Trường Đại học Sư phạm Tp. HCM
Khoa Công nghệ thông tin
Môn: Công nghệ dạy học
ĐỒ ÁN MÔN HỌC
PHẦN NỘI DUNG TỰ NGHIÊN CỨU
GVHD: ThS Lê Đức Long
Nhóm SVTH: Trần Thị Kim Duyên K36.103.012
Trần Thị Hồng Ninh K36.103.054
Lý Lê Thế Triển K36.103.080
Ngô Thị Ngọc Yến K36.103.091
NĂM 2013
Trang 1
NỘI DUNG
Chương 1: Sự phát triển của công nghệ và vấn đề dạy học ở TK.21
- Những tiêu chuẩn về công nghệ đối với giáo viên và học sinh
- Ứng dụng ICT hỗ trợ người học với các nhu cầu giáo dục cụ thể trên lớp.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về thiết kế dạy học
- Các mô hình thiết kế hệ thống dạy học (ISD models) và ý nghĩa của mỗi giai
đoạn trong các mô hình.
- Thiết kế dạy học cho học sinh phổ thông.
- Ngữ cảnh dạy và học ở Việt Nam và vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học
Chương 5: Tìm hiểu một số công cụ multimedia và hyper-media sử dụng cho
dạy học
- Tìm hiểu các bước để xây dựng một WebLesson/Webquest
- Tìm hiểu việc tổ chức nội dung và hoạt động dạy học với một LMS/LCMS
cụ thể.
Chương 6: Dạy và học với các phần mềm dạy học drill & practise software,
tutorial software, Instructional games, simulation software, Intergrated learning
system Intellgent tutoring systems.
- Tìm hiểu một số phần mềm dạy học trong nước và nước ngoài có thể hỗ trợ
cho việc dạy học môn Tin học – xuất xứ, chức năng, đặc điểm, cài đặt và
BÀI LÀM
Chương 1: Sự phát triển của công nghệ và vấn đề dạy học ở TK.21
Những tiêu chuẩn về công nghệ đối với giáo viên và học sinh
Đối với người giáo viên:Công nghê + Sư phạm + Kiến thức
Biết sáng tạo và xây dựng nội dung dạy học
Biết quản lí thông tin
Có một tư duy sư phạm “suy nghĩ của một người thầy”
Có môi trường hỗ trợ học tập
Xây dựng một phong cách mới
Có các kĩ năng của Thế kỉ 21
Truy cập Web mọi lúc, mọi nơi…
…và chỉ có đôi chân đẻ về nhà
Ứng dụng ICT hỗ trợ người học với các nhu cầu giáo dục cụ thể trên lớp.
Trang 4
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về thiết kế dạy học
Các mô hình thiết kế hệ thống dạy học (ISD models) và ý nghĩa của mỗi
giai đoạn trong các mô hình.
Thiết kế dạy học cho học sinh phổ thông.
Các bước thiết kế, xây dựng một khóa học
Bước 1: Xác định nhu cầu và mục tiêu
Trong bước này, cần xác định mục tiêu của từng bài học. Mục tiêu của một
bài học gồm những kiến thức người học cần biết hoặc có thể làm được sau khi kết
thúc bài học. Điều lưu ý đầu tiên ảnh hưởng đến sự xác định mục tiêu trong mỗi
bào giảng là khả năng tiệp nhận kiến thức của người học. Vì vậy, khi xác định mục
tiêu trong mỗi bài giảng cần xác định rõ các yêu cầu trọng tâm trong mỗi bài học
và nhu cầu về lượng kiến thức người học cần chiếm lĩnh.
Bước 2: Thu nhập tài nguyên
Tài nguyên cần phải liên quan đến chủ đề của bài dạy. các tài nguyên cần thiết
cho chủ đề của mỗi bài học có thể lấy từ giáo trình, sách tham khảo, phim ảnh và
quan trọng nhất là từ các chuyên gia hay những người có kiến thức sâu sắc trong
thông qua các hành động, hoạt động cụ thể của người học. Thực tiễn cho ta thấy,
chất lượng của một courseware phụ thuộc phần lớn vào cách thức thể hiện nội
dung thành các hoạt động.
