BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG CƠ SỞ 2
0O0
ĐỀ TÀI: THỰC TRẠNG XỬ LÝ RÁC THẢI Y TẾ RẮN
TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ GIẢI PHÁP
Giảng viên: Phan Bùi Khuê Đài
Lớp K51E- Nhóm 9
Dương Nguyễn Đức Duy
1201016106
Nguyễn Ngọc Lợi
1201016269
Lê Thị Ý Nhi
1201016360
Bùi Phạm Minh Nhật
1201016348
Huỳnh Minh Phương
1201016412
Đoàn Phước Tài
1201016453
Lê Quốc Thắng
1201016470 Thành phố Hồ Chí Minh, 15/10/2014
RÁC THẢI Y TẾ HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP 16
3.1. Hạn chế 16
3.2. Giải pháp 17
KẾT LUẬN 18
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1. Các nhóm rác lâm sàng 2
Bảng 2. Khối lượng chất thải rắn y tế vận chuyển và xử lí (2000-2013) 9
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với tốc độ phát triển bình quân 12.3%, Hồ Chí Minh đang là thành phố có tốc
độ phát triển kinh tế nhanh nhất nước ta. Nhưng bên cạnh vấn đề về phát triển kinh
tế, thì vấn đề ô nhiễm môi trường cũng đang trở thành nỗi lo mà nhiều nhà chính
sách quan tâm. Mà đáng chú ý nhất trong số đó phải kể đến vấn đề ô nhiễm rác thải
y tế.
Hiện nay, thành phố hiện có 476 cơ sở y tế khám chữa bệnh (khối công lập), bao
gồm bệnh viện thuộc Trung ương, bệnh viện thuộc thành phố, bệnh viện cấp huyện,
trung tâm y tế dự phòng, trạm y tế và hơn 13,141 cơ sở y tế khám chữa bệnh (ngoài
công lập) với tính đa dạng về loại hình và quy mô. Theo số liệu báo cáo của Công ty
TNHH MTV Môi trường đô thị thành phố và Sở Tài nguyên và Môi trường TP HCM,
chất thải rắn y tế (lây nhiễm) thu gom xử lý đã tăng liên tục từ 4,6 tấn/ngày (2000)
đến 17.16 tấn/ngày (2013) từ các cơ sở khám chữa bệnh, mà chủ yếu là từ các bệnh
viện (hầu hết là khối công lập) và có thực hiện hợp đồng vận chuyển, xử lý. Điều đó
có nghĩa một lượng lớn bệnh viện và cơ sở y tế đang giấu diếm trong vấn đề xử lý rác
Ngoài mục lục, Danh mục bảng biểu, Danh mục chữ viết tắt, Lời mở đầu, Kết luận,
và Danh mục tài liệu tham khảo thì kết cấu chính của tiểu luận gồm ba chương:
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương II: Phân tích thực trạng rác thải y tế tại thành phốHồ Chí Minh
Chương III: những hạn chế của hệ thống thu gom và xử lý rác thải y tế hiện
nay và giải pháp
3
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. Định nghĩa chất thải y tế
1.1.1. Định nghĩa
Chất thải y tế là chất thải từ các hoạt động y tế khám chữa bệnh, chăm sóc, xét
nghiệm, nghiên cứu Chất thải y tế nguy hại là chất thải có các thành phần như: máu,
dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận, cơ quan, bơm, kim tiêm, vật sắc nhọn, dược
phẩm, hóa chất, chất phóng xạ thường ở dạng rắn, lỏng, khí. Chất thải y tế được xếp
là chất thải nguy hại, cần có phương thức lưu giữ, xử lý, thải bỏ đặc biệt, có quy định
riêng; nó gây nguy hại sức khỏe, an toàn môi trường hay cảm giác thiếu mỹ quan.
Rác thải rắn y tế là phần chất thải y tế ở dạng rắn, không có tính chất thải
dạng lỏng và khí, được thu gom và xử lý riêng. Trong bài tiểu luận ta tập trung
vào phân tích rác thải y tế rắn.
1.1.2. Phân loại:
1.1.2.1. Rác thải lâm sàng
Bảng 1. Các nhóm rác lâm sàng
Nhóm A
Chất thải nhiễm khuẩn, chứa mầm bệnh với số lượng, mật độ đủ gây
bệnh, bị nhiễm khuẩn bởi vi khuẩn, virus, ký sinh trùng, nấm bao
gồm các các vật liệu bị thấm máu, thấm dịch, chất bài tiết sinh học
của người bệnh như gạc, bông, găng tay,bột bó gãy xương, dây truyền
máu
nhân viên cơ sở y tế, người vận chuyển rác thải y tế và những người trong cộng đồng
bị phơi nhiễm với chất thải do sự tác trách trong công tác xử lý rác thải y tế.
