thực trạng công tác giám định - giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI hiện nay - Pdf 23

Trường ĐH Lao Động- Xã Hội Khoa Bảo Hiểm

LỜI MỞ ĐẦU
Trong điều kiện nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn như hiện nay, các chủ
thể hoạt động trong nền kinh tế gặp rất nhiều rủi ro, kể cả doanh nghiệp bảo hiểm,
song đây lại là một cơ hội dành cho các công ty bảo hiểm. Bởi vì, các chủ thể kinh
tế có nhu cầu được đảm bảo an toàn hơn bao giờ hết, và lợi ích của bảo hiểm cũng
được khẳng định rõ tàng hơn.
Ở Việt Nam, đang trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấy nước thì
nền tảng cơ sở hạ tầng đang được tích cực xây dựng. Rất nhiều con đường, cây
cầu, rất nhiều nhà ở , xí nghiệp … được xây dựng. Mặt khác, khi nhà nước có gói
kích cầu hơn một ngàn tỷ USD tập trung vào xây dựng cơ cở hạ tầng, đặc biệt, theo
đánh giá của các nhà đầu tư nước ngoài, Việt Nam vẫn là một “điểm đầu tư hấp
dẫn”, do đó nhu cầu xây dựng trong nước đang trở nên mạnh mẽ, vì thế nhu cầu về
bảo hiểm xây dựng cũng trở nên thiết yếu đối với các nhà đầu tư.
Mấy năm lại đây, một số công trình xây dựng gặp rủi ro, sập đổ như cầu Cần
Thơ, cầu Trung Lương… gây ra thiệt hại to lớn về người và của. Và vì thế, chúng
ta thấy rõ hơn về vai trò của bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng.
Trong quá trình thực tập tại công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện PTI, em đã có
cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu về nghiệp vụ Bảo hiểm xây dựng, và nhận thấy đây là
một loại hình bảo hiểm rất tiềm năng trong khi tỷ lệ doanh thu phí của nghiệp vụ
này tại Công ty những năm qua chỉ dao động trong khoảng 3% tổng doanh thu phí
bảo hiểm chung. Do đó, em đã quyết định chọn đề tài “thực trạng công tác giám
định - giải quyết bồi thường nghiệp vụ bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng ở PTI
hiện nay”. Nội dung bài báo cáo thực tập tốt nghiệp được chia thành 2 phần:
Phần 1:Giới thiệu chung về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần
Bảo Hiểm Bưu Điện PTI.
Chương I: Tổng quan về công ty cổ phần Bảo Hiểm Bưu Điện PTI.
Chương II:Thực trạng hoạt động kinh doanh của công ty cổ phần Bảo Hiểm Bưu
Điện PTI.
Chương III:Một số khuyến nghị và giải pháp.

Trụ sở chính :
Địa chỉ :
Điện thoại :
Fax :
E-mail :
CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN
Post & Telecommunication Joint Stock Insurance Company
PTI
Tầng 8, tòa nhà, Số 4A Láng Hạ, Ba Đình, Hà Nội
04.37724466
04.37724460
Website: WWW. Pti.com.vn – Email: [email protected]
1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty CP bảo hiểm Bưu Điện.
1.1.1 Lịch sử hình thành.
Thực hiện chủ trương đa dạng hoá thị trường bảo hiểm Việt Nam, ngay sau
khi Nghị định 100/CP của Chính phủ được ban hành, các công ty bảo hiểm khác
(ngoài hệ thống bảo hiểm cũ) đã nhanh chóng được thành lập và đóng góp tích cực
vào việc phá bỏ độc quyền về kinh doanh bảo hiểm đã tồn tại hàng chục năm trước
đây. Một trong số các công ty bảo hiểm mới được thành lập đã chiếm được vị trí
tin cậy trên thị trường bảo hiểm Việt Nam: Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện
(PTI).
Được thành lập ngày 12/08/1998, Công ty Bảo hiểm Bưu điện là tập hợp
của các doanh nghiệp lớn thuộc các lĩnh vực kinh doanh khác nhau tạo nên sự đa
dạng về ngành nghề cũng như vững chắc về tài chính. Cổ đông sáng lập và chi
phối là Tổng Công ty Bưu Chính Viễn Thông Việt Nam (VNPT), nay là Tập đoàn
Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các cổ đông sáng lập khác là Tổng Công ty Cổ
phần Tái Bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE), Tổng Công ty Cổ phần Bảo
Minh, Tổng Công ty xây dựng Hà Nội (HACC), Tổng Công ty xuất nhập khẩu Xây
dựng Việt Nam (Vinaconex), Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quốc tế (VIB).
Công ty Tài chính Bưu điện.