Bước 8: Thể hiện bài dạy thành chương trình
Bước này là quá trình chuyển đổi kịch bản trên giấy thành courseware. Có rất
nhiều phần mềm cho phép thực hiện công việc này như phần mềm eXe Learning,
Lectora, IBM Authoring Tool….
Bước 9: Xây dựng các tài liệu hỗ trợ
Thường có 4 loại: tài liệu hướng dẫn sinh viên, tài liệu hướng dẫn giảng viên,
tài liệu hướng dẫn kỹ thuật và tài liệu hướng dẫn bổ sung. Giáo viên và người học
có các nhu cầu khác nhau do đó tài liệu cho mỗi đối tượng cũng khác nhau. Tài
liệu hướng dẫn kỹ thuật cần thiết cho việc "cài đặt” những bài giảng phức tạp hoặc
cần có các thiết bị phức tạp. Tài liệu hướng dẫn bổ sung gồm phiếu học tập, biểu
đồ, bài thi, ảnh và bài luận…
Bước 10: Đánh giá và chỉnh sửa
Cuối cùng, bài giảng và các tài liệu hỗ trợ cần được đánh giá bằng cách tự
mình xem xét hoặc nhờ các chuyên gia nhận xét. Cũng có thể sử dụng phương
pháp thực nghiệm sư phạm để kiểm chứng chất lượng của các bài học. Trên cơ sở
đó, tiến hành điều chỉnh, bổ sung để có được những sản phẩm hoàn chỉnh mất.
Ngữ cảnh dạy và học ở Việt Nam và vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học
1. Những chủ trương và giải pháp lớn.
Công nghệ thông tin đối với giáo dục Việt Nam phát triển mạnh mẽ khi bước
vào thế kỷ 21. Chỉ thị 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh
ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, nêu rõ: "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác giáo
dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học. Phát triển các hình thức đào
tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội. Đặc biệt tập trung phát
triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả
các cơ sở giáo dục và đào tạo". Thực hiện Chỉ thị trên, Bộ GD&ĐT ban hành 2
chỉ thị: Chỉ thị số 29 (năm 2001) về việc tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin
855 giáo viên). Đã có 154 bài giảng đạt giải, trong đó: Giải nhất (3), giải nhì (5),
giải ba (24), giải KK (48) và quà tăng (74).Tp. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Thái Bình,
Kon Tum là những địa phương đạt nhiều giải cao. Năm học 2010-2011 Bộ
GD&ĐT tiếp tục tổ chức cuộc thi nói trên, thể hiện quyết tâm triển khai E-learning
đối với HS phổ thông . Thứ hai, cuộc thi giải toán qua mạng tại Website
Violympic.vn, là chương trình hợp tác giữa Bộ GD&ĐT với Công ty TNHH nội
dung số FPT, cuộc thi đã được tổ chức năm thứ ba, là một sân chơi bổ ích, hứng
thú cho hàng trăm ngàn học sinh (tiểu học, THCS) yêu thích môn toán trên toàn
quốc. Thứ ba, Cuộc thi Olympic tiếng Anh (IOE) là chương trình hợp tác giữa
Tổng Công ty truyền thông Đa phương tiện Việt Nam VTC với Bộ GD&ĐT. Cuộc
Trang 7
thi đã quy tụ được hơn 4000 thí sinh là HS Tiểu học, THCS của 54 tỉnh, thành phố
trong cả nước.
Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp cũng đã tài trợ xây dựng Website luyện thi
trực tuyến như: hocmai.vn, truongtructuyen.vn, Elearning của Viettel Tp HCM
xây dựng các thư viện tài liệu, bài giảng, thí nghiệm ảo, như Thuvienvatly.vn,
lichsuvietnam.vn, baigiang.bachkim.vn đã tạo ra một nguồn tài nguyên lớn về tài
liệu và bài giảng điện tử.
