HỘI THẢO CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI
VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ NĂM 2012
BÁO CÁO
Chuyên đề bồi dưỡng học sinh giỏi môn Ngữ văn
Tên chuyên đề: Rèn kỹ năng cảm thụ đối sánh cho
học sinh giỏi bằng lối đọc giả định
Tên tác giả: Nguyễn Thị Hương Thuỷ
Đơn vị: Trường THPT Chu Văn An, Hà Nội
Mở đầu:
Về lý thuyết, khả năng cảm thụ văn học luôn là thước đo quan trọng để tạo lập khái
niệm “học sinh giỏi” Văn. Nhưng điều đó hình như không còn ý nghĩa nữa khi các lò luyện
thi và công nghệ luyện thi đã đào tạo ra những thợ viết văn có thể viết trơn tru một bài văn
nghị luận mà không hề có cảm xúc với những gì mình viết. Hậu quả của điều này đương
nhiên là: với số đông học sinh, môn Văn – theo cách nói cực kì sâu sắc của Hegel-vẫn đang
còn là “một cái gì mà ngoài nó ra mới là tất cả đời sống và tất cả vũ trụ”. Cho nên, học và làm
văn trong con mắt của không ít học sinh, mới trở thành công việc nói và viết những gì vốn
không có ở các em, vốn đi lạc tận đâu ở bên ngoài suy nghĩ và kinh nghiệm thật, tình cảm và
ước mơ thật của các em, môn văn, nói như các em, trở thành “nghệ thuật chém gió”. Ngay cả
với các kì thi HSG môn Văn, phải nói thẳng rằng rất hiếm các bài văn độc đáo và chân thật.
Họa chăng nếu có khái niệm độc đáo, là độc đáo theo từng lò thầy dạy. Tất cả những điều này
là do chúng ta đã “giết chết” chức năng bạn đọc của thầy và trò trước các tác phẩm văn học,
và đương nhiên là phủ nhận vai trò của năng lực cảm thụ cá nhân.
Tiếp nhận thẩm mỹ là một dạng thức hoạt động thẩm mỹ, được thể hiện ở việc tiếp
nhận (thưởng thức, cảm thụ) tác phẩm nghệ thuật với tư cách một giá trị thẩm mỹ; sự tiếp
nhận này luôn luôn đi kèm với sự nảy sinh tình cảm (trải nghiệm) thẩm mỹ. Tiếp nhận thẩm
mỹ không phải sự tái hiện đơn giản tác phẩm nghệ thuật trong ý thức, mà là một quá trình
phức tạp: quá trình cùng tham dự và cùng sáng tạo của chủ thể tiếp nhận. Khác với hoạt động
thẩm mỹ của người nghệ sĩ-người sáng tạo tác phẩm nghệ thuật, tiếp nhận thẩm mỹ không
mang tính công nghệ và nó vận hành theo hướng từ việc tiếp nhận kết quả (tác phẩm nghệ
thuật nói chung) đi đến tiếp nhận các ý tưởng chứa đựng trong đó… Có thể phân chia một số
Ấn tượng đầu tiên đến với người đọc là âm điệu của câu thơ, một âm điệu rất trúc trắc.
Điều đặc biệt ở chỗ, trong câu thơ “Chiều chiều oai linh thác gầm thét” có 5 thanh bằng, chỉ
có 2 thanh trắc, vậy mà chính 2 thanh trắc đó lại tạo nên điểm nhấn của câu thơ. Khi so sánh
với các câu thơ 7 chữ cổ điển, ta nhận ra rằng, tác giả đã phá vỡ qui tắc nhị, tứ, lục phân minh.
Mặt khác, việc sử dụng thanh sắc, thanh cao nhất trong sáu thanh cùng với việc lặp âm “th”
đã tạo nên một hiệu ứng thanh âm rất độc đáo: gắt, dữ dội của thác hiện lên trên cái nền uy
linh, hùng vĩ của rừng già.
Quay về thời trung đại, câu thơ của Hồ Xuân Hương: “Trơ cái hồng nhan với nước
non”, cụm từ “cái hồng nhan” vừa lạ vừa quen. Quen vì chữ “hồng nhan” xuất hiện nhiều
thậm chí trở thành một ám ảnh của văn học tài tử thế kỉ XVIII-XIX, lạ vì các nhà thơ khác gọi
là phận hồng nhan, kiếp hồng nhan, chỉ có Xuân Hương gọi một cách rẻ rúng đến thế, tê tái
đến thế, đau đớn đến thế: cái hồng nhan. Và chính cách gọi ấy mới tạo nên sự hòa điệu với
động từ “trơ”, vừa thể hiện tột cùng nỗi đau vừa vọt lên, trào lên một nỗi niềm bi phẫn mãnh
liệt của một con người dám “ngụp lặn” sâu vào nỗi đau của mình.
