Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU.....................................................................6
LỜI MỞ ĐẦU.........................................................................................1
CHƯƠNG I: Lý luận chung về nghiệp vụ TBH hàng hóa xuât nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển........................................................4
1.1. Khái quát về Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển
bằng đường biển................................................................................................4
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển ..........................................4
1.1.2. Sự cần thiết khách quan........................................................6
1.1.3. Đặc điểm cơ bản của Bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển
bằng đường biển........................................................................................8
1.2. TBH Hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển...8
1.2.1. Khái niệm chung về TBH.....................................................8
1.2.2. Vai trò của TBH Hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đường biển...............................................................................................12
a) Đối với công ty nhượng TBH...............................................12
Sơ đồ I.2.2: Cơ chế chuyển giao rủi ro bảo hiểm và TBH..................13
b) Đối với công ty nhận TBH...................................................14
c) Đối với xã hội......................................................................15
1.2.3. Hợp đồng TBH....................................................................15
1.2.3.1. Định nghĩa:.................................................................15
1.2.3.2. Phân loại....................................................................16
Hợp đồng TBH tuỳ ý lựa chọn...................................................16
Hợp đồng TBH cố định..............................................................18
1.2.3.3. Phương pháp TBH......................................................20
a1) TBH theo Số tiền bảo hiểm..................................................21
TBH mức dôi ........................................................................................21
TBH số thành.........................................................................................22
TBH kết hợp số thành - mức dôi...........................................................23
a2) TBH theo Mức bồi thường...................................................23
Bùi Hồng Trinh
2.2.1. Tình hình XNK của Việt Nam trong những năm gần đây:.42
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
2.2.2. Thị trường bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam. 44
Thực trạng trên là do một số nguyên nhân sau:............................45
2.2.3. Thị trường TBH hàng hoá XNK vận chuyển bằng đường biển47
2.3. Những thuận lợi và khó khăn của Công ty Cổ phần Bảo hiểm
Bưu điện trong hoạt động kinh doanh TBH Hàng hóa xuất nhập khẩu...48
2.3.1. Thuận lợi.............................................................................48
a)Từ thị trường bảo hiểm........................................................48
b)Từ Công ty............................................................................49
2.3.2. Khó khăn.............................................................................49
a) Thị trường trong nước cạnh tranh gay gắt..........................49
b) Chất lượng khai thác Bảo hiểm gốc không được cải thiện..50
Thị trường TBH gánh chịu hậu quả nặng nề của các thảm hoạ
thiên nhiên.........................................................................................51
d) Hệ thống tin học còn hạn chế..............................................52
2.4. Quy trình TBH tại PTI..................................................................52
2.4.1. Sự cần thiết của Quy trình..................................................52
2.4.2. Nội dung Quy trình TBH....................................................52
2.4.2.1. Quy trình nhượng TBH...............................................52
2.4.2.2. Quy trình nhận TBH...................................................58
2.5. Hoạt động kinh doanh Nghiệp vụ TBH Hàng hoá xuất nhập