khai tại PTI, gồm 540 người làm việc tại Hà Nội, Hội sở Giao dịch và 21 chi
nhánh, các văn phòng đại diện trong phạm vi toàn quốc. Công ty đã triển khai rộng
rãi hàng chục loại hình bảo hiểm trong các lĩnh vực bảo hiểm thiết bị điện tử/ tài
sản, bảo hiểm xây dựng - lắp đặt, bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu, con người,
xe cơ giới, trách nhiệm dân sự tới hàng vạn khách hàng trong cả nước. Công ty đã
giữ vị trí hàng đầu trong các công ty bảo hiểm về loại hình bảo hiểm thiết bị điện
tử/ tài sản, bảo hiểm xây lắp các công trình viễn thông, dân dụng...... Ngoài những
nghiệp vụ bảo hiểm truyền thống, trong thời gian qua PTI đã triển khai một số
nghiệp vụ bảo hiểm mới như: bảo hiểm vệ tinh, bảo hiểm bưu phẩm-bưu kiện khai
giá.
Nhằm đảm bảo khả năng bồi thường cho khách hàng và năng lực nhận bảo
hiểm cho các dự án đầu tư lớn, Bảo hiểm Bưu điện đã có quan hệ hợp đồng với
nhiều Công ty bảo hiểm và Tái bảo hiểm có uy tín trên thị trường quốc tế như các
Công ty tái bảo hiểm SwissRe, Công ty tái bảo hiểm MunichRe (Đức), Sumitomo
(Nhật), Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt nam... Công ty PTI có quan hệ mật
thiết với các Công ty giám định tổn thất chuyên nghiệp như Cunningham Lindsey,
Crawford, McLarens ... và đã nhận được sự cộng tác hiệu quả của các Công ty này
trong việc đánh giá rủi ro, giám định và giải quyết khiếu nại.
Với những thành tích đã đạt được, công ty đang ngày càng phát triển với
mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 30%. Năm 2007 công ty đã đạt doanh thu
phí bảo hiểm gốc là 305 tỷ đồng. Trong kế hoạch kinh doanh 5 năm lần thứ 1, PTI
bắt đầu hoạch định một chiến lược kinh doanh phát triển đến năm 2008 là tập trung
phục vụ tốt các khách hàng trong cổ đông và dựa vào đó làm nền tảng vững chắc
để phát triển ra thị trường bên ngoài nhằm tích cực hoà nhập và đón nhận cơ hội
cũng nhưng chấp nhận thách thức khi Việt Nam chính thức mở cửa hoàn toàn với
thị trường bảo hiểm thế giới.
Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN
Trường ĐH Lao Động- Xã Hội Khoa Bảo Hiểm

1.1.3 Cơ cấu tổ chức công ty PTI

- Phòng Tài chính – Kế toán: Phòng Tài chính – Kế toán có chức năng tham
mưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc quản lý, chỉ đạo, kiểm tra và
giám sát lĩnh vực Tài chính – Kế toán theo quy định của Nhà nước và Công ty.
Thực hiện công tác Tài chính – Kế toán tại Văn phòng Công ty
- Phòng Kế hoạch – Đầu tư: Phòng Kế hoạch Đầu tư có chức năng tham mưu
cho Ban Tổng Giám đốc trong công tác quản lý, chỉ đạo và kiểm tra các vấn đề liên
quan đến công tác kế hoạch, công tác đầu tư tài chính, công tác xây dựng cơ bản và
công tác quản lý cổ đông.
Khối Quản lý:
- Phòng Tổng hợp: Phòng Tổng hợp có chức năng tham mưu cho Ban Tổng
Giám đốc Công ty trong việc chỉ đạo điều hành các Phòng tại Văn phòng Công ty
để thực hiện chương trình, kế hoạch công tác, quy chế làm viẹc và trực tiếp tổ chức
thực hiện các công tác như: Công tác tổng hợp, thư ký, công tác pháp chế, công tác
hành chính quản trị, công tác tuyên truyền, quảng cáo, công tác quan hệ quốc tế,
đối ngoại, khánh tiết.
- Phòng Tổ chức Cán bộ: Phòng Tổ chức Cán bộ có chức năng tư vấn, tham
mưu cho Ban Tổng Giám đốc thống nhất quản lý công tác tổ chức, cán bộ, tuyển
dụng, đào tạo, lao động tiền lương và thi đua khen thưởng theo đúng chính sách,
chế độ quy định của Nhà nước và Công ty.
Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN
Trường ĐH Lao Động- Xã Hội Khoa Bảo Hiểm