Xét 6 câu đầu của “Bài ca ngất ngưởng”, thoạt đầu tưởng như đây là ví dụ điển hình
của quan niệm “Văn dĩ tải đạo, thi dĩ ngôn chí” với tuyên ngôn “Vũ trụ nội mạc phi phận sự”,
nhưng hóa ra không phải vậy. Trong xã hội phong kiến, tuyên ngôn ấy nhấn mạnh trách
nhiệm, nghĩa vụ của con người. Khoác trên mình trách nhiệm lớn nhưng lại hướng đến một
thái độ sống khiêm nhường, luôn xấu hổ, tự thẹn khi đối diện với “người xưa”. Nguyễn Công
Trứ thì khác, hướng đến trách nhiệm, nghĩa vụ với đời là một cách để cậy tài, thị tài, khoe tài.
Vì thế, sau tuyên ngôn về trách nhiệm nho sĩ là một tuyên ngôn rất ngạo nghễ về bản thân
“Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng”. Thời đại ấy chỉ có ba người dám xưng tên: Nguyễn Du,
Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ; trong đó Nguyễn Công Trứ không chỉ xưng tên mà còn tự
gọi mình là “ông” mà “ông Hi Văn” lại còn đi kèm với cụm từ “tài bộ” tức là tài năng đã trở
thành bộ dạng phong cách. Và sẽ chỉ hiểu về tuyên ngôn ngạo nghễ ấy khi biết rằng phong
cách “ngất ngưởng” ấy không phải chỉ đến khi “công thành danh toại” mới xuất hiện mà đã
được tiên đoán từ thủa Nguyễn Công Trứ chỉ là một anh chàng bạch diện thư sinh:
“Thiên sinh ngô, địa tải ngô
Thiên địa sinh ngô nguyên hữu ý
Dã thị giang sơn chung tú khí
cuộc đời với những khoảnh khắc diệu kì đó đã là tất cả, đâu có nhất thiết phải tranh giành
chiếm đoạt nó, vì thế giấc ngủ của Liên mới được miêu tả thanh thản đến như thế: rồi sau
Liên ngập vào giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng
tối. Thoạt đầu, ta dễ dàng nhận thấy luồng ý kiến thứ nhất là đáp án chính xác, và thực ra bấy
lâu này khi nghĩ về “Hai đứa trẻ”, ta thường bằng lòng với cách hiểu này. Nhưng chính luồng
ý kiến thứ hai lại khiến cho ta phải giật mình vì nhận ra, hình như đây là một chủ đề tiềm ẩn
của tác phẩm này. Khi hỏi vì sao lại có được kết luận như thế, các HS đã phân tích tác phẩm
theo một cấu trúc để chứng minh một cách thuyết phục rằng: câu chuyện của Thạch lam quả
thực là bản tình ca của cuộc sống thường nhật. Vẽ nên một bức tranh phố huyện nghèo và
buồn, Thạch Lam không hẳn đã dựng nên một bức tranh hiện thực điển hình mà dường như
ông chỉ muốn chỉ ra rằng: cuộc đời sẽ luôn thế, tránh làm sao được cái đìu hiu quanh quẩn của
cõi đời, nhưng ta đâu chỉ sống phụ thuộc vào cái náo nức của cuộc đời, tự lòng ta có thể tấu
lên một giai điệu tinh tế của riêng mình nếu biết sống trọn ven với từng khoảnh khắc. Liên và
An là một tâm hồn tinh tế nhạy cảm như thế. Hà Nội là một miền kí ức tuyệt diệu, nhưng phố
huyện cũng thân thương lắm chứ. Ánh sáng là một niềm khao khát, nhưng nếu không có bóng
đêm mà thạch Lam gọi một cách trìu mến là: đêm của đất quê và đồng ruộng mênh mang làm
sao người ta biết quí, biết yêu một khe sáng, hột sáng, đốm sáng. Thạch Lam chợt cho ta thấy
rằng, dù gì, cuộc đời này cũng đáng yêu vô cùng…
Vậy là, đối sánh đâu chỉ là thao tác so sánh chi tiết của bài này với chi tiết của bài kia,
đối sánh còn đắc dụng trong tìm hiểu cấu trúc bề sâu của tác phẩm, đặt trong mối quan hệ với
phong cách tác giả và trào lưu thời đại. Có như thế, văn chương mới luôn hấp dẫn và mới mẻ.