1.2.1.3. Nguy cơ được gây ra bởi rác thải y tế
Chất thải truyền nhiễm và vật sắc nhọn
Chất thải y tế chứa đựng một lượng lớn các tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền
nhiễm như HIV, tụ cầu, viêm gan B. Các tác nhân có thểm xâm nhập từ rác thải rắn
y tế vào cơ thể người qua các cách thức sau:
- Qua da, vết thương, vết trầy xước, vết cắn trên da do vật sắc nhọn gây ra;
- Qua niêm mạc, màng nhầy;
- Qua đường hô hấp;
- Qua đường tiêu hóa do nuốt phải.
Chất thải gây độc tế bào
5
Đối với nhân viên y tế do phải tiếp xúc với chất thải gây độc tế bào mà mức độ
ảnh hưởng sẽ phụ thuộc vào tính chất, liều lượng gây độc của chất gây độc và khoảng
thời gian tiếp xúc. Phương thức tiếp xúc chính là hít phải chất độc dưới dạng bụi, tiếp
xúc qua da hoặc ăn phải thực phẩm nhiễm độc.
Chất thải phóng xạ
Bệnh và hội chứng do chất phóng xạ gây ra được xác định bởi loại chất thải và
phạm vi tiếp xúc. Tiếp xúc với nguồn phóng xạ có hoạt tính cao như nguồn phóng xạ
của máy X quang, máy chụp cắt lớp có thể gây ra một số tổn thương như phá hủy
mô, bỏng cấp tính.
Nguy cơ từ chất thải có đồng vị phóng xạ có hoạt tính thấp có thể phát sinh do
việc nhiễm xạ trên bề mặt các vật chứa. Các nhân viên y tế hay người thu gom, vận
chuyển rác có chứa các đồng vị này là những đối tượng có nguy cơ cao.
Chất thải mang tính nhạy cảm xã hội
Cộng đồng có sự nhạy cảm tâm lý, ghê sợ khi nhìn thấy chất thải thuộc về giải
phẫu, những bộ phận cơ thể bị cắt bỏ sau phẫu thuật như chi, dạ dày, khối u, rau thai,
bào thai, máu
1.2.2. Đối với môi trường
chất thải phát sinh về nơi tập trung chất thải của khoa ít nhất 1 lần trong ngày và
khi cần.
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao trước khi thu gom về nơi tập trung chất
thải của cơ sở y tế phải được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh chất thải.
1.3.3. Vận chuyển chất thải ra ngoài cơ sở y tế:
- Các cơ sở y tế ký hợp đồng với cơ sở có tư cách pháp nhân trong việc vận
chuyển và tiêu hủy chất thải. Trường hợp địa phương chưa có cơ sở đủ tư cách
pháp nhân vận chuyển và tiêu hủy chất thải y tế thì cơ sở y tế phải báo cáo với
chính quyền địa phương để giải quyết.
- Chất thải y tế nguy hại phải được vận chuyển bằng phương tiện chuyên dụng
bảo đảm vệ sinh, đáp ứng yêu cầu tại Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26
tháng 12 năm 2006 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều kiện hành
nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải
nguy hại.
7
- Chất thải y tế nguy hại trước khi vận chuyển tới nơi tiêu hủy phải được đóng
gói trong các thùng để tránh bị bục hoặc vỡ trên đường vận chuyển.
- Chất thải giải phẫu phải đựng trong hai lượt túi màu vàng, đóng gói riêng
trong thùng hoặc hộp, dán kín nắp và ghi nhãn “CHẤT THẢI GIẢI PHẪU” trước
khi vận chuyển đi tiêu hủy.
1.3.4. Mô hình, công nghệ xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế
Các mô hình xử lý, tiêu hủy chất thải rắn y tế nguy hại bao gồm:
- Mô hình 1: Trung tâm xử lý và tiêu hủy chất thải y tế nguy hại tập trung.
- Mô hình 2: Cơ sở xử lý và tiêu hủy chất thải y tế nguy hại cho cụm cơ sở y tế.
- Mô hình 3: Xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế nguy hại tại chỗ.