3. Một số khó khăn khi triển khai Elearning cho học sinh phổ thông
Việc triển khai E-learning tại cho các trường phổ thông Việt Nam gặp một số
khó khăn sau:
Một là, về xây dựng nguồn tài nguyên bài giảng: Chất lượng nguồn tài
nguyên bài giảng E-learning là nhân tố quyết định đến số lượng người tham gia
học. Để soạn bài giảng E-learning có chất lượng đòi hỏi tốn nhiều công sức của
giáo viên. Hiện tại chế độ hỗ trợ chưa phù hợp với công sức bỏ ra để soạn bài
giảng Elearning, vì vậy chưa khuyến khích đối với giáo viên. Đời sống của giáo
viên gặp nhiều khó khăn, áp lực thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục hậu quả là
giáo viên không có thời gian đầu tư cho E-learning. Nhiều giáo viên giỏi về chuyên
môn và khả năng sư phạm, nhưng kỹ năng sử dụng công nghệ (ghi hình, thu âm,
sử dụng phần mềm)còn hạn chế, nên chưa phát huy được đội ngũ này.
Sau khi quyết định chọn chủ đề, cần mô tả chủ đề để giới thiệu với HS. Đề
tài cần được giới thiệu một cách ngắn gọn, dễ hiểu để HS có thể làm quen với một
đề tài khó.
b) Tìm nguồn tài liệu học tập
GV tìm các trang web có liên quan đến chủ đề, lựa chọn những trang thích
hợp để đưa vào liên kết trong WebQuest. Đối với từng nhóm bài tập riêng rẽ cần
phải tìm hiểu, đánh giá và hệ thống hóa các nguồn đã lựa chọn thành dạng các địa
chỉ internet (URL). Giai đoạn này thường đòi hỏi nhiều công sức. Bằng cách đó,
người học sẽ được cung cấp các nguồn trực tuyến để áp dụng vào việc xử lý và giải
quyết các vấn đề. Những nguồn thông tin này được kết hợp trong tài liệu
WebQuest hoặc có sẵn ở dạng các siêu liên kết tới các trang Web bên ngoài.
Ngoài các trang Web, các nguồn thông tin tiếp theo có thể là các thông tin
chuyên môn được cung cấp qua Email, CD hoặc các ngân hàng dữ liệu kỹ thuật số
(ví dụ các từ điển trực tuyến trong dạy học ngoại ngữ). Điều quan trọng là phải nêu
rõ nguồn tin đối với từng nội dung công việc và trước đó các nguồn tin này phải
được GV kiểm tra về chất lượng để đảm bảo tài liệu đó là đáng tin cậy
c) Xác định mục đích
Cần xác định một cách rõ ràng những mục tiêu, yêu cầu đạt được trong việc
thực hiện WebQuest.
Các yêu cầu cần phù hợp với HS và có thể đạt được.
d) Xác định nhiệm vụ
Trang 9
Để đạt được mục đích của hoạt động học tập, HS cần phải giải quyết một
nhiệm vụ hoặc một vấn đề có ý nghĩa và vừa sức. Vấn đề hoặc nhiệm vụ phải cụ
thể hóa đề tài đã được giới thiệu. Nhiệm vụ học tập cho các nhóm là thành phần
trung tâm của WebQuest. Nhiệm vụ định hướng cho hoạt động của HS, cần tránh
những nhiệm vụ theo kiểu ôn tập, tái hiện thuần túy.
Như vậy, xuất phát từ một vấn đề chung cần phải phát biểu những nhiệm vụ
riêng một cách ngắn gọn và rõ ràng. Những nhiệm vụ cần phải phong phú về yêu
cầu, về phương tiện có thể áp dụng, các dạng làm bài. Thông thường, chủ đề được
Chương 6: Dạy và học với các phần mềm dạy học drill & practise software,
tutorial software, Instructional games, simulation software, Intergrated learning
system Intellgent tutoring systems.
