BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Phạm Hồng Châu THỰC TRẠNG QUẢN LÝ
GIÁO DỤC MẦM NON
QUA MẠNG INTERNET
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Phạm Hồng Châu
- Tổ Mầm non 24 quận huyện,
- BGH, GV, PH ở 24 trường mầm non công lập,
- Gia đình, bạn bè…đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, động viên để tác giả hoàn
thành luận văn. Đặc biệt kính bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Hồ Văn Liên đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian thực hiện luận văn thạc sĩ.
TP. Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 12 năm 2010
Phạm Hồng Châu
MỤC LỤC
6TLỜI CÁM ƠN6T 3
6TMỤC LỤC6T 4
6TMỞ ĐẦU6T 7
6T1. Lý do chọn đề tài6T 7
6T2. Mục đích nghiên cứu6T 9
6T3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu6T 9
6T4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu6T 9
6T5. Giả thuyết khoa học6T 9
6T6. Nhiệm vụ nghiên cứu6T 10
6T7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu6T 10
6T8. Bố cục của đề tài6T 11
6TCHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU6T 12
6T1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề6T 12
6T1.1.1. Ở nước ngoài6T 12
6T1.1.2. Ở Việt Nam6T 14
6T1.2. Các khái niệm6T 17
6T1.2.1. Giáo dục và Giáo dục mầm non6T 17
6T1.2.2. Ngành GDMN, trường mầm non6T 18
6T1.2.3. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường học6T 21
6T1.3. Quản lý giáo dục mầm non6T 28
6T1.3.1. Cơ cấu tổ chức quản lý GDMN6T 28
6T1.3.2. Phòng GD-ĐT và công tác quản lý GDMN6T 30
6T2.3.3. Thực trạng sử dụng các hình thức / phương tiện quản lý6T 67
6T2.3.4. Thực trạng trang thiết bị đáp ứng yêu cầu cho công tác quản lý GDMN qua
mạng internet
6T 73
6T2.3.5. Thực trạng thực hiện các nội dung QLGDMN qua mạng internet6T 74
6T2.3.6. Thực trạng sử dụng internet của các cán bộ quản lý GDMN6T 79
6T2.4. Kết luận thực trạng QLGDMN qua mạng internet ở TPHCM6T 83
6T2.4.1. Ưu điểm6T 83
6T2.4.2. Hạn chế6T 83
6T2.4.3. Nguyên nhân6T 84
6T2.4.4. Ý kiến của các đối tượng tham gia điều tra (PMN, TMN, BGH, GV, PH) đối với
việc quản lý GDMN qua mạng internet
6T 88
6TCHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ GIÁO DỤC MẦM NON
QUA MẠNG INTERNET Ở TP. HỒ CHÍ MINH
6T 90
6T3.1. Cơ sở đề xuất các biện pháp6T 90
6T3.1.1. Cơ sở pháp lý6T 90
6T3.1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn6T 94
6T3.2. Các biện pháp6T 96
6T3.2.1. Đề xuất các biện pháp6T 96
6T3.2.2. Tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp6T 118
6TPHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ6T 123
6T1. Kết luận6T 123
6T2. Kiến nghị6T 125
6TTÀI LIỆU THAM KHẢO6T 130
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong lịch sử phát triển giáo dục của nước ta, giáo dục luôn phải đương đầu liên tục
xã hội của thế giới hiện đại. Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin nhằm góp phần giải
phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới,
phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao
chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón
đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Ngay từ thời kỳ chống Mỹ cứu nước, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương vận dụng
công nghệ thông tin trong một số lĩnh vực. Bước sang thời kỳ đổi mới, chủ trương ấy đã
được nhấn mạnh và cụ thể hoá trong nhiều Nghị quyết của Đảng và Chính phủ như: nghị
quyết số 26-NQ/TW, ngày 30-3-1991 của Bộ Chính trị về khoa học và công nghệ trong sự
nghiệp đổi mới đã nêu: "Tập trung sức phát triển một số ngành khoa học công nghệ mũi
nhọn như điện tử, tin học "; Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương
(khoá VII) ngày 30-7-1994 xác định: "Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên
tiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hoá và tin học hoá nền kinh tế quốc
dân"; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh: "Ứng dụng công
nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về
năng suất, chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế…". Để thể chế hoá về mặt Nhà nước,
Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 49/CP ngày 04 tháng 8 năm 1993 về "Phát triển công
nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90".