khẩu vận chuyển bằng đường biển tại PTI...................................................60
2.5.1. Hoạt động nhượng tái:........................................................60
2.5.2. Hoạt động nhận tái..............................................................63
2.6. Đánh giá chung về kết quả hoạt động kinh doanh TBH Hàng
hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển tại PTI.........................65
2.6.1. Hoạt động nhượng TBH.....................................................65
3.2.1. Về phía Nhà nước: .............................................................72
3.2.2. Về phía các Công ty Xuất nhập khẩu: ..............................73
3.2.3. Với Hiệp hội Bảo hiểm.......................................................73
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
3.2.4. Về phía Công ty Cổ phần Bảo hiểm Bưu điện....................74
a) Hoàn thiện sản phẩm Bảo hiểm Hàng hoá xuất nhập khẩu vận
chuyển bằng đường biển....................................................................74
b) Lựa chọn phương pháp TBH hợp lý: ..................................75
c) Nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ phòng TBH....75
d) Nâng cấp hệ thống thông tin................................................76
e) Mở rộng quan hệ hợp tác trong nước và quốc tế.................76
Tài liệu hướng dẫn................................................................................77
KẾT LUẬN...........................................................................................78
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng II.1.2: Cơ cấu doanh thu qua các năm 2007 – 2008...................36
Bảng II.2.1: Tình hình doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hoá XNK
vận chuyển bằng đường biển của các công ty năm 2007....................45
Bảng II.3.1: Tình hình doanh thu nghiệp vụ tại PTI..........................50
Bảng II.5.1: Tổng kết doanh thu phí nhượng tái nghiệp vụ TBH hàng
hoá......................................................................................................... 60
Bảng II.5.2: Phân bổ tổn thất theo các hợp đồng nghiệp vụ nhượng TBH
hàng hoá ở PTI từ năm 2004-2008.......................................................61
Bảng II.5.2.1: Thống kê doanh thu phí nhận tái ...............................63
Bảng II.5.2.2: Phân bổ tổn thất theo các hợp đồng nghiệp vụ nhượng
TBH hàng hoá ở PTI từ năm 2004-2008..............................................63
Song song với việc thực hiện các cam kết về thuế, chúng ta cũng triến khai
một loạt các cam kết liên quan khác. Về quyền kinh doanh xuất nhập khẩu: Việt
Nam đồng ý cho doanh nghiệp nước ngoài được quyền xuất nhập khẩu hàng hóa
như doanh nghiệp Việt Nam kể từ khi gia nhập, trừ các mặt hàng thuộc danh mục
"thương mại nhà nước"
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
1
Chuyên đề tốt nghiệp
Có thể khẳng định, sau 2 năm gia nhập WTO, mặc dù còn nhiều khó khăn
trước mắt, nhưng nền kinh tế Việt nam đã vượt qua được những thách thức, rút ra
được những bài học bổ ích để từng bước phát triển bền vững. Với xuất phát điểm
là một nền kinh tế đang trong giai đoạn chuyển đổi, ở trình độ thấp và có quy mô
nhỏ so với kinh tế thế giới, các biến động phức tạp và khó lường trước của nền
kinh tế thế giới thời gian qua đã có tác động không nhỏ tới nền kinh tế Việt Nam.
Tuy nhiên, so với nhiều nước trong khu vực, chúng ta vẫn đạt được những chỉ
tiêu kinh tế đáng khích lệ. Hoạt động xuất nhập khẩu vẫn tiếp tục khởi sắc, duy
trì tăng trưởng cao, năm 2008 dự kiến xuất khẩu xấp xỉ 63 tỉ USD, tăng trên
29,5% so với 2007, nhập khẩu ước đạt 79,9 tỉ USD, tăng 27,5% so với 2007. 10
mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam có kim ngạch trên 1 tỉ USD như: Dệt may, cà
phê, cao su, thủy sản, dầu thô, giầy dép, điện tử và linh kiện điện tử, sản phẩm gỗ
và nhóm sản phẩm cơ khí, tiếp tục được giữ vững; đồng thời mặt hàng dây điện
và cáp điện cũng có khả năng trở thành thành viên của “câu lạc bộ 1 tỉ USD” này.
Môi trường kinh doanh được cải thiện một cách rõ rệt, minh bạch hơn nhờ
thực thi các cam kết về minh bạch hóa chính sách, không phân biệt đối xử, giảm
bớt rào cản trong tiếp cận thị trường và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Nhận thức
của người dân và các doanh nghiệp về việc tham gia WTO đã có sự chuyển biến
tích cực.
