THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP KẾ HOẠCH HÀNG NĂM CỦA CÔNG TY DỆT VĨNH PHÚ - Pdf 23


MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1
MỞ ĐẦU
Hiện nay Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của tổ chức thương
mại quốc tế (WTO). Điều này đồng nghĩa với việc cơ hội mở ra cho các doanh
nghiệp trong nước sẽ rất nhiều nhưng thách thức đối với họ cũng không nhỏ. Sự
cạnh tranh ngay chính tại thị trường trong nước của giữa các doanh nghiệp sẽ
trở nên gay gắt hơn với sự xuất hiện của các doanh nghiệp nước ngoài. Trong
điều kiện đó, để có thể phát triển được thì các doanh nghiệp phải thường xuyên
tự hoàn thiện mình để đạt được hiệu quả kinh doanh cao nhất đồng thời có thể
tự chủ được trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
Với việc gia nhập WTO, thị trường của các doanh nghiệp không còn bị bó
hẹp trong nước nữa mà được trải rộng trên toàn thế giới. Tình rủi ro và cạnh
tranh trên thị trường ngày càng trở nên gay gắt, quyết liệt. Để đối phó với những
thay đổi bất thường của thị trường, cũng như nắm bắt các cơ hội thị trường một
cách tốt nhất, mang lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp
phải xây dựng cho mình một kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp.
Chính vì vậy, kế hoạch kinh doanh đóng vai trò đặc biệt quan trọng với sự
tồn tại, phát triển của doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng đó, em đi
sâu nghiên cứu kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp trong nền kinh tế thị
trường với đề tài:
“Kế hoạch hàng năm của công ty dệt Vĩnh Phú: Thực trạng và giải
pháp”.
Đề tài gồm 3 phẩn:
Phần I: Lý luận chung về kế hoạch kinh doanh trong doanh nghiệp.
Phần II: Thực trạng công tác lập kế hoạch hàng năm của công ty dệt Vĩnh
Phú.

lĩnh vực sản xuất kinh doanh của đơn vị mình nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Hay nói cách khác “kế hoạch kinh doanh là một quy trình ra quyết định cho

3
phép xây dựng một hình ảnh mong muốn về trạng thái tương lai của doanh
nghiệp và quá trình triển khai thực hiện mong muốn đó.”
Như vậy, kế hoạch hóa trong doanh nghiệp là thế hiện kỹ năng tiên đoán
mục tiêu phát triển và tổ chức quá trình thực hiện mục tiêu đã đề ra. Công tác
này bao gồm các hoạt động:
- Lập kế hoạch
- Tổ chức thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh và đánh giá kế hoạch.
2. Sự cần thiết của kế hoạch kinh doanh đối với doanh nghiệp:
Tại sao một công ty phải lập kế hoạch kinh doanh cho mình? Câu trả lời cho
câu hỏi này cũng chính là sự cần thiết của kế hoạch kinh doanh đối với doanh
nghiệp.
- Kế hoạch hóa là một chức năng quản lý, do đó phải biết được bộ phận
nào, nguồn lực gì tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Quá trình hoạch định trong doanh nghiệp buộc họ phải nhìn vào các
hoạt động trong tương lai của công ty và dự kiến trước những gì có thể xảy ra.
Một kế hoạch tốt cần phải xem xét được công ty theo một cách nhìn, đánh giá
được những hiện trạng của nó và những triển vọng trong tương lai một cách
khách quan nhất.
- Tiến trình chuẩn bị cho một kế hoạch kinh doanh cũng như những suy
nghĩ về kế hoạch đó khiến doanh nghiệp phải xem xét toàn bộ dự án kinh doanh
của mình một cách khách quan, khoa học và không cảm tính.
- Kế hoạch kinh doanh là bảng hướng dẫn từng bước một trong việc điều
hành công ty và hướng dẫn hoạt động kinh doanh ấy đạt các kết quả tốt đẹp.
- Một kế hoạch kinh doanh sẽ là một công cụ hữu hiệu để tạo cơ hội
thuận tiện cho các công ty tài chính, tín dụng tài trợ cho kế hoạch kinh doanh.
Thực vây, kế hoạch kinh doanh cung cấp các thông tin cần thiết cho các

ngoài tầm kiểm soát của doanh nghiệp có thể phá vỡ cả những kế hoạch tốt nhất
đã có, nhưng nếu không có kế hoạch và tổ chức quá trình hoạt động thông qua
các mục tiêu định lập trước thì có nghĩa là chúng ta đã để cho các sự kiện có