- Phòng Công nghệ Thông tin: Phòng Công nghệ Thông tin có chức năng tham
mưu cho Ban Tổng Giám đốc Công ty trong việc quản lý, chỉ đạo các lĩnh vực
như: Nghiên cứu việc ứng dụng Công nghệ Thông tin vào quản lý và hoạt động
kinh doanh của Công ty, tổ chức thực hiện công tác thống kế, thu thập, quản lý và
cung cấp thông tin hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh và quản lý của Công ty.
Các đơn vị trực thuộc :
Công ty có 01 Hội sở và 22 Chi nhánh trên toàn quốc, trải đều từ Bắc, Trung,
Nam Bộ.

CHƯƠNG II : TRỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÔNG TY PTI
2.1 Hoạt động kinh doanh của công ty
Hiện nay, Công ty Bảo hiểm Bưu điện đang kinh doanh các nghiệp vụ bảo
hiểm phi nhân thọ theo sự cho phép của Nhà nước, cụ thể như sau:
Danh mục sản phẩm bảo hiểm PTI đã đăng ký với Bộ tài chính
A. Nhóm nghiệp vụ tài sản - kỹ thuật.
I. Bảo hiểm kỹ thuật
Bảo hiểm mọi rủi ro trong lắp đặt
Bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng
Bảo hiểm thiết bị điện tử
Bảo hiểm đổ vỡ máy móc
Bảo hiểm máy móc thiết bị chủ thầu
II. Bảo hiểm tài sản
Bảo hiểm mọi rủi ro cho tài sản
Bảo hiểm nhà tư nhân
Bảo hiểm mọi rủi ro công nghiệp
Bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt
III. Bảo hiểm hỗn hợp
Bảo hiểm trộm cắp
Bảo hiểm tiền
Bảo hiểm gián đoạn kinh doanh
Bảo hiểm lòng trung thực
Bảo hiểm khác về tài sản
IV. Bảo hiểm trách nhiệm
Bảo hiểm trách nhiệm đối với người thứ ba
Bảo hiểm trách nhiệm công cộng
Bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm
Bảo hiểm trách nhiệm hỗn hợp
B. Nhóm nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá.

TT Nghiệp vụ
Doanh thu phát
sinh
Doanh thu bán hàng
Doanh
thu thực
thu
Bồi thường đã
giải quyết
Năm
2009
% NT
Năm
2009
% NT % KH
Năm
2009
năm
2009
%DTBH
năm
2009
I TSKT 50,810 117.18% 49,868 119.02% 83.05% 44,763 3,140 7
1 TBĐT 16,840 103.94% 166,625 112.32% 97.96% 13,349 1,770 11
2 Hỏa hoạn 3,886 217.59% 2,962 154.25% 44.41% 2,959 399 13.46
3 XDlắp đặt 19,086 152.18% 17,894 131.88% 95.82% 16,831 723 4.04
4 BH khác 4,174 124.53% 5,132 149.37% 165.54% 4,691 0.53 0.01
5 BH tàu 6,815 186.47% 7,228 348.28% 122.52% 6,933 248 3.43
II Hàng hóa 9,784 125.86% 9,567 142.70% 136.68% 9,451 625 6.53
6 hàng nhập 4,779 112.26% 5,299 148.30% 132.48% 6,090 591 11.15