- Tìm hiểu một số phần mềm dạy học trong nước và nước ngoài có thể hỗ trợ
cho việc dạy học môn Tin học – xuất xứ, chức năng, đặc điểm, cài đặt và
cách sử dụng.
- Tìm hiểu những điểm tích cực và hạn chế của việc sử dụng phần mềm dạy
học.
Trang 12
Chương 3: Teacher-designers: một mô hình ứng dụng thiết kế dạy học.
Mô hình Technological Pedagogical Content Knowledge (TPACK)
1. Giới thiệu:
Mô hình TPACK (Technological Pedagogical Content Knowledge) là mô hình
nói lên sự tích hợp giữa kiến thức chuyên môn của người dạy và kiến thức về công
nghệ (ban đầu đầu là TPCK, bây giờ được biết như TPACK, hay công nghệ, giáo
dục, kiến thức chuyên môn). Mô hình này được xây dựng dựa trên mô hình của
ông Lee Shulman về kiến thức chuyên môn sư phạm (PCK) và kiến thức về công
nghệ(TK).
Mô hình TPACK là hình ảnh hóa các thành tố quan trọng của quá trình ứng
dụng Công nghệ thông tin(CNTT) trọng hoạt động dạy và học. Mô hình đưa ra cái
nhìn tổng quan về 3 dạng cơ bản của kiến thức mà một giáo viên cần có để ứng
dụng CNTT vào việc dạy học của mình: Kiến thức kỹ thuật công nghệ (TK), Kiến
thức phương pháp (PK) và kiến thức nội dung, chuyên môn (CK), cũng như mối
quan hệ và tương tác giữa chúng.
2. Lịch sử
TPACK không phải là một ý tưởng mới, một loạt các học giả khác đã lập
luận rằng, kiến thức về công nghệ không phải là một bối cảnh, mà việc giảng dạy
tốt đòi hỏi một sự hiểu biết xem làm thế nào để kết hợp giữa công nghệ, kiến thức
chuyên môn và phương pháp sư phạm.
Mô hình TPACK xây dựng trên mô tả của Shulman (1987, 1986) về PCK, mô
video kĩ thuật số. Điều này đòi hỏi phải có những kĩ năng cần thiết để có thể sử
dụng các công nghệ đăc biệt đó.
Trang 14
Sử dụng công nghệ kỹ thuật số thì kiến thức kĩ năng cần có là kiến thức về hệ
điều hành, phần cứng máy tính cũng như khả năng sử dụng các bộ công cụ tiêu
chuẩn của các phần mềm như xử lý văn bản, bảng tính, trình duyệt, email, …
TK bao gồm kiến thức về làm thế nào để cài đặt và loại bỏ các thiết bị ngoại
vi, cài đặt và gỡ bỏ các chương trình phần mềm, tạo ra và lưu trữ các tài liệu.
Trong mô hình TPACK, Technology Knowledge(TK) có thể kết hợp với:
• Content Knowledge (CK) để tạo thành Technological Content Knowledge
(TCK)
• Pedagogical Knowledge (PK) để tạo thành Technological Pedagogical
Knowledge (TPK)
b) Kiến thức phương pháp sư phạm(PK)
Kiến thức sư phạm(PK) là kiến thức sâu về các quy trình, thói quen hoặc các
phương pháp giảng dạy, học tập và cách thức để đạt được mục đích giáo dục, các
giá trị và mục tiêu tổng thể.
Đây là dạng kiến thức chung mà tham gia vào tất cả các vấn đề học tập của
học sinh, việc quản lý lớp học, bài học, thực hiện kế hoạch phát triển, và đánh giá
học sinh.
Nó bao gồm các kiến thức về kỹ thuật hoặc các phương pháp được sử dụng
trong lớp học, bản chất của đối tượng, mục tiêu và chiến lược để đánh giá sự hiểu
biết của học sinh.
Một giáo viên với kiến thức sư phạm vững vàng sẽ hiểu làm thế nào để sinh
viên xây dựng kiến thức và có được các kỹ năng, phát triển các thói quen và
khuynh hướng tích cực đối với việc học tập.