5
liên quan đến sinh mệnh sống của doanh nghiệp mình diễn ra một cách ngẫu
nhiên và tính rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp sẽ tăng lên.
- Giúp doanh nghiệp ứng phó với những thay đổi bất thường của thị trường.
Lập kế hoạch là dự kiến những vấn đề của tương lai, mà tương lai lại rất ít khi
dự đoán chính xác được, tương lai càng dài thì kết quả của các quyết định càng
kém chắc chắn. Thậm chí ngay khi tương lai có độ chắc chắn cao thì các nhà
quản lý vẫn cần phải tìm cách tốt nhất để đạt mục tiêu đề ra, phân công, phối
hợp hoạt động của các bộ phận trong hệ thống tổ chức trong quá trình thực hiện
mục tiêu kế hoạch và tháo gỡ, ứng phó với những bất ổn trong diễn biễn sản
xuất kinh doanh.
- Tạo khả năng tác nghiệp kinh tế trong doanh nghiệp. Công tác kế hoạch hóa
thường hướng tới cực tiểu hóa chi phí vì nó chú trọng vào các hoạt động hiều
quả và bảo đảm tình phù hợp. Kế hoạch thay thế sự hoạt động manh múm,
không được phối hợp bằng sự nổ lực có dịnh hướng chung, thay thế luồng hoạt
động thất thường bởi một luồng đều đặn, và thay thế những phán xét vộ vàng
bằng những quyết định có cân nhắc kỹ lưỡng. Ở phạm vi doanh nghiệp, tác
dụng của kế hoạch hóa với các tác nghiệp kinh tế càng rõ nét hơn. Công tác kế
hoạch hóa doanh nghiệp tạo cơ sỏ cho việc nhìn nhận logic các nội dung hoạt
động có liên quan chật chẽ với nhau trong quá trình tiến tới mục tiêu chung của
doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, các nhà quản lý thực hành các phân công, điều độ,
tổ chức các hành động cụ thể, chi tiết theo đúng trình tự, bảo đảm cho sản xuất
sẽ không bị rối loạn và ít bị tốn kém.
4. Quy trình kế hoạch hóa trong doanh nghiệp.
Có rất nhiều cách tiếp cận về quy trình kế hoạch hóa trong doanh nghiệp.
Song nói một cách chung nhất, quy trình kế hoạch hóa trong doanh nghiệp được

hoạch để thực
hiện mục tiêu.
Tổ chức lựa chọn
và thực hiện kế
hoạch.
Thực hiện các
điều chỉnh cần
thiết.
Đánh giá và phân
tích quá trình
thực hiện.
P D
Plan Do
A C
Act
Check
thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, việc dự đoán trước tương lai thường là
rất khó, trong khi việc xây dựng kế hoạch cần dựa trên những giải pháp xảy ra
trong tương lai. Vì vậy, việc xây dựng nhiều phương án khác nhau sẽ giúp
doanh nghiệp ứng phó kịp thời với những thay đổi của thị trường.
Các bước soạn lập kế hoạch:
Để xây dựng bản kế hoạch có tính khả thi, có tính linh hoạt cao thì mỗi
doanh nghiệp cần phải xây dựng riêng cho mình một quy trình soạn lập kế
hoạch đảm bảo phù hợp với thực tế của doanh nghiệp mình. Tuy nhiên, trong
thực tế hầu hết quy trình soạn lập kế hoạch thường thực hiện theo các bước sau:
Bước 1: Phân tích môi trường kinh doanh.
Sơ đồ 2: Các bước soạn lập kế hoạch trong doanh nghiệp.
Mục đích của họat động này là giúp doanh nghiệp nhận thức được các cơ
hội, thách thức của mình và thông qua việc phân tích các yếu tố của môi trường
bên ngoài và bên trong doanh nghiệp. Thông qua việc phân tích ảnh hưởng của

