội càng phát triển đòi hỏi chất lượng nhân sự ngày càng cao
để đáp ứng kịp thời, có hiệu quả với các tình huống khác nhau của hoạt động tín
dụng. Việc tuyển chọn cán bộ tín dụng có đạo đức nghề nghiệp tốt và giỏi về
chuyên môn sẽ giúp cho ngân hàng có thể ngăn ngừa, hạn chế những sai phạm
có thể xảy ra khi thực hiện chu kỳ khép kín của một khoản tín dụng
- Các yếu tố khác: ngoài các yếu tố nêu trên thì trong ngân hàng còn có
những nhân tố khác ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng như việc xây dựng một
quy trình tín dụng có hợp lý hay không, việc chấp hành các chế độ, thể lệ của
16
ngành về giới hạn cho vay và bảo lãnh, quy định về tài sản đảm bảo... Việc kiểm
tra, kiểm soát với khách hàng vay vốn và trong nội bọ ngân hàng có thường
xuyên và chặt chẽ hay không...
1.2.3.3 Nhóm nhân tố khác:
- Nhóm nhân tố liên quan đến cơ chế, pháp lý: Pháp luật là bộ phận không

trình hoạt động sao cho có lợi nhất.
1.2.4.2 Yêu cầu của quản lý chất lượng tín dụng
Việc kiểm tra phải được tiến hành thường xuyên từ trước khi cho vay, khi
cho vay và sau khi cho vay.
Kiểm tra trước khi cho vay:
Là công việc đầu tiên và quan trọng nhất quyết định đến hiệu quả của
khoản cho vay của ngân hàng. Ngân hàng yêu cầu khách hàng phải nộp đầy đủ
hồ sơ xin vay vốn. Bộ hồ sơ này bao gồm:
+ Quyết định thành lập doanh nghiệp
+ Điều lệ họat động của doanh nghiệp (nếu có)
+ Quyết định bổ nhiệm thủ trưởng, kế toán trưởng
+ Báo cáo cân đối tài chính, kết quả sản xuất kinh doanh, thuyết minh báo
cáo tài chính năm trước, quý trước.
+ Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm, quý
+ Phương án sản xuất kinh doanh, kế họach vay vốn, đơn xin vay vốn
+ Các hợp đồng kinh tế, hợp đồng kinh doanh về mua bán hàng hóa, cung
ứng dịch vụ.
Quá trình kiểm tra hồ sơ phải đánh giá được:
+ Sự cần thiết của dự án đầu tư: xem xét việc đầu tư của dự án có phù hợp
với đặc điểm tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hay
không, có phù hợp với chủ trương đường lối của Đảng và nhà nước hay không?
+ Điều kiện và khả năng thực thi của dự án: đầu tư dự án là quá trình biến
các khả năng tiềm ẩn thành hiện thực hoặc tạo ra các điều kiện tối ưu phục vụ
18
cho quá trình họat động sản xuất kinh doanh. Vì vậy việc đánh giá các điều kiện
và khả năng thực thi của dự án phải được tiến hành một cách chi tiết, toàn diện
trong quá trình thực hiện như: máy móc thiết bị cần cho dự án, nguyên vật liệu
sản xuất kinh doanh, nhân côn, khả năng tổ chức, triển khai thực hiện...
+ Hiệu quả kinh tế của dự án: là một chỉ tiêu tổng hợp và quan trọng nhất
để quyết định có đầu tư hay không. Kết quả cuối cùng của một dự án đầu tư phải

trình phát triển kinh tế của đất nước, với đường lối chính sách đúng đắn, NH
TMCP QĐ đã gặt hái được nhiều thành công, không chỉ đáp ứng nhu cầu của thị
trường truyền thống mà còn phục vụ có hiệu quả tất cả các thành phần kinh tế.
Qua 10 năm phát triển NH TMCP QĐ đã đạt được nhiều bước tiến vượt bậc trên
tất cả các lĩnh vực và là ngân hàng luôn được NHNN xếp hạng A với số điểm từ
92-98 điểm/100 điểm.
Mức vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng, đến 30/10/2004 NH đã tăng vốn
điều lệ lên 330 tỷ và vốn chủ sở hữu là 398,4 tỷ, tăng 19,9 lần so với năm 1994
góp phần tăng năng lực tài chính và khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Với các hình thức sản phẩm dịch vụ huy động vốn đa dạng phong phú,
đáp ứng tốt nhu cầu khách hàng, lượng huy động vốn từ dân cư của NH ngày
càng tăng, lượng huy động vốn trên thị trường liên NH ngày càng giảm. Cơ cấu
và loại hình cho vay của NH cũng ngày càng đa dạng. Lợi nhuận trước thuế (đã
trích lập rủi ro) năm 2003 của NH TMCP QĐ là 72,46 tỷ, tăng 17,15% so với
năm 2002. Riêng 10 tháng đầu năm 2004, mức lợi nhuận trước thuế của NH là
91,208 tỷ, hoàn thành xuất sắc (vượt gần 10%) kế hoạch đã được Đại hội đồng
cổ đông thông qua. Dự kiến cuối năm 2004 lợi nhuận trước thuế của NH là 103
tỷ, tăng 42,14% so với năm 2003.
20
Với định hướng không chỉ khai thác thị trường truyền thống mà còn mở
rộng ra một số thị trường trọng điểm khác, từ chỗ chỉ có một trụ sở chính khi
thành lập tính đến ngày 1/11/2004 mạng lưới của NH TMCP Quân Đội đã phát
triển lên 15 chi nhánh và phòng giao dịch, 2 công ty trực thuộc là Công ty chứng
khoán Thăng Long (TSC) và Công ty quản lý nợ & khai thác tài sản (MBAMC).
Mạng lưới các Ngân hàng đại lý cũng được NH mở rộng ra trên khắp châu lục
với hơn 300 ngân hàng trên 70 quốc gia.
Ngoài việc mở rộng mạng lưới hoạt động, NH TMCP QĐ còn tham gia
góp vốn vào nhiều công ty, đồng thời tích cực xây dựng mối quan hệ với các đối
tác chiến lược. Số cổ đông của NH từ chỗ chỉ có 4 cổ đông khi thành lập tính
đến 31/10/1004 tổng số cổ đông là 674 cổ đông, trong đó cổ đông thể nhân nắm