22%. Với mức tăng trưởng doanh thu phát sinh 21% trên nền doanh thu năm 2008
là 69,8 tỷ đã phản ánh tình hình kinh doanh của Hội sở nói chung và sự phát triển
của từng nghiệp vụ nói riêng là khá cao. Đây là năm Hội sở ký được nhiều hợp
đồng ngoài ngành, các hợp đồng vừa đa dạng về nghiệp vụ vừa có tầm cỡ về quy
mô và giá trị.
Về tình hình kinh doanh bán hàng: Đạt 84,206 tỷ đồng, bằng 105% kế
hoạch Công ty giao. Tăng cường 32% so với năm 2008. Trong tình hình khủng
hoảng kinh tế, sụt giảm chi tiêu và đầu tư, môi trường kinh doanh cạnh tranh khốc
liệt, kết quả doanh hu như trên đã phản ánh sự cố gắng của tập thể cán bộ công
nhân viên Hội sở.Để thấy được mặt mạnh yếu trong cơ cấu doanh thu,tôi xin phân
tích sơ lược một vài nét như sau:
Trong tổng số doanh thu thực hiện được:
Doanh thu nghiệp vụ xe cơ giới đạt 21 tỷ đồng có tỷ trọng lớn nhất, chiếm
25% tổng doanh thu tăng 23% so với năm 2008, mặc dù Hội sở đã loại bỏ những
dịch vụ xấu.
Doanh thu nghiệp vụ xây dựng lắp đặt đạt 17,8 tỷ đồng chiếm 20,1 % tổng
doanh thu, tăng 31% so năm 2008.
Doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm thiết bị điện tử đạt 16,6 tỷ đồng chiếm 19% tổng
doanh thu, tăng 12% so với năm 2008.
Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN
Loại
khách
hàng
năm 2008
Kế hoạch năm
2009
Thực hiện năm
2009
Doanh
thu

Vship, Lucky Vship, Vinashin, FSO Queensway, Phú đạt , Thanh Xuân, Bình
Dương, Green Viship…).
Qua phân tích cơ cấu doanh thu heo nghiệp vụ, Hội sở thấy rằng, trong
thời gian tới, ngoài việc tập trung khai thác nghiệp vụ có khả năng cho doanh thu
cao như xây dựng lắp đặt thì cần đẩy mạnh hơn nữa để tăng cường khai thác tăng
doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới, hỏa hoạn, hàng hóa và đặc biệt là các
dịch vụ có tính tái tụng hàng năm.
Tình hình khai thác trong ngành và ngoài ngành:
Trong các năm 2008,2009 do việc tham gia bảo hiểm các dự án và các tài
sản lớn trong VNPT phải thực hiện đấu thầu nên thị phần bị chia sẻ và khó khăn
trong cạnh tranh.
Về doanh thu trong ngành năm 2009 đạt 31.1 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng
37,2% tổng số doanh thu, tăng 10% doanh thu so với năm 2008. Với cơ cấu doanh
thu trong ngành như trên đã thể hiện được sự cố gắng của Hội sở cũng như sự giúp
đỡ của Ban Tổng Giám Đốc Công Ty.
Về doanh thu ngoài ngành: Doanh thu ngoài ngành trong năm 2009 đạt
52,8 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 62,78% tổng doanh thu, tăng 50,8% so với năm 2008.
Trong đó chủ yếu tập trung vào 3 nghiệp vụ là: Nghiệp vụ xe cơ giới17,3 tỷ đồng,
chiếm tỷ trọng 32%. Nghiệp vụ xây dựng lắp đặt 14,4 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 27%.
Nghiệp vụ bảo hiểm tàu 7,2 tỷ đồng chiếm tỷ trọng 13% tổng doanh thu, hàng hóa
là hơn 6 tỷ đồng chiếm 11%/tổng doanh thu.sự khác biệt so với một vài năm trước
là trong nhiều hợp đồng lớn ngoài ngành tuy nhiên phải cạnh tranh với các công ty
bảo hiểm lớn trên thị trường nhưng với sự tin tưởng, ủng hộ của khách hàng, hội sở
đã có ưu thế, chủ động đàm phán và giành nhiều dịch vụ lớn.
Về tình hình tổn thất, bồi thường năm 2009: Tỷ lệ tổn thất bồi thường của
Hội sở tương đối tốt.
Bảng 4: Tỉ lệ bồi thường từng nghiệp vụ
Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN
Trường ĐH Lao Động- Xã Hội Khoa Bảo Hiểm