Năm học 2008 - 2009 là năm học đầu tiên triển khai thực hiện Chỉ thị số 55/2008/CT-
BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và
ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT) trong ngành giáo dục giai đoạn 2008 - 2012. Năm
học 2008 - 2009 được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT, đổi mới quản lý tài
chính và xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực …”. Trong công văn số
9772/BGDĐT-CNTT ngày 20/10/2008, Bộ GD&ĐT đã hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm
học 2008 - 2009 về CNTT như sau: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong điều hành và quản lý
giáo dục, quản lý hành chính tại các Sở GD-ĐT và các trường học: thực hiện việc chuyển
phát công văn, tài liệu qua mạng điện tử, kết nối thông tin và điều hành bằng văn bản điện
tử giữa Sở và các trường, giữa Sở và Bộ; triển khai tin học hoá quản lý trong trường học
Thực hiện chủ đề năm học “Năm học đẩy mạnh ứng dụng CNTT ”, Phòng GDMN
6.3. Đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả quản lý GDMN qua mạng
internet ở TP. Hồ Chí Minh.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống - cấu trúc
Tiếp cận quan điểm hệ thống - cấu trúc, người nghiên cứu thấy thực trạng quản lý
Giáo dục Mầm non qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh bao gồm những yếu tố sau đây:
mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, chủ thể, đối tượng và kết quả quản lý có mối
quan hệ biện chứng với nhau; cần phải quan tâm giải quyết tốt các mối quan hệ này.
- Tổ MN quản lý các trường / nhóm / lớp GDMN qua mạng internet gồm các mảng cơ
bản sau: số lượng trường / nhóm / lớp, số trẻ nhà trẻ / mẫu giáo; tình trạng dinh dưỡng của
trẻ; chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ; số cán bộ quản lý - giáo viên - công nhân viên; trình
độ của CBQL - GV - CNV; cơ sở vật chất; kinh phí…
- Phòng GDMN quản lý Tổ MN và quản lý việc quản lý của Tổ MN đối với các đơn vị
GDMN.
7.1.2. Quan điểm thực tiễn
Xuất phát từ thực trạng quản lý Giáo dục Mầm non qua mạng internet ở TP. Hồ Chí
Minh còn gặp nhiều khó khăn do đó cần tìm hiểu các nguyên nhân và đề xuất các biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
7.1.3. Quan điểm lịch sử
Thực trạng được khảo sát cần làm sáng tỏ những vấn đề quản lý Giáo dục Mầm non
qua mạng internet ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay.
7.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Gồm các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa thông tin.
7.2.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều tra viết: Sử dụng bảng hỏi nhằm thu thập dữ kiện phục vụ cho việc
chứng minh giả thuyết của đề tài.
- Quan sát một số hoạt động quản lý GDMN qua mạng internet để thu thập chứng cứ
phục vụ nghiên cứu. Phương tiện quan sát: máy chụp hình, máy vi tính…
Nga hiện đứng ở vị trí 59 trong danh sách xếp hạng chính phủ điện tử năm 2010 của Liên
Hiệp Quốc (Việt Nam hạng 90). Năm 2009, Tổng thống Medvedev từng phàn nàn: “Chúng
ta lạc hậu về vấn đề chính phủ điện tử quá! Giao dịch nội bộ giữa các cơ quan công quyền,
giữa người dân với cơ quan công quyền vẫn là trên giấy tờ, máy tính chẳng hơn máy đánh
chữ là mấy!”. [43]
“Giảm giá thành, tăng hiệu quả, minh bạch và tính giải trình về các dịch vụ” được xem
là nền tảng để đánh giá về chính phủ điện tử ở mọi quốc gia. Một trong những lý do thành
công cho một dự án chính phủ điện tử của Hàn Quốc - nước hiện đang xếp hạng 1 trong
danh sách xếp hạng chính phủ điện tử năm 2010 của Liên Hiệp Quốc - là “tìm giải pháp cho
người dân tham gia nhiều hơn vào quá trình điều hành của chính quyền”, trong đó có việc
cho ra mắt hệ thống cung cấp các thông tin hành chính theo yêu cầu của công dân và hệ
thống “Nhân dân điện tử” (e-People) để giải quyết đơn thư khiếu nại.