Việt Nam trở thành nơi hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài vào một số
ngành như điện tử, tin học, dệt may, luyện và cán thép, ngân hàng, tài chính bảo
những thiếu sót nhất định. Kính mong sự đóng góp ý kiến, nhận xét của thầy cô
giáo, các cán bộ và các bạn để bài viết của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của cô giáo – Ths. Bùi
Quỳnh Anh và ban lãnh đạo và tập thể các cán bộ công ty PTI, đặc biệt là các cán
bộ TBH/Trưởng nhóm nghiệp vụ phòng TBH đã giúp đỡ em hoàn thành bài viết
này.
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
3
Chuyên đề tốt nghiệp
CHƯƠNG I: Lý luận chung về nghiệp vụ TBH hàng hóa xuât
nhập khẩu vận chuyển bằng đường biển.
1.1. Khái quát về Bảo hiểm hàng hoá xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đường biển
1.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Việc các quốc gia Châu Âu thông qua các cuộc viễn chinh tới Châu
Á và Châu Mỹ nhằm tìm ra những tuyến đường thương mại mới vào thế kỷ 15 và
16 đã tạo ra “Cuộc cách mạng thương mại”. Chính điều này đã cho phép các
quốc gia hùng mạnh ở Châu Âu xây dựng một mạng lưới thương mại quốc tế mới
nhằm tìm kiếm nguồn tài nguyên mang lại sự giàu có. Để đáp ứng nhu cầu này,
nhiều học thuyết kinh tế mới và thực tiễn đã xuất hiện, trong đó có ý tưởng về
quỹ chung và rủi ro đồng loạt. Trong thời kỳ này, thương mại gặp rất nhiều rủi ro
kinh doanh làm giảm lợi nhuận của những thương gia. Nguyên nhân là do trong
cả đội tàu, một số tàu có thể bị chìm do bão tố, cạn kiệt nguồn cung cấp hoặc đội
thuỷ thủ chết vì bệnh tật, lạc đường, bị chìm do quá tải, hoặc bị mọt ăn thủng.
Những người tham gia đầu tư vào những chuyến như kể trên cảm thấy cần thiết
phải cùng nhau chia sẻ rủi ro tránh tình trạng một số nhà đầu tư mất trắng toàn bộ
chuyến hàng do một hiện tượng khá phổ biến: tàu bị mất tích. Có 2 hình thức hay
được sử dụng là:
Cách thứ nhất là Hình thức cổ phần, theo đó các chủ hàng tập hợp
và rủi ro trên biển (bảo hiểm hàng hoá vận chuyển bằng đường biển).
Bảo hiểm hàng hải được chia thành 3 loại chính là:
− Bảo hiểm thân tàu: Bảo hiểm thân tàu là bảo hiểm những thiệt hại vật
chất xảy ra đốí với vỏ tàu, máy móc và các thiết bị trên tàu đồng thời bảo hiểm
cước phí, các chi phí hoạt động của tàu và một phần trách nhiệm mà chủ tàu phải
chịu trong trường hợp hai tàu đâm va nhau.
− Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu: là bảo hiểm những thiệt hại
phát sinh từ trách nhiệm của chủ tàu trong quá trình sở hữu, kinh doanh khai thác
tàu biển gây ra đối với hàng hoá họ chịu trách nhiệm trông coi; tử vong hay bị
thương của hành khách, thuỷ thủ và người bốc dỡ; thiệt hại đối với đê chắn sóng,
cầu, cảng, cáp ngầm dưới biển; và gần đây nhất là cả những tổn thất gây ra do ô
nhiễm.
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
5
Chuyên đề tốt nghiệp
− Bảo hiểm hàng hoá: được các chủ hàng sử dụng khi vận chuyển hàng
theo đường biển hoặc đường hàng không trong thương mại quốc tế.