Rủi ro là tiền đề của bảo hiểm, không có rủi ro thì không có bảo hiểm. Song
không phải vì thế mà công ty không quan tâm đến việc đề phòng hạn chế tổn thất.
Ngược lại, qua công tác giám định,xử lý tai nạn và giải quyết bồi thường, công ty
có thể biết được đâu là nguyên nhân chính dẫn đến việc tai nạn, từ đó đề ra các
biện pháp đề phòng hạn chế tổn thất. Các biện pháp này làm giảm nguy cơ xuất
hiện rủi ro, tổn thất, nhờ đó mà giảm được số tiền bồi thường mà công ty phải chi
Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN
Nghiệp vụ
Tồn
2009
Tồn
2008
Doanh
thu BH
Đã bồi
thường
Tỉ lệ
BT
Mức
Xe ô tô
( Bao gồm tổ bán lẻ)
5,877 4,236 22,958 10,745 53.88 1
Xe máy
( Bao gồm tổ bán lẻ)
96 3.7 2,459 114.6 7.91 1
Con người
( Bao gồm tổ bán lẻ)
452.2 22.6 4,688 1,683 45.07 1
Hàng 1.263 1,018 16,821 873 6.65 1
TSKT 30,337 22,911 42,639 2,892 24.13

Từ những tháng cuối năm 2008, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã
bùng phát mạnh mẽ và kéo dài sang cả năm 2009đã làm cho tốc độ tăng trưởng
kinh tế của tất cả các nước trên thế giới bị chững lại, suy thoái.Đây là vấn đề mấu
chốt nhất có ảnh hưởng rất lớn đến thị trường tài chính nói chung và thị trưởng bảo
hiểm nói riêng.
Một số công ty bảo hiểm mới ra đời như: Bảo hiểm hàng không, Bảo hiểm
ngân hàng nông nghiệp, Bảo hiểm Quân Đội…đã thu hẹp thị phần của Hội sở.
Năm 2009 vừa qua với chính sách thắt chặt tín dụng của các ngân hàng, sụt
giảm chi tiêu, đầu tư cũng là một trong những nguyên nhân khó khăn cho hoạt
động khai thác bảo hiểm. Hàng loạt các Dự án phải giãn tiến độ vì không thu xếp
được vốn, kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp cũng sụt giảm mạnh nên ảnh
hưởng rất lớn dến hoạt động kinh doanh của Hội sở.
Đối với các đơn vị trong ngành VNPT và khách hàng truyền thống trong tình
hình hiện nay, việc bán bảo hiểm phải thông qua hình thức đấu thầu hoặc chào giá
cạnh tranh rộng rãi đã ảnh hưởng rất lớn tới tỉ lệ phí của PTI.
Nguyên nhân chủ quan:
Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN
Trường ĐH Lao Động- Xã Hội Khoa Bảo Hiểm

Chương trình quảng cáo, quảng bá hình ảnh chưa tương xúng với vị thế và
tham vọng của PTI. Công tác chăm sóc khách hàng còn chưa được chuẩn hóa từ đó
làm giảm khả năng cạnh tranh dẫn tới thu hẹp thị trường.
Chưa có biện pháp kích thích, hỗ trợ mang tính tổng thể chiến lược phát triển
với quy mô rộng để đẩy mạnh khai thác giúp các đơn vị có động lực cũng như cơ
chế chăm sóc khách hàng mang tính cạnh tranh hơn.
Việc triển khai hệ thống phần mềm quản lý còn một số chưa đáp ứng được nhu cầu
quản lý như chưa có chương trình quản lý bán hàng qua VNPOST.
2.6 Đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty
2.6.1 Kết quả đạt được :
Công tác giám định bồi thường:

Đào tạo nội bộ giữa các phòng trong Hội sở.
Các phòng Nghiệp vụ tại Hội sở đã có sự tiến bộ rõ rệt, hỗ trợ tích cực cho
các phòng kinh doanh trong khai thác cũng như là đầu mối làm việc với các phòng
Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN
Trường ĐH Lao Động- Xã Hội Khoa Bảo Hiểm