* Đối với lĩnh vực Ugiáo dụcU, ở các nước Đông Á, CNTT có một vị trí quan trọng trong
chương trình đổi mới giáo dục. Các chính sách mới về đổi mới giáo dục được xây dựng dựa
trên các tiền đề và triển vọng ứng dụng hiệu quả CNTT vào dạy và học (Richards, 2004).
Tuy nhiên, trên thực tế ứng dụng CNTT vào dạy học vẫn còn hạn chế. Phân tích việc ứng
dụng CNTT trong giáo dục không có khả năng loại bỏ máy tính khỏi các thay đổi xã hội và
chính trị như là một bối cảnh trường học lớn hơn (Selwyn, 1999). Các chính sách chiến lược
có thể đưa ra cơ sở lý luận, các mục đích và tầm nhìn của hệ thống giáo dục khi ứng dụng
CNTT (Kozma, 2008). Pick và Azari (2008) cũng nhận xét rằng các kết quả mà một dân tộc
muốn nâng cao CNTT phụ thuộc vào ý chí chính trị và cách các nhà lãnh đạo đánh giá sự
cần thiết của việc kết hợp các yếu tố đa chiều vào quá trình phát triển.
Trong vài thập kỉ gần đây, ở nhiều nước trên thế giới, máy vi tính đã được đưa vào sử
dụng trong trường như một phương tiện dạy học hữu hiệu, chẳng hạn như:
- Đề án “Tin học cho mọi người” (Informatique pour tous) – Pháp, 1970.
- Chương trình MEP (Microelectronics Education Program) – Anh, 1980.
- Các chương trình và phần mềm các môn học cho trường trung học được cung cấp bởi
NSCU (National Software-Cadination Unit) – Australia, 1984.
- Đề án CLASS (Computer Literacy And Studies in School) - Ấn Độ, 1985.
Ngoài ra, còn rất nhiều chương trình, phần mềm hỗ trợ khác có thể khai thác và ứng
doanh sản phẩm dịch vụ Viễn thông và Internet nhằm nâng cao vị thế của Tập đoàn Bưu
chính Viễn thông Việt Nam trong giai đoạn cạnh tranh hội nhập” mã số đề tài LA2101;
“Nghiên cứu các giải pháp thúc đẩy ứng dụng Internet và thương mại điện tử để nâng cao
năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định” mã số đề tài
LA2272; “Ứng dụng Intelligent mobile agent trong công tác đào tạo trên mạng Internet tại
Học viện công nghệ Bưu chính Viễn Thông” mã số đề tài LA3036; “Đẩy mạnh hoạt động
bán hàng qua mạng Internet tại Công ty TNHH đầu tư - thương mại - dịch vụ Minh Anh”
mã số đề tài 11522; “Công nghệ tin học ngành chứng khoán Việt Nam với vấn đề giao dịch
trực tuyến” (2002) của Thạc sĩ Đoàn Thanh Tùng; “Nghiên cứu xây dựng hệ thống kiểm
soát truy cập mạng và an ninh thông tin dựa trên sinh trắc học sử dụng công nghệ nhúng”
(2008-2010) của PGS.TS Nguyễn Thị Hoàng Lan và TS. Vũ Thị Hương Giang; “Xây dựng
thử nghiệm mô hình trang thông tin điện tử có tích hợp dịch vụ hỗ trợ người khiếm thị tiếp
cận và sử dụng thông tin” (2009) của ThS. Nguyễn Thị Thu Trang; “Các tiêu chuẩn thiết kế
website dễ tiếp cận và phương pháp sử dụng thông tin “nói” hỗ trợ người khiếm thị Việt
Nam tiếp cận, định hướng và khai thác thông tin trên website; ứng dụng vào triển khai