nhân, khách hàng có thể thực hiện giao dịch tại tất cả những điểm chấp nhận thẻ
củaNH QĐ và hệ thống ATM của VCB trên toàn quốc.
- Kinh doanh mua bán ngoại tệ: là lĩnh vực khá mạnh của NH. Với đội
ngũ cán bộ chuyên nghiệp và hệ thống hỗ trợ hiện đại, NH TMCP QĐ có thể
đáp ứng tốt nhu cầu ngoại tệ của khách hàng với mức giá cả cạnh tranh hợp lý,
với thủ tục nhanh chóng thuận tiện. Ngoài ra, NH còn có thể tư vấn cho khách
hàng để quản lý, phòng ngừa rủi ro và các hình thức kinh doanh phù hợp có lợi.
- Các dịch vụ khác: ngoài các sản phẩm trên, NH Quân Đội còn cung cấp
cho khách hàng nhiều dịch vụ khác như: dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ ngân
quỹ, chi trả lương hộ doanh nghiệp, chuyển tiền nhanh trong nước,...
2.2 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG Ở NGÂN HÀNG TMCP
QUÂN ĐỘI
2.2.1 Hoạt động tín dụng của NH TMCP Quân Đội
2.2.1.1 Tình hình huy động vốn
22
Ngân hàng thương mại là mộ doanh nghiệp đặc biệt, hoạt động trên lĩnh
vực kinh doanh tiền tệ. Trong các hoạt động thì công tác tín dụng là một mảng
chủ yếu của ngân hàng, trong đó có cả hoạt động huy động vốn. Có thể nói,
quán triệt tư tưởng huy động vốn của Đảng và Nhà nước để phục vụ sự nghiệp
phát triển kinh tế của đất nước, ngân hàng đã huy động vốn bằng nhiều hình
thức khác nhau như: tiền gửi của dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh tế quốc
doanh và ngoài quốc doanh, tập thể. Ngân hàng đã đưa ra các cách thức khác
nhau như đa dạng các thời hạn và khung lãi suất với mục đích thu hút được
nhiều nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư và các tổ chức kinh tế. Với tinh thần, thái
độ tận tụy phục vụ khách hàng, đảm bảo vui lòng khách đến vừa lòng khách đi,
giải quyết thủ tục thuận lợi nhanh chóng, khách hàng gửi tiền vào và rút ra dễ
dàng, hạn chế tối đa những sai sót nhầm lẫn về mặt nghiệp vụ để đảm bảo ngày
càng có tín nhiệm với khách hàng từ đó ngân hàng đã tạo thế chủ động đi vay và
cho vay. Vì vậy trong những năm qua, công tác huy động vốn đã đạt được
những kết quả khả quan:

NHTM Việt Nam nói chung, và của NH Quân Đội nói riêng. Doanh thu và lợi
nhuận từ họat động này mang lại luôn chiếm tỷ lệ cao, trên 80%. Đây sẽ là mảng
họat động rất được ngân hàng chú trọng đầu tư cả về thị trường sản phẩm và
chất lượng kinh doanh, ngân hàng luôn thực hiện cho vay với 3 mục tiêu cơ bản:
hiệu quả, an toàn và phát triển.
Nhờ làm tốt công tác huy động vốn, ngân hàng đã tích cực nhanh chóng
đa dạng hóa các mặt nghiệp vụ kinh doanh dịch vụ ngân hàng trong đó trọng
tâm là công tác tín dụng. Với mục tiêu nâng cao chất lượng tín dụng, thủ tục
nhanh gọn, thẩm định đúng quy trình tín dụng của ngân hàng, đáp ứng vốn kịp
thời cho nhu cầu sản xuất kinh doanh, dịch vụ đời sống, đầu tư và phát triển.
Chấp hành nghiêm túc cơ chế tín dụng trong đó coi trọng chất lượng tín dụng là
nhiệm vụ hàng đầu. Vì vậy, mặc dù tốc độ tăng trưởng dư nợ hàng năm của NH
Quân Đội không cao nhưng nhờ có chất lượng tín dụng tốt, quy trình quy chế
24
chặt chẽ, nên tỷ lệ nợ quá hạn luôn ở mức thấp, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận và
hiệu quả kinh doanh.
25

Trích đoạn Những kết quả đạt được và nguyên nhân Những hạn chế và nguyên nhân Tăng cường công tác huy động Thiết lập mối quan hệ tốt và lâu bền với khách
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status