Như vậy, kiến thức sư phạm đòi hỏi một sự hiểu biết về nhận thức, lý thuyết
xã hội, sự phát triển học tập và làm thế nào mà họ áp dụng đối với sinh viên trong
lớp học của họ.
c) Kiến thức nội dung chuyên môn(CK)
o Biết nhiều về các công nghệ khác nhau.
o Có kỹ năng về kỹ thuật sử dụng công nghệ.
o Có đủ cơ hội để làm việc với các công nghệ khác nhau.
b) Kiến thức phương pháp sư phạm
o Đánh giá việc học của học sinh trong lớp.
o Điều chỉnh cách dạy phù hợp với nhiều đối tượng người học.
o Đánh giá việc học của người học theo nhiều cách.
o Sử dụng nhiều cách tiếp cận dạy học khác nhau trong bối cảnh lớp
học(học tâp cộng tác, hướng dẫn trực tiếp, học tập phát vấn, học tập
dựa theo dự án, học tập dựa trên vấn đề).
o Biết cách tổ chức và quản lý lớp học.
c) Kiến thức chuyên môn kết hợp sử dụng công nghệ
o Biết chọn công nghệ giúp tăng cường phương pháp dạy học và đạt
được mục tiêu bài dạy.
o Biết chọn công nghệ giúp tăng cường việc học của người học.
o Hiểu rõ mức ảnh hưởng của công nghệ tới các phương pháp dạy mà
mình đang sử dụng.
o Hoàn thiện cách sử dụng công nghệ mà mình đang sử dụng trong lớp
o Dùng công nghệ để hỗ trợ trình bày nội dung bài dạy sinh động, hấp
dẫn.
2. Điều kiện về cơ sở vật chất
Trang 16
Để đạt được sự thành công trong tích hợp CNTT vào dạy học, cơ sở vật chất
thiết bị cần được trang bị đồng bộ, bao gồm: máy tính, tivi, máy chiếu, máy
Projector, phòng thí nghiệm, phòng thực hành có trang bị máy tính, kết nối
Internet, … Có như vậy, các bài giảng điện tử, những bài dạy có tích hợp CNTT
mới có thể được triển khai và mở rộng
3. Điều kiện về công nghệ
a) Máy tính
Dạy học có tích hợp công nghệ thì máy tính là công cụ không thể thiếu
nhất trong giảng dạy và học tập.
Trang 17
Trang 18
Chương 4: Dạy và học với ba phần mềm công cụ cơ bản: xử lý văn bản, bảng
tính và ứng dụng CSDL
Sử dụng các phần mềm công cụ cơ bản để làm gì? Khi nào? Và có những
thuận lợi, khó khăn gì?
Vào những ngày đầu xuất hiện của máy vi tính, trình sử lý văn bản,bảng tính,
và chương trình cơ sở dữ liệu đã được sử dụng như là những thành phần cơ bản
trong bộ công cụ công nghệ của người giáo viên. Bảng phía dưới chỉ ra rằng những
công cụ này thực hiện những chức năng riêng biệt và hỗ trợ trong việc nâng cao
việc dạy và học. Tuy nhiện những phần mềm này thường được thiết kế để làm việc
chung với nhau. Ví dụ có một bài tập yêu cầu sinh viên sử dụng bảng tính để minh
họa những khái niệm mang tính chất toán như tiền cho vay, và sau đó chèn bảng
tính này vào bảng báo cáo.
Tổng quan về khả năng sử dụng
3 công cụ phần mềm này giúp gia tăng hiệu quả công việc bởi vởi bì chúng
được thiết kế để tiết kiệm thời gian cho những công việc mang tính chất chuyên
biệt do đó làm nâng cao hiệu quả công việc hơn. Ở trường,trình xử lý văn bản được
giáo viên và học sinh sử dụng rất thường xuyên trong việc soạn thảo bài dạy, bài
tập,soạn bài luận Bảng tính và phần mền cơ sở dữ liệu được dùng để gia tăng
hiệu quả công việc của giáo viên.