nghiệp vụ trên công ty rong công tác hướng dẫn nghiệp vụ và bồi thường trên phân
cấp góp phần giảm thiểu thời gian tác nghiệp giữa đơn vị đề ra được những quyết
định kịp thời trong kinh doanh .
2.6.2 Những điểm còn tồn tại.
Tỷ lệ bồi thường xe cơ giới còn cao do một số doanh nghiệp vận tải cũng như
xe tải có tần suất tổn thất lớn.
Do mới tách công tác giám định xe cơ giới ra khỏi các phòng kinh doanh nên
việc phối hợp giưa các bộ phận chua được nhịp nhàng dẫn đến đôi khi việc giải
quyết bồi thường còn chư đúng tiến độ.
Chưa xây dựng được chương trình tổng thể đào tạo khai thác viên, giám định
viên, giải quyết hồ sơ phát sinh còn chậm, chưa đảm bảo đúng yêu cầu về thời hạn
giải quyết bồi thường.
Ý thức trách nhiệm và chuyên môn của một số cán bộ còn kém, chưa tuân
thủ đúng các yêu cầu về quy trình nghiệp vụ. Sự phối hợp công việc giưa các
phòng ban còn lúng túng. Lãnh đạo một số phòng còn chưa phát huy được vai trò
đầu tầu và thậm trí chưa quán xuyến được hết việc ở phòng.
Hồ sơ thầu bảo hiểm chưa đồng bộ giữa các phòng và chưa thể hiện được tính
chuyên nghiệp khi tham gia đấu thầu.
Các phòng Nghiệp vụ chưa sắp xếp khoa học việc lưu trữ và cung cấp tài
liệu nghiệp vụ cho các phòng khi cần thiết.
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP
3.1 Phương hướng hoạt động kinh doanh của PTI trong thời gian tới.
- Mục tiêu của Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu Điện: Phát triển ổn định, bền
vững, hiệu quả.

Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN
Trường ĐH Lao Động- Xã Hội Khoa Bảo Hiểm

3.1.1 Chiến lược về sản phẩm và dịch vụ.
- Đẩy mạnh đa dạng hóa sản phẩm, thiết kế sản phẩm mới và sửa đổi bổ sung
các sản phẩm hiện có nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
- Cải tiến chất lượng dịch vụ bằng việc xây dựng tiêu chuẩn chất lượng ISO
9001-2000.
- Đa dạng hóa đầu tư tài chính thông qua các hình thức đầu tư bất động sản,
chứng khoán, góp vốn kinh doanh theo hướng đẩm bảo an toàn, hiệu quả.
3.1.2 Chiến lược thị trường.
- Khai thác triệt để thế mạnh đối với các sản phẩm PTI hiện đang cung cấp
đặc biệt là sản phẩm bảo hiểm thiết bị điện tử nhằm duy trì và nâng cao vị trí và thị
phần của PTI trên thị trường bảo hiểm.
- Xây dựng và phát triển hệ thống phân phối sản phẩm bảo hiểm qua kênh
phân phối của mạng lưới Bưu cục Bưu chính Việt Nam.
3.1.3 Phát triển nguồn nhân lực.
- Xây dựng đội ngũ nhân viên trình độ cao, kỹ năng tốt nhằm đáp ứng những
yêu cầu ngày càng cao của khách hàng và các thay đổi của thị trường.
- Nâng cao trình độ và kinh nghiệm của bộ máy lãnh đạo
- Với nỗ lực không ngừng, PTI đã phát triển đội ngũ trên 500 cán bộ nhân
viên làm việc tại Hà Nội, 22 chi nhánh, các văn phòng đại diện trong phạm vi toàn
quốc.
3.2 Các giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra.
1. Nâng cao khả năng tài chính và năng lực cạnh tranh, mở rộng đầu tư đẩy
nhanh tiến trình hội nhập.
2. Xây dựng mô hình tổ chức phù hợp nhằm nâng cao tính hiệu quả của hoạt
động kinh doanh.
3. Đào tào đội ngũ nhân viên và lãnh đạo nhằm phát huy tối đa nội lực.
4. Cân đối dòng tiền, đảm bảo khả năng thanh toán và đa dạng hóa nguồn