trang thông tin điện tử dành cho người khiếm thị” mã số đề tài: B2010–01–359; “Nghiên
cứu, phát triển các hệ thống thông tin phục vụ giáo dục và y tế cộng đồng” (2007-2009) của
PGS.TS Đặng Văn Chuyết; “Hệ thống lưu trữ và kiểm soát tài liệu điện tử ứng dụng trong
quản trị tri thức về khoa học và công nghệ” (2008-2009) của PGS. TS Trần Đình Khang;
“Hệ thống tìm kiếm trên Internet” (2006) của PGS. Huỳnh Quyết Thắng, PGS. Nguyễn
Ngọc Bình, Ths. Lê Tấn Hùng; “Nghiên cứu phát triển các kiến trúc và giải pháp điều khiển
QL mạng thế hệ mới” (2006-2007) mã số đề tài KHCB.2.014.06; “Hoạt động marketing
qua internet tại các doanh nghiệp Việt Nam - Thực trạng và giải pháp” của Nguyễn Thị Phi
Nga; “UDCNTT vào công tác xây dựng” mã số đề tài DAN147…
Nhìn từ góc độ UDCNTT, internet Utrong quản lý nói chungU, có rất nhiều các công
trình, các bài viết như: “UDCNTT vào hoạt động QL khoa học và công nghệ tại tỉnh Vĩnh
Long” (2009) của ThS Trần Văn Nô; “Nghiên cứu, phát triển hệ thống lọc nội dung hỗ trợ
QL và đảm bảo an toàn – an ninh thông tin trên mạng Internet” của TS. Nguyễn Viết Thế;
“UDCNTT địa lý trong QL cấp thoát nước thành phố Tuy Hòa” (2010) của KS Lê Tỷ
Khánh; “UDCNTT trong QL hành chính nhà nước Sở Khoa học và Công nghệ giai đoạn
(2007-2008) của Trần Thị Vân Anh; “UDCNTT trong dạy học địa lí kinh tế - xã hội thế giới
lớp 11-THPT” của trường THPT chuyên Thoại Ngọc Hầu; “Giải pháp nâng cao hiệu quả
QL đào tạo đại học hình thức vừa làm vừa học thông UDCNTT tại Trung tâm GDTX tỉnh
Thái Nguyên” (2009) của Hoàng Văn Thể; “UDCNTT trong công tác giảng dạy và QL” của
Phan Nguyễn Ý Nhi, Nguyễn Thị Mỹ Hà; “UDCNTT trong dạy học có hiệu quả” của Lê
Văn Thịnh; “Một số ứng dụng cơ bản của CNTT trong dạy học Vật lý” (2010) của Lê Duy
Giáp; “UDCNTT trong giáo dục VN: từ chính sách tới thực tế” của Jet Peeraer và Trần Nữ
Mai Thy; “Ứng dụng tin học ở một số nước Tây Âu nhân chuyến đi công tác tìm hiểu tình
hình giáo dục ở nước ngoài” (1996) của NGƯT Đào Thiện Hải; “Sử dụng máy vi tính trong
nghiên cứu và giảng dạy Địa lí” (1996) của GS. Nguyễn Dược; “Sử dụng máy vi tính làm
phương tiện hội thoại trong dạy học Vật lí” (1998) của PGS. PTS. Nguyễn Lạc; “Phần mềm
PC Fact với giảng dạy Địa lí” (1998) của GS. Nguyễn Dược; “Phần mềm Db-Map trong
dạy học Địa lí” (1998) của TS. Đặng Văn Đức…
Nhìn từ góc độ UDCNTT, internet trong UGDMN và quản lý GDMNU, có các công trình,
bài viết sau: “Đề tài nghiên cứu cấp Bộ đưa tin học vào GDMN” của Thạc sĩ Nguyễn Thị
Ngọc Châm – Phó Vụ trưởng Vụ MN (đây là căn cứ khoa học để UDCNTT trong GDMN);
"Quản lý GDMN qua internet ở TPHCM" (2009) của Phạm Bảo Quốc; “UDCNTT trong bậc
học mầm non” của Trần Thị Tuyết Dung…
Nhìn từ góc độ sử dụng internet trong việc quản lý GDMN cũng có nhiều bài viết bàn
đến vấn đề này, đây là một vấn đề thực sự thu hút được mối quan tâm của nhiều người, đặc