Tổng quan về hướng dẫn sử dụng:
Trình xử lý văn bản ban đầu được người học tiếng Anh và ngoại ngữ sử dụng
để học từ vựng và ghép câu. Bảng tính hầu hết dùng để minh họa trong lĩnh vực
toán học và kinh doanh, cũng như dùng để hỗ trợ cho việc chỉ dẫn những thí
nghiệm khoa học, những nghiên cứu xã hội. Hiện nay với lượng thông tin khổng lồ
kỹ năng tìm kiếm và lĩnh hội thông tin rất là quan trọng với người học.
Phần mềm Chức năng
Những sản phẩm được
Lợi ích:
Trong giáo dục nói riêng và những lĩnh vực khác trong thời đại số hiện nay, 3
công cụ được sử dụng rỗng rãi nhất là xử lý văn bản, bảng tính và những chương
trình cơ sở dữ liệu. Chương trình xử lý văn bản và những công cụ phần mềm khác
không những phổ biến mà còn được sử dụng rộng rãi và trở thành một phần không
thể thiếu trong đời sống hàng ngày. Tùy theo khả năng của công cụ và sự cần thiết
trong trong tùy tình huống, những công cụ này có thể mang đến những lợi ích như:
• Làm gia tăng hiệu quả công việc: giúp dễ dàng sắp xếp, tạo ra những tài liệu
hướng dẫn và những bài tập thực hành nhanh chóng hơn. Khi sử dụng những
công cụ đó thì người giáo viên có nhiều thời gian hơn đối với sinh viên hoặc
có nhiều thời gian hơn trong việc thiết kế các hoạt động dạy học.
• Làm gia tăng sự thể hiện: Các công cụ đó giúp giáo viên và người học tạo ra
những tác phẩm tuyệt vời và giống như những nhà thiết kế chuyên nghiệp.
Chất lượng của lớp học chỉ bị giới hạn bởi tài năng và những kỹ năng sử dụng
công cụ của người học và giáo viên. Người học cũng nhận được sự tán thưởng
và tính cạnh tranh khi sử dụng những công cụ này để tạo ra sản phẩm hấp dẫn
người xem.
• Làm gia tăng sự chính xác:Những công cụ này giúp dễ dàng duy trì sự tỷ mỉ,
những số liệu chính xác. Thông tin càng chính xác thì càng giúp đỡ người học
hơn trong việc hướng dẩn về chương trình học và những hoạt động của người
học.
• Gia tăng sự hỗ trợ trong việc cộng tác và tương tác: những công cụ phần
mềm giúp người học gia tăng sự cộng tác trong việc làm nhóm cũng như trao
đổi thông tin.
Khó khăn:
Tuy nhiên khó khăn lớn nhất đới với người sử dụng các phần mềm công cụ cơ
bản này là hầu hết chúng được viết dưới ngôn ngữ nước ngoài, người sử dụng phải
trãi qua một khoá học cơ bản mới có khả năng sử dụng hết các chức năng của
chúng. Ngoài ra, vì con người quá lệ thuộc vào các máy móc, phần mềm, thiết bị
trợ giúp làm khả năng thao tác và tính toán của con người cũng dần bị hạn chế.
được hưởng những công nghệ và hiện đại nhất.
Document:
Ứng dụng xử lý văn bản này được khởi đầu với cái tên Writely (trước khi
được Google chính thức mua lại), với toàn bộ các tính năng cơ bản nhất. Đến thời
điểm này, công cụ đã được tích hợp nhiều tính năng định dạng, thay đổi kích thước
font, căn lề, cách dòng, tạo mục lục, danh sách tương tự như Microsoft Word.