PHẦN 2:
CHUYÊN ĐỀ “ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH- GIẢI QUYẾT
BỒI THƯỜNG NGHIỆP VỤ BẢO HIỂM MỌI RỦI RO XÂY DỰNG Ở PTI
HIỆN NAY” .
CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO HIỂM MỌI RỦI RO XÂY DỰNG
VÀ CÔNG TÁC GIÁM ĐỊNH – BỒI THƯỜNG
1.1. Tổng quan về bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng:
1.1.1. Sự cần thiết khách quan của bảo hiểm mọi rủi ro xây dựng:
1.1.1.1. Vai trò của ngành xây dựng:
Hiện nay, các kiến trúc hiện đại được xây dựng trên cơ sở khoa học và công
nghệ. Phạm vi của ngành xây dựng ngày càng được mở rộng hơn: từ những ngôi
nhà cấp bốn, đến những “ tháp” cao hàng trăm tầng, từ những công trình thủy lợi
mương máng đến những con đập khổng lồ ngăn hàng ngàn mét khối nước, từ các
con đường, cây cầu, đường hầm đến các sân bay, cầu cảng, nhà máy… Các phát
minh về kỹ thuật, công nghệ gần đây làm gia tăng tầm cỡ, và mức độ phức tạp cho
các dự án xây dựng. Ngành xây dựng đã và đang đạt được nhiều thành tựu quan
trọng mà thiếu nó, chúng ta hầu như không thể khẳng định được sự tiến bộ của loài
người. Sự văn minh, phát triển của một quốc gia được đánh giá qua cơ sở vật chất
hạ tầng- được đảm bảo thông qua ngành xây dựng. Và con người hàng ngày đang
thực hiện xây dựng mới, nâng cấp các công trình về quy mô nhằm nâng cao năng
lực sản xuất và hiệu quả sản xuât, tiến hành mở rộng quy mô sản xuất, đảm bảo
mối quan hệ tỷ lệ, cấn đối, hợp lý cho sự phát triển kinh tế giữa các ngành, các khu
vực, các vùng kinh tế trong từng giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước. Tạo điều
kiện xóa bỏ dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền
ngược, năng cao trình độ dân trí cho người dân. Ngành xây dựng tạo điều kiện
nâng cao chất lượng, hiệu quả các hoạt động xã hội, dân sinh, quốc phòng thông
qua việc đầu tư xây dựng các công trình xã hội, cơ sở hạ tầng. Góp phần nâng cao
đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. Bên cạnh đó, hàng năm, ngành công
nghiệp xây dựng đóng góp cho ngân sách hàng ngàn tỷ đồng. Giải quyết công ăn

nghĩa và diễn giãi sau :
- Đối tượng bảo hiểm
Đối tượng của bảo hiểm xây dựng bao gồm tất cả các công trình xây dựng dân
dụng, công trình công nghiệp,vv…vv., hay nói cách khác là bao gồm tất cả các
công trình xây dựng mà kết cấu của nó có sử dụng xi măng và bê tông cốt thép. Cụ
thể các nhóm công trình sau:
- Nhà ở, trường học, bệnh viện, trụ sở làm việc, rạp hát, rạp chiếu phim, các
công trình văn hóa khác…
- Nhà máy, xí nghiệp, các công trình phục vụ sản xuất…
- Đường sá ( bao gồm cả đường bộ và đường sắt) đường băng sân bay…
- Cầu cống, đê đập. công trình thoát nước, kênh đào, cảng…
Mỗi công trình bao gồm nhiều hạng mục riêng biệt được xác định và dự tình
thông qua sơ đồ tổng thể, bản vẽ thiết kế cùng các máy móc trang thiết bị cần thiết
phục vụ cho công tác xây dựng cũng như công việc có liên quan trong quá trình
xây dựng. Để thuận tiện cho việc tính phí bảo hiểm cũng như giải quyết khiếu nại
trong trường hợp tổn thất xẩy ra, một công trình được chia thành nhiều hạng mục
khác nhau. Bao gồm:
a. Cấu trúc chủ yếu của công trình xây dựng: Hạng mục này chiếm phần lớn
giá trị công trình. Nó bao gồm tất cả các công việc của chủ thầu chính ( bên B ) và
tất cả các nhà thầu phụ của chủ thầu chính theo hợp đồng xây dựng ký kết giữa bên
A và bên B : Từ công tác chuẩn bị, dọn dẹp mặt bằng, xây dựng các công trình tạm
thời phục vụ cho công tác thi công cho đến công việc đóng cọc, làm móng và xây
dựng cấu trúc chính của công trình.
b. Trang thiết bị xây dựng: Gồm các thiết bị cố định phục vụ thi công như
các công trình phụ trợ ( lán trại, trụ sở tạm thời, kho bãi, nhà xưởng ), giàn giáo, hệ
thống băng tải, thiết bị cung cấp điện, nước, rào chắn…Khi yêu cầu bảo hiểm cho
các thiết bị này cần phải có danh sách kèm theo đơn bảo hiểm.
c. Máy móc xây dựng: Bao gồm các mày móc có động cơ tự hành hoặc tự
hành phục vụ thi công như máy xúc, máy ủi, cần cẩu, xe chuyên dùng…thuộc
Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN

đến công việc xây dựng và quyền lợi trong công trình xây dựng và được nêu tên
hay chỉ định trong bản phụ lục bảo hiểm đều có thể là người được bảo hiểm:
- Chủ đầu tư hoặc chủ công trình ( bên A trong hợp đồng xây dựng )
- Nhà thầu chính ( bên B trong hợp đồng xây dựng )
- Các nhà thầu phụ
- Các kiến trúc sư, kỹ sư tư vấn, cố vấn chuyên môn. Tuy nhiên, hợp đồng
bảo hiểm xây dựng không bảo hiểm cho trách nhiệm nghề nghiệp của các kiến trúc
sư, cố vấn chuyên môn, các kỹ sư tư vấn mặc dù họ có liên quan đến công trình
xây dựng.
Do đó rất nhiều bên được bảo hiểm nên sẽ nảy sinh vấn đề đơn bảo hiểm sẽ
ghi tên ai hay ai sẽ là người được nghi tên đầu tiên. Thông thường người đứng ra
ký hợp đồng bảo hiểm và đóng phí sẽ là người đại diện cho các bên trong hợp
đồng. Vì vậy, trên hợp đồng sẽ ghi tên người đứng ra đại diện kèm theo danh sách
những người có quyền lợi liên quan đến công trình.
Hình 1: Các bên liên quan đến công trình

Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN
Trường ĐH Lao Động- Xã Hội Khoa Bảo Hiểm

Nhà tài trợ
Chủ đầu tư Nhà tư vấn Nhà thầu A Nhà thầu B
Các nhà thầu phụ Các nhà thầu phụ
Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN
Trường ĐH Lao Động- Xã Hội Khoa Bảo Hiểm

Hình 2: Sơ đồ quan hệ giữa các bên để thực hiện bảo hiểm cho dự án
Quan hệ trực tiếp

được tính trong hợp đồng chỉ là phí tạm tính, phí bảo hiểm chính thức sẽ được tính
toán theo quyết toán công trình được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN
Các công ty tái bảo
hiểm
Người bảo hiểm
Công ty giám định
Chủ đầu tư
Tư vấn, giám sát và các
bên liên quan khác
Nhà thầu xây lắp
Người được
bảo hiểm bồi
thường
Trường ĐH Lao Động- Xã Hội Khoa Bảo Hiểm

Một công trình xây dựng, có thể bao gồm nhiều hạng mục.
Ví dụ: Như xây dựng khu đô thị thông thường bao gồm phần đường nội bộ, các
nhà cao tầng, biệt thự, công viên,…Công ty bảo hiểm tính phí bảo hiểm riêng cho
từng hạng mục công trình sau đó tính tổng phí bảo hiểm.
Trong quá trình tính phí bảo hiểm, nếu đối tượng bảo hiểm không có trong
biểu phí, thì sẽ được tham chiếu tới những đối tượng bảo hiểm khác có mức độ rủi
ro tương tự.
Mặc dù Bộ Tài chính có đề nghị không nên sử dụng tiếp Quyết định số
33/2004/QĐ-BTC ngày 12/04/2004, song hiện tại Bộ tài chính cũng chưa có văn
bản nào thay thế cho nghị định 33, nên hiện nay các công ty bảo hiểm vẫn đang áp
dụng Biểu phí bảo hiểm xây dựng, ban hành kèm theo Quyết định này.
Biểu phí bảo hiểm áp dụng cho các công trình và các hạng mục có tổng số
tiền bảo hiểm không vượt quá 50.000.000 USD. Đối với các công trình có giá trị từ
50.000.000 USD trở lên, phí bảo hiểm sẽ do doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua

Sinh viên thực hiện: Trịnh Thị Bích Hồng - Báo cáo TTTN

Trích đoạn Đánh giá chung công tác giám định bồi thường nghiệp vụ mọi rủi ro xây dựng Về công tác bồi thường Một số kiến nghị
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status