biệt là những người quan tâm đến công tác đổi mới, cải cách thủ tục hành chánh. Tuy nhiên,
đa số những bài viết này chỉ tập trung vào mặt CNTT, ứng dụng các phần mềm để hỗ trợ
một mặt nào đó của công tác quản lý (dạy, học, chăm sóc, tính khẩu phần ăn, IMAX (kế
toán), PMIS (QL nhân sự),…) như: “UDCNTT trong GDMN” của trường MNTT Lê Quý
Đôn với mục đích của đề tài là dạy trẻ làm quen với phương pháp học mới: Vừa học - vừa
chơi và học trên máy tính, giúp trẻ rèn luyện trí tuệ, củng cố kiến thức, kỹ năng; giúp trẻ
làm quen với một phương pháp học tập mới, hiện đại, nhanh chóng và đem lại hiệu quả; bài
giảng - trò chơi của giáo viên thiết kế trên máy được lấy ý tưởng từ những phần mềm ứng
dụng của chương trình Kidsmart, Bé vui học toán, Quả táo mầu nhiệm, Bút chì thông minh,
Happy Kids hay lấy từ mạng internet…
giáo dục con người.
GDMN là khái niệm chung về việc giáo dục trẻ em trước khi vào học tiểu học, bao
gồm các hoạt động tại các cơ sở chính quy, như trường mầm non, nhà trẻ hay mẫu giáo, tại
các cơ sở không chính quy, hoặc tại gia đình giữa cha mẹ và trẻ nhỏ. Nhiệm vụ trọng tâm
của GDMN là xây dựng cơ sở đầu tiên (nền móng) cho sự nghiệp giáo dục nhân cách con
người. Sự phát triển nhân cách của trẻ em sau này phụ thuộc khá lớn vào công tác GDMN.
GDMN là việc hỗ trợ trẻ để trẻ phát triển tốt nhất theo hướng phát triển toàn diện, lồng
ghép, bằng cách tập trung vào các kỹ năng khác nhau về xã hội, tình cảm và nhận thức,
những kỹ năng này giúp trẻ sẵn sàng cho việc học hỏi, chuẩn bị vào học tiểu học, và tham
gia đời sống xã hội.
1.2.2. Ngành GDMN, trường mầm non
1.2.2.1. Ngành giáo dục mầm non
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên xuất bản năm
1997 thì “ngành” là hệ thống cơ quan chuyên môn của nhà nước từ trung ương đến địa
phương, vậy “ngành giáo dục mầm non” là hệ thống cơ quan phụ trách về giáo dục mầm
non của nhà nước từ trung ương đến địa phương. [50]
1.2.2.2. Trường mầm non
Nhà trường là một tổ chức nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, có đầy đủ tư cách
pháp nhân của một tổ chức giáo dục, trong đó người giáo viên, CBQL, tập thể sư phạm giữ
vai trò quyết định đến việc đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện, đến việc thực hiện thắng
lợi nhiệm vụ, mục tiêu, nội dung kế hoạch giáo dục của nhà trường.
Hệ thống trường lớp của bậc học mầm non bao gồm các loại hình trường lớp công lập,
bán công, dân lập và tư thục (trong đó có cả loại hình chuyên biệt và hoà nhập dành cho trẻ
khuyết tật), cụ thể như sau:
Nhóm trẻ độc lập là các nhóm trẻ hoạt động không phụ thuộc bất cứ một nhà trẻ,
trường mẫu giáo nào. Nó có thể nằm trong các trường phổ thông, công ty, xí nghiệp hoặc ở
các gia đình có nhận trông trẻ từ 3 tháng đến 3 tuổi.