tới.
Bước 2: Thiết lập các mục tiêu và nhiệm vụ thời kỳ kế hoạch.
Các mục tiêu sẽ xác định kết quả cần thu được và chỉ ra các điểm kết thúc
trong các việc cần làm, nơi nào cần phải được chú trọng ưu tiên và cái gì cần
hoàn thành bằng một hệ thống chiến lược, các chính sách, các thủ tục, các ngân
quỹ, các chương trình.
Bước 3: Xây dựng kế hoạch chiến lược
Khác với các nhiệm vụ mục tiêu ở bước hai được doanh nghiệp đặt ra dựa
vào ý muốn chủ quan của mình, việc xây dựng kế hoạch kinh chiến lược cũng
thể hiện những mục tiêu phát triển lâu dài của doanh nghiệp nhưng những mục
tiêu này phải đảm baỏ tính khả thi. Nghĩa là các mục tiêu không chỉ thể hiện
những mong muốn chủ quan của người lãnh đạo mà phải được kết hợp với
những phân tích về môi trường bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp. Việc
xây dựng một kế hoạch chiến lược thường được tiến hành tuần tự từ xác định
các phương án kế hoạch chiến lược đến đánh giá các phương án lựa chọn và
cuối cùng là lựa chọn chiến lược. Thông thường, sau khi phân tích môi trường,
doanh nghiệp sẽ xây dựng cho mình cùng lúc nhiều phương án để lựa chọn với
những tiêu chí khác nhau. Nhiệm vụ của hoạt động đánh giá phương án là xem
xét, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của từng phương án cụ thể. Sau khi xem xét
đánh giá điểm mạnh yếu của từng phương án người ta làm kế hoạch cho nhiệm
vụ căn cứ vào những ưu tiên của doanh nghiệp để xác định cho mình phương án
phát triển của doanh nghiệp và phương án dự phòng.
Bước 4: Xác định các chương trình, dự án.
Bước này còn được gọi là bước chương trình hóa các mục tiêu chiến lược,
giai đoạn này sẽ cho phép doanh nghiệp cụ thể hóa các mục tiêu chiến lược của

9
mình thành nhiều chương trình, dự án khác nhau. Thông qua các chương trình
dự án cụ thể, các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp sẽ từng bước được cụ
thể hóa thành các chương trình, các mặt hoạt động quan trọng hay các dự án với