1.1.2. Sự cần thiết khách quan
Vận chuyển bằng đường biển là phương thức vận chuyển lâu đời nhất của
loài người. Mặc dù vai trò lịch sử của vận chuyển hàng hoá bằng đường biển ở
một mức độ nào đó đã suy giảm do sự ra đời của các phương tiện vận chuyển hữu
hiệu khác như ôtô hay máy bay, nhưng nó vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng do
có những ưu thế vượt trội như:
− Có thể vận chuyển được nhiều chủng loại hàng hoá như các loại hàng hoá
siêu trường, siêu trọng (nguyên liệu thô: than đá, dầu, … hoặc các phương tiện
vận tải, máy móc…) với khối lượng lớn, mà các phương tiện vận tải khác như:
đường bộ, đường hàng không… không thể đảm nhận được.
− Các tuyến vận chuyển đường biển rộng lớn nên trên một tuyến có thể tổ
chức được nhiều chuyến tàu trong cùng một lúc cho cả hai chiều.
khăn.
− Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, mỗi chuyến tàu thường có giá trị rất
lớn bao gồm giá trị tàu và hàng hoá chở trên tàu. Vì vậy, nếu rủi ro xảy ra sẽ gây
tổn thất rất lớn về tài sản, trách nhiệm và con người.
− Trong quá trình vận chuyển, hàng hoá được chủ phương tiện chịu trách
nhiệm chính. Nhưng trách nhiệm này rất hạn chế về thời gian, phạm vi và mức độ
tuỳ theo điều kiện giao hàng và vận chuyển. Từ năm 1921, Dự thảo luật có tên
Hague đã được soạn thảo nhằm điều chỉnh các hoạt động vận chuyển trên biển.
Bộ luật này chính thức được áp dụng vào năm 1924 sau khi được nhiều nước
thông qua tại Hội nghị Brussel (Bỉ) cũng trong năm này. Năm 1968, Uỷ ban
Hàng hải Quốc tế đã sửa đổi Bộ luật này và lấy tên mới là Hague -Visby. Theo
đó, trách nhiệm của người vận chuyển đối với tổn thất chỉ giới hạn ở mức 666.7
SDR một đơn vị hàng hoá, tương đương 2 SDR một kilogram hàng hoá bị mất
hoặc hư hỏng, mặc dù họ được miễn trách nhiệm trong trường hợp hiểm hoạ tự
nhiên, trộm cắp.
Trong thực tế, đòi bồi thường từ các công ty vận chuyển rất phức tạp
và tốn chi phí. Trong hầu hết các trường hợp, các các công ty này đều đến từ
nước ngoài, thậm chí từ châu lục khác, do vậy, tư vấn về luật hàng hải từ các
chuyên gia là điều cần thiết.
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
7
Chuyên đề tốt nghiệp
Tất cả những phân tích nêu trên cho thấy, bảo hiểm là rất cần thiết
cho vận chuyển hàng hoá bằng đường biển.
1.1.3. Đặc điểm cơ bản của Bảo hiểm hàng hoá XNK vận chuyển bằng
đường biển
a) Quá trình xuất nhập khẩu (XNK) hàng hoá có nhiều bên liên quan, được
thực hiện thông qua ba loại hợp đồng:
− Hợp đồng mua bán: giữa người mua và người bán trong đó thể hiện sự
− Tính riêng rẽ của việc phân phối quỹ dự trữ, có nghĩa là chỉ phân phối quỹ
cho những thành viên khi có rủi ro bất ngờ gây thiệt hại thuộc phạm vi bảo hiểm
xảy ra. Những rủi ro bất ngờ này về tổng thể phải dự đoán được và hay xảy ra.
Trên đây cũng là những yếu tố cơ bản cần phải chú ý khi tiến hành
việc lập, quản lý và phân phối quỹ tiền tệ thông qua hình thức bảo hiểm. Dựa
theo các rủi ro được bảo hiểm, các ngành kinh tế khác nhau và các quá trình tiến
hành bảo hiểm được chia thành nhiều loại và được tổ chức thành một hệ thống
độc lập của nền kinh tế quốc dân (ở nhiều nước nó còn được gọi là ngành kinh tế
bảo hiểm). Một trong những loại hình đó là TBH (TBH).