Công nghệ xử lý và tiêu hủy chất thải y tế nguy hại
- Việc lựa chọn công nghệ xử lý chất thải y tế nguy hại phải bảo đảm tiêu chuẩn
môi trường và đáp ứng các yêu cầu của các Công ước quốc tế mà Việt Nam là
thành viên.
- Các công nghệ xử lý chất thải y tế nguy hại gồm: thiêu đốt trong lò đốt đạt tiêu
hiện nay.
Nguồn phát sinh
Nguồn phát sinh chất thải y tế chủ yếu là: bệnh viện; các cơ sở y tế khác như:
trung tâm vận chuyển cấp cứu, phòng khám phụ khoa, nhà hộ sinh, phòng khám ngoại
trú,trung tâm lọc máu…; các trung tâm xét nghiệm và nghiên cứu sinh học, ngân hàng
máu…
Thành phố hiện có 476 cơ sở y tế khám chữa bệnh (khối công lập), bao gồm
bệnh viện thuộc Trung ương (Bộ Y tế quản lí), bệnh viện thuộc thành phố (Sở Y tế
quản lí), bệnh viện cấp huyện, trung tâm y tế dự phòng (cấp quận), trạm y tế (cấp
phường), bệnh viện thuộc nghành quản lí (Công an, Quân đội, Bưu điện, Giao thông
vận tải…) và hơn 13.141 cơ sở y tế khám chữa bệnh (ngoài công lập) với tính đa dạng
về loại hình và quy mô như: bệnh viên (đa khoa, chuyên khoa); phòng khám (chuyên
khoa, đa khoa, phòng mạch); nhà hộ sinh; dịch vụ y tế (dịch vụ kính thuốc, tiêm chích,
thay băng, chăm sóc sức khỏe tại nhà, phòng răng, ); phòng chẩn trị y học cổ
truyền,…Số cơ sở công lập tuy ít hơn dân lập, nhưng về tổ chức quy mô, chuyên môn
và cung cấp dịch khám chữa bệnh thì khối công lập vẫn chiếm đa số về số lượt người
khám chữa bệnh, hiệu quả khám điều trị và giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống y tế
nên khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh chiếm tỷ trọng lớn hơn.
Lượng phát sinh
Theo số liệu báo cáo của Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị thành phố và
Sở Tài nguyên và Môi trường TP HCM, chất thải rắn y tế (lây nhiễm) thu gom xử lý
đã tăng liên tục từ 4,6 tấn/ngày (2000) đến 17.16 tấn/ngày (2013) từ các cơ sở khám
10
chữa bệnh, mà chủ yếu là từ các bệnh viện (hầu hết là khối công lập) và có thực hiện
hợp đồng vận chuyển, xử lý.
Bảng 2. Khối lượng chất thải rắn y tế vận chuyển và xử lí (2000-2013)
Nguồn: CITENCO.
Như vậy, số lượng cơ sở y tế còn lại có hai trường hợp xảy ra:
(1) là có ký hợp đồng với các Công ty TNHH Một thành viên Dịch vụ công ích
(viết tắt là MTV DVCI) quận huyện thì khối lượng đã được bao gồm trong báo cáo
6.88
8.97
11.38
11.54
13.9
15.92
17.16
Khối lượng
tấn/năm
1,681
2,117
2,512
3,274
4,154
4,214
5,072
5,810
6250
11
(3) Dân số tăng (tự nhiên và cơ học). Nếu thành phố không sớm có các giải pháp
can thiệp thì chỉ trong một thời gian ngắn nữa, khi lượng chất thải y tế tăng quá
khả năng xử lí và giới hạn chịu đựng của môi trường, sẽ dẫn đến những thiệt hại
nặng nề cho xã hội.
2.2. Thu gom, xử lí chất thải y tế ở thành phố Hồ Chí Minh
2.2.1. Phân loại tại nguồn
Do đặc tính nguy hại nên chất thải rắn y tế được Bộ Y tế sớm quan tâm và triển
khai công tác phân loại tại nguồn từ năm 1995. So với các tỉnh thành khác, thành phố
Hồ Chí Minh là địa phương triển khai công tác phân loại tại nguồn rất tốt, với hầu hết
các bệnh viện trên địa bàn đều có tổ chức phân loại thành 5 nhóm chất thải như sau:
(1) Chất thải lây nhiễm: được chứa trong túi và thùng màu vàng;
chuyển đến nhà máy xử lý.