Lớp mẫu giáo độc lập là các lớp mẫu giáo hoạt động không phụ thuộc vào bất cứ một
trường mầm non, trường mẫu giáo nào. Nó có thể nằm trong các trường phổ thông, công ty,
xí nghiệp hoặc ở các gia đình có nhận trông trẻ từ 3 tuổi đến 6 tuổi.
xã, phường hoặc cơ quan hành chính. Đây là một môi trường sư phạm đặc biệt: trường được
xây dựng, bố trí vừa mang tính chất của trường học, vừa mang tính chất nhà ở (gia đình),
quan hệ giữa cô giáo mầm non với trẻ vừa mang tính thầy – trò, vừa mang tính mẫu – tử,
vừa mang tính bạn bè cùng học cùng chơi, mọi hoạt động của trẻ hoà quyện vào nhau “học
mà chơi, chơi mà học”. Trẻ từ 3 tháng đến 36 tháng được tổ chức thành các nhóm trẻ; trẻ từ
37 tháng đến 6 tuổi được tổ chức thành các lớp mẫu giáo. Trong trường MN, giáo viên mầm
non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi nhằm đạt
được mục tiêu của GDMN là giúp trẻ phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình
thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1. GVMN thực hiện
nghiêm chỉnh nội quy, quy chế của nhà trẻ, trường mẫu giáo, thực hiện đầy đủ chương trình,
kế hoạch giáo dục do Bộ GD&ĐT ban hành; chịu trách nhiệm quản lý số lượng trẻ trong
nhóm, lớp được phân công; thực hiện các yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm
non, nhiệm vụ của nhà giáo theo quy định của Luật Giáo dục. GVMN được tổ chức thành
chuyên môn theo khối hoặc theo lớp; được cử đi học nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên
môn nghiệp vụ, được hưởng lương phụ cấp nghề nghiệp và các phụ cấp khác theo quy định
của Chính phủ; có trình độ chuẩn được đào tạo là trung học sư phạm mầm non.
Trường MN là đơn vị cơ sở của ngành GDMN, đây là đơn vị quan trọng nhất trong
công tác QL GDMN. Chất lượng giáo dục của nhà trường phản ánh hiệu quả công tác chỉ
đạo quản lý của ngành. Do vậy, quản lý trường MN là một nhiệm vụ, một thành phần quan
trọng trong công tác giáo dục mầm non.
Quản lý trường MN là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể
cán bộ, giáo viên, công nhân viên của nhà trường, nhằm thực hiện có chất lượng mục tiêu,
kế hoạch giáo dục của nhà trường, trên cơ sở tận dụng các tiềm lực vật chất và tinh thần của
xã hội, nhà trường và gia đình. Hiệu trưởng là chủ thể quản lý giữ vai trò chủ đạo, có thẩm
quyền cao nhất về hoạt động chuyên môn và hành chính trong nhà trường. Hiệu trưởng quản
lý toàn diện nhà trường theo chế độ thủ trưởng và có hiệu phó giúp việc được phân công
một số mặt công tác do hiệu trưởng quyết định, có giáo viên mầm non làm nhiệm vụ nuôi
dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ 3 tháng đến 6 tuổi.
Hoạt động của trường MN rất đa đạng và phức tạp. Người hiệu trưởng làm tốt công tác
QL sẽ góp phần thực hiện tốt các mục tiêu cơ bản của nhà trường: thu hút ngày càng đông
của tập thể. Cần lưu ý một số điểm sau:
- Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý,
đây là quan hệ ra lệnh – phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc.
- Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người.
- Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách
quan.
- Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin.
- Quản lý có khả năng thích nghi giữa chủ thể với đối tượng QL và ngược lại.
Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực
tiếp các tác động của chủ thể quản lý và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp từ
chủ thể quản lý. Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối
tượng và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý phải thực hiện việc tác động và phải biết tác
động, vì thế chủ thể phải hiểu đối tượng và điều khiển đối tượng một cách có hiệu quả - đó
được gọi là phong cách quản lý của chủ thể. Phong cách quản lý là hệ thống những nguyên
tắc, phương pháp, biện pháp, cách thức tiêu biểu và tương đối ổn định mà một người cán bộ
quản lý thường sử dụng trong hoạt động của họ. QL đúng đắn dẫn đến thành công, tồn tại,
ổn định và phát triển bền vững, quản lý sai dẫn đến thất bại, diệt vong của tổ chức. QL đúng
đắn sẽ giúp cho tổ chức hạn chế được các nhược điểm của mình, liên kết gắn bó mọi người
trong tổ chức, tạo ra niềm tin, sức mạnh và truyền thống, tận dụng được mọi cơ hội, sức
mạnh tổng hợp của tổ chức qua sự kết hợp sức mạnh của các cá nhân trong tổ chức.