Thay mặt công ty bảo hiểm, khai thác viên bảo hiểm phải bảo vệ quỹ
chung tránh nguy cơ có hại và đảm bảo rằng sẽ thu được lợi nhuận hợp lý bằng
việc chấp nhận rủi ro. Khi đã chấp nhận rủi ro, công ty bảo hiểm thực sự ở vị trí
của người được bảo hiểm với hàng loạt những điều không chắc chắn có liên quan
đến rủi ro. Liệu sẽ có tổn thất hay không? Nếu cố tổn thất, họ cũng không thể dự
đoán một cách chính xác giá trị. Công ty bảo hiểm có được một sự bảo vệ vì công
ty đã nhận một số lượng lớn các rủi ro tương tự và biết rằng không phải rủi ro nào
cũng dẫn đến khiếu nại. Tuy nhiên ngay cả đối với công ty bảo hiểm cũng không
loại trừ khả năng các tổn thấ xảy ra nhiều hơn so với dự kiến hoặc số lượng tổn
thất lớn hơn dự định. Họ phải thu phí vào đầu năm bảo hiểm, không lường trước
được sự việc xảy ra sau khi đã thu phí, và phải chịu mức phí như vậy bất luận hậu
quả thực ra sao. Như vậy, mua TBH không chỉ giúp công ty bảo hiểm giảm bớt lo
âu về sự không chắc chắn của tổn thất; tránh sự biến động trong các khoản chi
bồi thường, đặc biệt khi xảy ra thảm hoạ lớn làm ảnh hưởng đến khả năng tài
chính; tăng năng lực của công ty bảo hiểm để chấp nhận dịch vụ; mà trong một
mức độ nào đó, mua TBH giúp các công ty bảo hiểm dàn trải chi phí rủi ro trong
toàn thị trường bảo hiểm thế giới. Rất nhiều các công ty bảo hiểm hàng đầu các
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
9
Chuyên đề tốt nghiệp
Kinh tế bảo hiểm 47B
10
Chuyên đề tốt nghiệp
Nhiệm vụ chủ yếu của TBH là phân chia các rủi ro đã được bảo
hiểm của các công ty bảo hiểm gốc cho một tập thể những công ty TBH và thông
quá đó sẽ tận dụng được một cách tối ưu các quy luật thống kê. Với nhiệm vụ
trên, TBH ổn định kinh doanh cho các công ty bảo hiểm gốc và tạo điều kiện cho
các công ty này có thể nhận bảo hiểm cho những rủi ro vượt quá khả năng tài
chính của mình.. Ví dụ sau đây sẽ minh họa cho điều đó:
Một công ty bảo hiểm A chỉ có khả năng thanh toán tiền bồi thường
tối đa là $1 triệu, muốn bảo hiểm cho một chiêc tàu chở một khối lượng hàng hóa
lớn trị giá $10 triệu. Nếu giả sử không có TBH thì công ty A không thể ký hợp
đồng bảo hiểm với chủ tàu đó được, vì khi không may có tổn thất toàn bộ xảy ra
thì công ty A sẽ bị phá sản. Nhưng do có hình thức TBH nên công ty bảo hiểm A
vẫn ký được hợp đồng bảo hiểm với chủ tàu bảo hiểm cho con tàu trị giá $10
triệu đó. Sau khi ký hợp đồng, công ty bảo hiểm A dùng phương pháp TBH phân
tán bớt mức trách nhiệm mà mình phải gánh chịu. Trong trường hợp này, công ty
bảo hiểm A chỉ giữ lại 10%, còn 90% của $10 triệu công ty bảo hiểm A chuyển
cho các công ty TBH khác, ví dụ như 50% cho công ty TBH B và 40% cho công
ty TBH C.
Ở đây cần phải phân biệt sự khác nhau của TBH và Đồng bảo hiểm.