- 22 Công ty TNHH MTV Dịch vụ công ích quận huyện tổ chức thu gom trên
địa bàn quận huyện, chủ yếu là từ các sở y tế nhỏ như trạm y tế phường xã, phòng
mạch, phòng điều dưỡng, phòng hộ sinh… và một số bệnh viện, phòng khám đa
khoa tư nhân.
Khối lượng thu gom tại nguồn:
Tính đến thời điểm hiện nay (2011), hoạt động thu gom tại nguồn của hệ thống
được phân bổ (tự nhiên/tự phát) như sau:
- CITENCO thu gom tại nguồn khoảng 8,5- 09 tấn/ngày, tương đương
khoảng 65-70% tổng khối lượng thu gom.
- Công ty DVCI quận huyện thu gom tại nguồn khoảng 3,5-04 tấn/ngày tương
đương khoảng 30-35% tổng khối lượng thu gom.
Hình thức thu gom tại nguồn:
Đối với các cơ sở y tế lớn (có nhà lữu giữ chất thải rắn y tế, có thùng chứa) thì
được thu gom với hình thức “trao đổi thùng”. Đối với cơ sở y tế nhỏ thì chất thải được
chứa trong bao màu vàng và công nhân thu gom cả bao cho vào thùng chứa màu vàng.
Tần suất thu gom đối với các cơ sở y tế có quy mô lớn tối đa là 2 ngày/lần; đối vối
cơ sở y tế có quy mô vừa và nhỏ thì không quá 1 tuần/lần cho cơ sở không có bệnh
phẩm và 1 ngày/lần cho cơ sở có bệnh phẩm.
13
2.2.2. Tái sử dụng và tái chế
Trước năm 1994, các y dụng cụ (ống tiêm. kim chích, dao phẩu thuật, chai lọ dịch
truyền…) đều được các cơ sở y tế tái sử dụng sau khi đã được tiệt trùng. Tuy nhiên,
việc tái sử dụng này không đảm bảo an toàn cho người bệnh. Từ năm 1995 đến nay,
các cơ sở y tế (đi đầu là các bệnh viện công lập lớn) bắt đầu chuyển dần sang sử dụng
y dụng cụ dùng một lần, cũng là thời điểm mà lượng chất thải rắn y tế tăng nhanh
hơn.
Chất thải rắn y tế có thể tái chế được ở 2 loại phế liệu chính (1) các loại nhựa, và
(2) thủy tinh, có giá trị rất cao do thường là các loại rất tốt (loại 1). Các cơ sở y tế,
cũng giống như các đơn vị sản xuất kinh doanh khác, hoàn toàn có quyền bán các phế
0
C - 1.100
0
C và
thời gian thực hiện 1 mẻ đốt là 20 phút, sử dụng nhiên liệu đốt là gaz. Lò đốt này do
hãng Hoval - Thụy Sĩ sản xuất năm 2000 với đầy đủ tính năng của 01 lò đốt chất thải
y tế hiện đại, được thiết kế với công suất 7- 8 tấn/ngày. Tuy nhiên, công suất vận
hành lò đốt có thể tăng (trong điều kiện cho phép và không quá công suất thiết kế của
nhà sản xuất) lên đến 13,95 tấn/ngày. Hiện lò đốt 07 tấn/ngày đang hoạt động với
công suất tối đa (12- 13 tấn/ngày), gần gấp đôi công suất của lò. Do không đủ thời
gian bảo dưỡng nên lò thường xuyên gặp sự cố và mỗi lần hư hỏng chất thải tại nhà
máy bị ứ đọng với khối lượng có khi lên đến 20-30 tấn.
Lò đốt chất thải công nghiệp công suất 04 tấn/ngày
Đây là lò đốt do CITENCO đầu tư. Lò đốt được thiết kế theo dạng môđul chuẩn
với công suất 300 kg/h. tương đương 4.800 kg/ngày cho 16 giờ đốt liên tục. Có nghĩa
là hệ thống có thể tăng thêm 20% công suất trong trường hợp khối lượng chất thải
tăng đột biến. Nhiệt độ đốt của lò từ 850
0
C - 1000
0
C.
Lò đốt 4 tấn/này chủ yếu là dùng đốt chất thải công nghiệp – nguy hại, tuy nhiên
vì lò 07 tấn/ngày đang sử dụng hết công suất nên lò này có vai trò dự phòng và hỗ trợ
trong những ngày có khối lượng chất thải rắn y tế tăng lên.