U* Quản lý có những chức năng sau đây:
Chức năng quản lý là hình thức biểu thị sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý
lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý, là những nội dung và phương thức hoạt động cơ
bản mà nhờ đó chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý trong quá trình quản lý nhằm
thực hiện mục tiêu quản lý, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải
tiến hành trong suốt quá trình quản lý, chức năng quản lý có thể coi là những nhiệm vụ có
tính nghề nghiệp mà các nhà quản lý của bất cứ ngành nào cũng phải thực hiện trong quá
trình quản lý.
Theo các nhà nghiên cứu về khoa học quản lý, quá trình quản lý có 4 chức năng cơ
U- Chức năng tổ chức:U được tiến hành sau khi xây dựng kế hoạch nhằm thực hiện kế
hoạch đã đề ra. Là sự hình thành nên cấu trúc các mối quan hệ giữa các thành viên, giữa các
bộ phận trong tổ chức với nhau mà nhờ cấu trúc đó, chủ thể quản lý tác động lên đối tượng
quản lý một cách hiệu quả nhất nhằm thực hiện thành công kế hoạch, tức là đạt được mục
tiêu, mục đích mà kế hoạch đã đặt ra. Tổ chức là thực hiện những việc đã được lãnh đạo xác
định trong thực tiễn. Nếu tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt
hơn các nguồn lực.
Chức năng tổ chức trong quản lý gồm 4 nội dung cơ bản:
+ Xây dựng cơ cấu tổ chức hay bộ máy tổ chức trong đơn vị QL: chủ thể QL phải nắm
bắt được những công việc mà đơn vị cần phải thực hiện để đạt được mục tiêu chung. Thông
qua yêu cầu, tính chất của công việc, chủ thể QL phải xây dựng cho được cơ cấu bộ máy để
thực hiện tốt, có hiệu quả các nhiệm vụ nhằm đưa tổ chức đến được mục đích đề ra: xác
định các bộ phận cần có, thiết lập các mối quan hệ hàng ngang và dọc của các bộ phận, xác
định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng thành viên, từng bộ phận (xây dựng qui chế
hoạt động); QL nhân sự bao gồm tuyển dụng, đào tạo, bố trí, sắp xếp, đề bạt, sa thải, tổ chức
các hoạt động.
+ Xây dựng cơ chế vận hành bộ máy: các kiểu quan hệ QL, các quyền hạn, các vấn đề
phân quyền và ủy quyền trong QL. Trong QL đội ngũ công chức hiện nay có năm loại hình
quan hệ QL, đó là: quan hệ chỉ huy - phục tùng, quan hệ chức năng, quan hệ tham mưu,
quan hệ hợp tác và quan hệ đại diện. Người QL cần lựa và sử dụng phối hợp các kiểu quan
hệ cho phù hợp với đối tượng và yêu cầu của cơ cấu tổ chức, của công việc cụ thể thì quá
trình QL mới có hiệu quả tốt.
Công tác nhân sự là một khâu trong công tác quản lý con người thể hiện ở tuyển dụng,
lựa chọn cán bộ cho bộ máy theo phương châm “đúng người, đúng việc”, áp dụng đúng chế
độ chính sách đối với người lao động, biểu hiện cụ thể ở hoạch định, tuyển chọn, đánh giá
cán bộ, duy trì, phát triển, sử dụng nhân sự và cán bộ. Tạo điều kiện cho tài nguyên nhân sự
phát triển thông qua cơ cấu tổ chức nhằm đạt tốt hơn mục tiêu của tổ chức.
Tổ chức công việc khoa học theo trình tự từ công việc tới các bộ phận trong cơ quan.
Tổ chức lao động theo khoa học là thực hiện công việc sao cho đạt năng suất cao, đồng thời
bảo vệ sức khỏe, tạo ra niềm vui, cảm giác hạnh phúc, sự hứng thú cho con người trong lao
thực hiện ở mức độ nào, chất lượng công việc như thế nào, công việc đang thực hiện đến