Mặc dù có điểm giống nhau giữa TBH và đồng bảo hiểm là cùng có nhiều công
ty bảo hiểm tham gia bảo hiểm cho cùng một đơn vị rủi ro, nhưng giữa chúng có
nhiều điểm khác nhau. Đó là:
Ký hợp đồng: - Trong TBH: Công ty bảo hiểm gốc đứng ra ký hợp đồng
bảo hiểm với người tham gia và sau đó phân chia trách
nhiệm cho các công ty TBH theo sự thỏa thuận giữa họ và
các công ty TBH.
- Trong đồng bảo hiểm: Việc ký hợp đồng do nhiều công ty
bảo hiểm tiến hành, mỗi một công ty tham gia đồng bảo
chuyển nhượng TBH, có nghĩa là một công ty TBH phân chia tiếp phần trách
nhiệm của minh đã nhận từ một công ty bảo hiểm gốc cho các công ty TBH khác.
1.2.2. Vai trò của TBH Hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển bằng
đường biển
a) Đối với công ty nhượng TBH
Nói chung, TBH không làm thay đổi bản chất vốn có của
phạm vi bảo hiểm. Trong dài hạn, nó không thể khiến công việc kinh doanh xấu
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
12
Chuyên đề tốt nghiệp
trở thành tốt, nhưng nó thực sự cung cấp những sự trợ giúp đắc lực cho nhà
nhượng tái.
− Nhận bảo hiểm cho những rủi ro vượt quá khả năng giữ lại – bảo hiểm hàng
không, bảo hiểm dầu khí…Sau khi thu xếp TBH, công ty nhượng có thể nhận
những hợp đồng có giới hạn bảo hiểm lớn hơn những vẫn duy trì được những độ
rủi ro trong phạm vi quản lý được. Bằng cách tái đi một phần của mọi hợp đồng
hoặc chỉ tái đi những hợp đồng lớn, mức tổn thất giữ lại ròng tính theo từng đơn
bảo hiểm hay toàn bộ số đơn có thể được tính toán phù hợp với thặng dư vốn của
công ty bảo hiểm.
Sơ đồ I.2.2: Cơ chế chuyển giao rủi ro bảo hiểm và TBH
− Tạo ra sự ổn định trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm: Theo thời gian,
TBH giúp ổn định kết quả tài chính và hoạt động khai thác của công ty nhượng
TBH. Đồng thời bảo vệ nguồn vốn thặng dư trước các cú sốc gây ra do các tổn
thất lớn không được dự đoán trước. TBH cũng được thu xếp nhằm giữ lại các các
tổn thất nhỏ, dễ dự đoán và chia sẻ những tổn thất lớn, bất ngờ cho các công ty
bảo hiểm và TBH trên toàn thị trường. Ngoài ra, TBH còn giúp bảo vệ công ty
khỏi các rủi ro tích tụ lớn hơn dự đoán cũng từ một hay nhiều thảm hoạ. Nhờ
vậy, hiệu quả khai thác và hiệu quả tài chính của các tổn thất lớn hoặc của số lớn
Bùi Hồng Trinh
soát khả năng chi trả bồi thường của các công ty bảo hiểm thông qua quy định
biên khả năng thành toán không được phép thấp hơn một tỷ lệ nào đó. Tỷ lệ này
gọi là “Biên khả năng thanh toán tối thiểu”.