Và chúng ta có thể chèn thêm những đối tượng hỗ trợ vào văn bản như phần
Header, Footer, bảng cũng như các công thức toán học, ảnh, video trình chiếu
Trang 22
Bên cạnh đó, chức năng chuyển đổi định dạng của Google Docs cũng đã được
cải thiện rất nhiều, hỗ trợ văn bản Microsoft Word, OpenOffice, rich text (RTF),
HTML hoặc text đơn thuần (.txt). Ví dụ, 1 văn bản tài liệu Word sau khi được
import có chứa nhiều thành phần ký tự toán học, đánh dấu sẽ giữ nguyên những
thành phần này. Chỉ có những phần ngoại lệ thay đổi mới được ghi lại thông tin, cụ
thể là những đối tượng không được chuyển đổi sang định dạng phù hợp
của Google Docs. Do vậy tính năng này của Google cũng khác hẳn so với những
chương trình xử lý văn bản hiện nay. Mặt khác, chúng ta có thể trích xuất định
dạng chuẩn của văn bản thành những file phổ biến khác như RTF, ODT, Word
hoặc HTML, và Google Docs còn hỗ trợ người dùng bằng công nghệ OCR -
Optical Character Recognition (nhận dạng ký tự qua hình ảnh) sau khi họ đăng
tải file PDF hoặc ảnh (JPG, GIF và PNG) thành file văn bản có thể chỉnh sửa
được. Tính năng này hoạt động rất ổn định và vô cùng hiệu quả, vì toàn bộ nội
dung text trong file PDF hoặc các bức ảnh được hiển thị rất rõ ràng.
Một công cụ hỗ trợ chuyển đổi khác vô cùng tiện lợi ở đây là ngôn ngữ (hệ
thống Google Docs hỗ trợ tới hơn 50 ngôn ngữ phổ biến khác nhau), và lưu trữ văn
bản đã được dịch thành file Google Docs trực tiếp trên tài khoản, còn file gốc của
người dùng vẫn được giữ nguyên. Các văn bản tại đây luôn được áp dụng và xử lý
dựa trên tính năng kiểm tra real – time, các từ ngữ sai chính tả được đánh dấu gạch
chân bằng những dấu chấm màu đỏ, khi nhấn chuột phải vào những từ ngữ đó hệ
thống sẽ hiển thị những phương án phù hợp để thay đổi.
tiếp giữa những thành phần này sẽ lâu hơn thông thường, khoảng 1 – 2 giây
để hệ thống tải đủ dữ liệu cần thiết. Nếu không có đủ số dòng cần thiết trên 1
bảng tính, hãy kéo chuột xuống phía dưới và chọn chức năng Add để thêm,
điền số dòng tại đây và nhấn Enter, hệ thống sẽ bổ sung đúng số dòng theo giá
trị trong ô. Tuy nhiên, hiện tại Google vẫn chưa bổ sung chức năng tương tự
để thêm số cột. Để chèn thêm nhiều dòng hoặc cột, các bạn hãy đánh dấu một
vài dòng, cột, sau đó nhấn chuột phải để thêm số lượng.
• Không giống như ứng dụng Drawing và Presentation, Spreadsheet không
hỗ trợ tính năng phóng to hoặc thu nhỏ bản ghi (Document cũng không có
tính năng này). Đây sẽ trở thành vấn đề khá nghiêm trọng khi chúng ta làm
việc đối với những bản tính lớn. Mặt khác, người sử dụng còn có thể
download file Spreadsheet với nhiều định dạng khác nhau, bao gồm XLS
(Excel), ODS (OpenOffice), PDF, CSV, HTML hoặc TXT.
Presentation:
Đây đơn giản là 1 chương trình để tạo file trình chiếu slide – show, tương tự
như Microsoft Presentation. Về mặt bản chất, người sử dụng chủ yếu sẽ dùng các
slide riêng biệt để lắp ghép lại với nhau để trình diễn ý tưởng, bài thử nghiệm, mô
phỏng:
Chúng ta có thể tạo từng phần slide riêng rẽ bằng cách chèn ảnh, bao gồm nội
dung text và các bảng, hoặc import ảnh trực tiếp từ máy tính, album Picasa hoặc
Google Search sau đó kéo và thả và đây, tùy chỉnh kích thước sao cho khớp.
Trang 25