Như đã nói ở trên, khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh không thường xuyên
với khối lượng vài trăm tấn trong một vụ thì trong thời khắc này, lò đốt 04 tấn/ngày
và cùng với sự tham gia của 05 lò đốt chất thải công nghiệp – nguy hại tư nhân trên
15
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh sẽ giải quyết được các loại chất thải có khả năng gây
bệnh và nguy hại cho môi trường
(4) Trang thiết bị chưa đồng bộ ở công tác thu gom tại nguồn (các Công ty DVCI
quận huyện).
(5) Thành phố chưa có quy hoạch hay chiến lược quản lý chất thải y tế đến năm
2025 (2030).
(6) Số liệu phục vụ cho công tác quản lý chủ yếu dựa số liệu hành chính (số liệu
do các đơn vị báo cáo), chưa dựa vào số liệu khoa học (số liệu do nghiên cứu) và các
số liệu này còn rất rời rạc. Trong đó, đặc biệt khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh
không thường xuyên chưa được đánh giá thống kê và dự báo.
(7) Hệ thống quản lý chất thải rắn y tế còn thiếu tính xã hội hóa trong thu gom
xử lý, do đó chưa có tính cạnh tranh về chất lượng và dịch vụ. Điều này cũng có thể
là do thiếu tính hấp dẫn nhà đầu tư trong lĩnh vực này (không mang lại lợi nhuận cao).
17
(8) Cán bộ chuyên môn về môi trường ở các cơ sở y tế (Bệnh viện lớn) chưa có,
hoặc có cán bộ phụ trách nhưng không chuyên.
3.2. Giải pháp:
- Kiến nghị chính phủ sớm xem xét, tạo điều kiện cho Thành phố có cơ chế, đặc
thù riêng, linh hoạt trong việc tổ chức mạng lưới thu gom chất thải rắn y tế, ví dụ
như tạo điều kiện cho các công ty dịch vụ công ích xin dược giấy phép thu gom,
vận chuyển rác thải y tế theo quy định.
- Thiết lập một cơ chế để đo lường, thống kê các tiêu chí xung quanh vấn đề
“rác thải y tế” như: lượng rác thải y tế phát sinh ở các bệnh viện, mức độ nguy hại,
chi phí để xử lí phân loại, hậu quả đến môi trường
- Thường xuyên tổ chức và nâng cao chất lượng các chương trình về nhận thức
cộng đồng. Ví dụ như phát hành các tài liệu, sổ tay hướng dẫn kĩ thuật quản lí,
phân loại, xử lí rác thải y tế cho các cán bộ, nhân viên bệnh viện…
- Phân định rõ ràng vai trò và trách nhiệm của các cơ quan, bộ phận có liên quan
đến việc quản lí rác thải y tế của Thành phố, đồng thời phải đảm bảo sự phối hợp
chặt chẽ, hài hòa nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.
18
Thailand
B. Danh mục các website tham khảo
[1] Đánh giá hiện trạng và đề xuất các giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh
viện Đa khoa khu vực Hóc Môn, 2013, <online> http://tai-lieu.com/tai-lieu/de-tai-
danh-gia-hien-trang-va-de-xuat-cac-giai-phap-quan-ly-chat-thai-ran-y-te-tai-benh-
vien-da-khoa-khu-vuc-hoc-mon-tp-4533/, ngày truy cập 9/10/2014.
[2] Đánh giá hiện trạng quản lý ctr y tế tại Thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất các
giải pháp giảm thiểu, 2008, <online> http://luanvan.co/luan-van/danh-gia-hien-
trang-quan-ly-ctr-y-te-tai-tphcm-va-de-xuat-cac-giai-phap-giam-thieu-38891/,
ngày truy cập 8/10/2014.
[3] Vietnamplus, 2014, Quản lý rác thải y tế - trách nhiệm thuộc về ai?, <online>
http://www.vietnamplus.vn/bai-2-quan-ly-rac-thai-y-te-trach-nhiem-thuoc-ve-
ai/260048.vnp, ngày truy cập 9/10/2014.
[4] An ninh Thủ đô, 2007, Siết chặt việc xử lý rác thải y tế, <online>
http://www.anninhthudo.vn/xa-hoi/siet-chat-viec-xu-ly-rac-thai-y-te/310230.antd,
ngày truy cập 9/10/2014.
[5] Việt Báo, 2007, Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra chặt việc quản lý rác thải y tế,
<online> http://vietbao.vn/Suc-khoe/TP-HCM-Kiem-tra-chat-viec-quan-ly-rac-
thai-y-te/70096684/248/, ngày truy cập 9/10/2014.