− Tiếp cận kinh nghiệm và dịch vụ của các công ty TBH, đặc biệt trong lĩnh
vực phát triển, định giá và khai thác sản phẩm cũng như trong việc quản lý tổn
thất. Rất nhiều nhà TBH chuyên nghiệp có những hiểu biết sâu rộng và khả năng
cung cấp các dịch vụ tài chính cho các công ty nhượng. Những dịch vụ này bao
gồm các trợ giúp và tư vấn về khai thác, tiếp thị, định giá, ngăn ngừa tổn thất,
giải quyết tổn thất, dự phòng, định phí, đầu tư và các vấn đề khác về nhân sự. Để
bảo vệ lợi ích của chính họ, các công ty nhận tái buộc phải xem xét một cách rất
thận trọng các hoạt động kinh doanh của công ty nhượng tái, từ đó đưa ra những
tư vấn nhất định nào đó. Thông thường, công ty nhận tái có nhiều kinh nghiệm
hơn trong việc đánh giá các hợp đồng có mức trách nhiệm lớn và giải quyết các
tổn thất lớn hoặc ít gặp. Ngoài ra, nhờ có quan hệ với số lượng lớn các công ty
nhượng tái tương đối đồng đều, công ty nhận tái có khả năng đưa ra cái nhìn tổng
thể về một số các vấn đề tổng quát cũng như các xu hướng chung trên thị trường.
Ngoài các công ty nhận tái thì các trung gian TBH cũng cung cấp những dịch vụ
tương tự cho khách hàng của mình.
b) Đối với công ty nhận TBH
Thông qua các nghiệp vụ TBH, công ty nhận thiết lập mối quan hệ vững
chắc với các bạn hàng nhằm tăng doanh thu, đặc biệt là doanh thu về ngoại tệ.
Đồng thời, xét trong mối quan hệ tổng thể với bảo hiểm gốc thì TBH thực chất là
sự phân tán rủi ro đối với các công ty nhận TBH.
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
14
Chuyên đề tốt nghiệp
c) Đối với xã hội
− Đảm bảo tính ổn định và sự chắc chắn cho quá trình kinh doanh và sản xuất
của các đơn vị kinh tế. Đảm bảo kinh doanh cho công ty bảo hiểm có nghĩa là
− TBH có thể cung cấp một sự bồi thường toàn bộ hoặc chỉ một phần đối với
những trách nhiệm mà công ty nhượng có thể phải gánh chịu theo hợp đồng bảo
hiểm
− Hợp đồng TBH là một hợp đồng riêng biệt giữa nhà TBH và công ty
nhượng mà trong đó Người được bảo hiểm không phải là một bên tham gia của
hợp đồng.
1.2.3.2. Phân loại
Hợp đồng TBH tuỳ ý lựa chọn
Đây là một hình thức TBH cơ bản và cổ điển nhất. Danh từ “Tuỳ ý
lựa chọn” có liên quan đến ý niệm là trong loại TBH này, công ty nhượng có toàn
quyền lựa chọn rủi ro cần phải TBH và ngược lại, nhà TBH có quyền nhận hay từ
chối rủi ro đó. Mỗi dịch vụ đem nhượng theo cơ sở tuỳ ý lựa chọn là một hợp
đồng TBH tách biệt bao gồm toàn bộ hay một phần rủi ro mà công ty nhượng
muốn nhượng cho thị trường TBH.
Vào thời điểm khi kết thúc một thoả thuận thương mại nào đó thì các
bên tham gia vào thoả thuận đó thường quan tâm đến việc quy định thật chính
xác các chi tiết cần thiết của thoả thuận lần tới, các mục đích, nghĩa vụ của các
bên đối với nhau và đặt ra các điều kiện cần thiết để ràng buộc những nghĩa vụ và
quyền lợi ấy và như vậy, chỉ có hình thức TBH tuỳ ý lựa chọn là phù hợp nhất, vì
nó có thể cho phép nhà TBH có được một ý niệm đúng về những rủi ro mà mình
phải gánh chịu trước khi tham gia hợp đồng.