vấn về tính hợp lý và tính khả thi của kế hoạch. Đội ngủ này có nhiệm vụ xem
xét đánh giá lại tính hợp lý của hệ thống kế hoạch của các mục tiêu chiến lược
đến các chỉ tiêu, mục tiêu của các kế hoạch tác nghiệp, ngân sách thực hiện các
mục tiêu đó, có những điều chỉnh cần thiết, trên cơ sở đó tiến hành phê chuẩn
để chuyển giao nội dung kế hoạch các cấp thực hiện.
4.2. Do: Tổ chức lựa chọn và thực hiện kế hoạch .
Nội dung chính của giai doạn này là lựa chọn một phương án trong những
phương án đã được xây dựng và tổ chức thực hiện phương án kế hoạch đó. Để
làm được điều này, doanh nghiệp cần tổ chức một hoặc nhiều bộ phận khác
nhau chịu trác. Bộ phận này có nhiệm vụ thu thập, xử lý, phân tích các số liệu
để phát hiện bất kỳ một vấn đề nào nãy sinh trong quá trình thực hiện, bộ phận
này có trách nhiệm báo với Ban lãnh đạo công ty để có những biện pháp điều
chỉnh cho phù hợp. Tuy nhiên hoạt động theo dõi giám sát cần phải được thực
hiện thường xuyên, liên tục ngay từ khi bắt đầu thực hiện kế hoạch cho đến khi
kế hoạch được kết thúc và đã được đánh giá là đã hoàn thành. Bởi dù ở bất kỳ
hoạt động nào trong quá trình thực hiện kế hoạch cũng đều có thể phát sinh
những yếu tố ngoài dự kiến. Khi đó nếu không có bộ phận theo kiểm tra giám
sát theo dõi kịp thời rất có thể gây ra những hậu quả bất lợi cho kinh doanh của
doanh nghiệp.
4.3. Check: Tổ chức công tác theo dõi, giám sát thực hiện kế hoạch.
Nhiệm vụ của quá trình này là thúc đẩy thực hiện các mục tiêu để ra và theo
dõi, phát hiện những phát sinh không phù hợp với mục tiêu. Khi phát hiện
những phát sinh không phù hợp, điều quan trọng là phải tìm được những các
nguyên nhân dẫn đến vấn đề đó. Những nguyên nhân này có thể thuộc về các
cấp thực hiện kế hoạch, ý thức chủ quan của các nhà lãnh đạo, quản lý hay là
những phát sinh đột xuất nảy sinh trong quá trình triển khai kế hoạch.
4.4. Act: Điều chỉnh các hoạt động.

11
Trong thực tế hoạt động của doanh nghiệp, giai đoạn này chỉ xuất hiện khi

gian ngắn hơn, thường là 3 hoặc 5 năm.

13
1.3. Kế hoạch ngắn hạn.
Thường là các kế hoạch hàng năm và các kế hoạch tiến độ, hành động có
thời hạn dưới một năm như: Kế hoạch quý, tháng…Kế hoạch ngắn hạn bao gồm
các phương pháp cụ thể để đạt được mục tiêu trong kế hoạch dài hạn và trung
hạn.
Tuy nhiên, việc phân chia thời hạn của các kế hoạch chỉ mang tính chất
tương đối, nhất là đối với những điều kiện thị trường hiện nay. Do vậy, trong
những lĩnh vực mà điều kiện thị trường biến động nhiều thì những kế hoạch cho
từ 3 đến 5 năm cũng có thể coi là rất dài hạn.
2. Theo góc độ nội dung, tính chất hay cấp độ của kế hoạch thì hệ thống kế
hoạch trong doanh nghiệp được chia thành: Kế hoạch tổng thể và kế hoạch bộ
phận.
2.1. Kế hoạch tổng thể: là kế hoạch kinh doanh nói chung.
Kế hoạch sản xuất kinh doanh là một quá trình có tính chất liên tục từ khi
chuẩn bị cho đến khi tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện
kế hoạch để đưa doanh nghiệp phát triển theo các mục tiêu đã định.
Kế hoạch sản xuất kinh doanh là một hệ thống các phương hướng, nhiệm vụ,
mục tiêu và các chỉ tiêu nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính cần thiết cho
việc thực hiện mục tiêu phát triển doanh nghiệp đặt ra trong kỳ kế hoạch.
2.2. Kế hoạch bộ phận: bao gồm kế hoạch sản xuất, kế hoạch thị trường và
các kế hoạch bổ trợ như kế hoạch nguồn nhân lực, kế hoạch công nghệ, kế
hoạch tài chính…
- Kế hoạch sản xuất: Kế hoạch sản xuất xác định khối lượng và thời gian sản
xuất cho tương lai trên cơ sở tối ưu hóa việc sử dụng các yếu tố sản xuất sẵn có.
- Kế hoạch thị trường: Là việc xây dựng các chỉ tiêu, mục tiêu tiêu thụ sản
phẩm cho từng sản phẩm, cho từng vùng thị trường.
- Kế hoạch bổ trợ: Bao gồm các kế hoạch nguồn nhân lực, kế hoạch tài


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status