Thủ tục tiến hành:
Trước hết công ty nhượng thông báo TBH một dịch vụ dưới hình
thức một phiếu đề nghị trong đó có ghi các đặc điểm chính của rủi ro được TBH
như: Tên và địa chỉ của người được bảo hiểm, Tính chất của rủi ro được bảo
hiểm, Ngày bắt đầu và chấm dứt thời gian bảo hiểm, Số tiền bảo hiểm, phí bảo
hểm, phần giữ lại của công ty nhượng, Tỷ lệ thủ tục phí TBH…
Sau khi nhận phiếu đề nghị, nhà tái bảo hiểm có thể yêu cầu thêm
những chi tiết khác để đánh giá rủi ro mà mình sẽ nhận để có ý kiến nhận toàn
bộ hay một phần nào đó hay bằng một số tiền cố định hoặc khước từ. Để đảm
trong các hợp đồng TBH đó của họ (ví dụ: điều kiện về chia lãi, thủ tục phí TBH
tính theo thang luỹ tiến, thủ tục phí TBH theo lãi…).
Nhược điểm:
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
17
Chuyên đề tốt nghiệp
− Công ty nhượng phải thông báo đầy đủ chi tiết của nghiệp vụ bảo hiểm gốc;
có nghĩa là khi áp dụng hình thức này nhiều lần thì nhà TBH thường xuyên tiếp
xúc và biết được ý đồ của công ty nhượng dẫn đến có thể lộ những thông tin có
lợi cho sự cạnh tranh trong thị trường bảo hiểm gốc.
− Không đảm bảo thời gian tính trong việc phân tán rủi ro TBH, tức là công
ty nhượng khi nhận bảo hiểm cho một rủi ro nào đó thường không có sự đảm bảo
chắc chắn của thị trường TBH, dẫn đến mất cơ hội khai thác hoặc mất uy tín do
chậm trễ trả lời người được bảo hiểm.
− Chi phí hành chính, thủ tục giấy tờ tốn kém làm giảm thu nhập kinh doanh.
− Thường xuyên phải đàm phán tái tục hợp đồng TBH trước khi ký kết bảo
hiểm gốc với khách hàng.
− Trong trường hợp khi khả năng tiêế nhận rủi ro của thị trường TBH quốc tế
đã gần tới mức tối đa, hoặc khi phí bảo hiểm gốc quá thấp so với phí trung bình
của thị trường thì hình thức này chỉ có thể thực hiện được với mức phí cao hơn
phí bảo hiểm gốc hoặc giảm bớt thủ tục phí TBH. Trong trường hợp này, mức sai
biệt sẽ do công ty nhượng gánh chịu hoặc giảm bớt trách nhiệm cam kết trong
bảo hiểm gốc.
Hợp đồng TBH cố định
Đây là sự thoả thuận giữa công ty nhượng và nhà TBH mà trong đó
công ty nhượng tự bắt buộc phải nhượng đi tất cả các đơn vị rủi ro bảo hiểm gốc
mà hai bên đã quy định trước trong hợp đồng cho tới một hạn mức trách nhiệm
ngang với số tiền hạn mức tối đa đã được thoả thuận từ trước. Ngược lại, nhà
TBH cũng tự bắt buộc phải chấp nhận toàn bộ các đơn vị rủi ro đó.
Hợp đồng TBH lựa chọn bắt buộc
Trong hình thức TBH này, công ty nhượng không bắt buộc phải
nhượng tất cả những dịch vụ mà mình nhận bh, nhừng nhà TBH lại buộc phải
chấp nhận các dịch vụ mà công ty nhượng đưa vào thoả thuận này với điều kiện
là những dịch vụ đó phải phù hợp với nội dung và điều khoản đã quy ước của
Hợp đồng TBH thoả thuận.
Trong hình thức TBH lựa chọn bắt buộc vẫn có điều kiện được đặt ra
là nội dung của hình thức TBH này không có nghĩa chỉ có những rủi ro có khả
năng dễ xảy ra tổn thất nhất thì đưa vào hợp đồng. Do vậy, công ty nhượng
không thể lợi dụng hình thức TBH này để lựa chọn rủi ro nhằm đẩy phần bất lợi
cho nhà TBH. Để phòng ngừa trường hợp này, nhà TBH phải nắm vững ý đồ của
Bùi Hồng Trinh
Kinh tế bảo hiểm 47B
19