Có như thế, khi tìm hiểu tác phẩm văn chương, HS mới đi đúng qui luật của quá trình tiếp
nhận thẩm mĩ: cùng tham dự sáng tạo với chủ thể tiếp nhận. Và chúng tôi gọi đó là kỹ năng
cảm thụ đối sánh bằng lối đọc giả định. Trong khuôn khổ một tham luận, chúng tôi xin gói
vấn đề trong việc đi vào đối sánh vài lối đọc giả định trong tác phẩm: Chữ người tử tù của
Nguyễn Tuân.
Trước khi đi vào bài viết, chúng tôi sẽ dừng lại ở một số khái niệm cơ bản. Trong một
giới hạn nào đó, có thể coi việc cảm thụ tác phẩm văn chương nói riêng, tác phẩm nghệ thuật
nói chung như là một quá trình đọc. Nói đó là một quá trình vì việc cảm thụ luôn đòi hỏi thời
gian, ngay cả đối với những ngành nghệ thuật mang tính không gian rõ rệt như điêu khắc hay
việc tác giả đã cắt bỏ những dòng cuối cùng của câu chuyện xin chữ để chỉ dừng lại ở câu nói
của Quản ngục “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh” đáp lại lời của Huấn Cao về việc gìn giữ thiên
lương. Việc thay đổi đó rõ ràng không đơn giản là việc cắt ngắn cho phù hợp với dung lượng
truyện ngắn mà còn nhằm tới một suy tư nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Bản thân sự thay đổi
này cũng cho thấy rằng nhà văn viết tác phẩm văn chương không bắt đầu từ những luận đề và
những kết luận mà người đọc cố gắng “hiểu”, mà bắt đầu từ cảm quan nghệ thuật của chính
họ. Chính sau đó “hình dáng” văn bản sẽ quyết định trở lại cho việc “rút ra” những kết luận, ý
nghĩa ở người đọc. Như vậy, người đọc sẽ là kẻ thụ động nếu chờ đợi những phán quyết do
tác giả đưa ra, và sẽ là người đọc chủ động nếu tự mình khám phá văn bản nghệ thuật chứ
không trông chờ ở những chỉ dẫn của nhà văn.
Thứ hai, ý nghĩa của sự thay đổi này càng rõ hơn nếu giáo viên hướng dẫn học sinh
chủ động thực hiện việc đối sánh hai kết thúc văn bản. Nếu như ở văn bản thứ nhất, kết thúc
chỉ ở việc “xin chữ thánh hiền”, thì trong văn bản thứ hai, kết thúc rõ ràng nhằm tới một đích
khác: gìn giữ thiên lương. Kết thúc ban đầu phù hợp với lối đọc thông thường có sự cân xứng
về mặt kết cấu giữa mở và kết. Kết thúc thứ hai, mà học sinh tiếp xúc, tạo ra một sự đổi
hướng hoàn toàn bất ngờ cho thấy câu chuyện không chỉ dừng ở việc xin chữ. Chữ không còn
ý nghĩa. Nó chỉ còn là hình xác. Điều mà ông Huấn nhắn gửi, để lại cho Quản ngục không
phải chỉ là chữ. Chính bản thân Quản ngục cũng ngộ ra một điều quan trọng hơn rất nhiều:
chữ thánh hiền không phải là tất cả. Cái “bóng” của chữ còn có ý nghĩa hơn rất nhiều. Câu
chuyện về mối quan hệ giữa hình với bóng, giữa xác và hồn trở thành chủ đề chính của văn
bản nghệ thuật. Hãy bắt đầu từ câu hỏi khi đọc xong cái kết:
Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chỗ ở đi. Chỗ này không phải là nơi để
treo một bức lụa trắng trẻo với những nét chữ vuông vắn rõ ràng như thế. Thoi mực kiếm
được ở đâu tốt và thơm lắm. Thầy có thấy mùi thơm ở chậu mực bốc lên không? Ta bảo
thực đấy, thầy Quản nên tìm về quê mà ở đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ
thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi.
Những câu này kể lại lời khuyên của nhân vật Huấn Cao – kẻ tử tù – sau khi cho chữ
viên Quản ngục vào đêm trước ngày ra pháp trường. Cảnh khắc lại một ấn tượng khó quên
cho người đọc. Bởi tình huống đặc biệt của nó, bởi vị trí của nó trong văn bản câu chuyện. Nó
khiến người ta quên đi rất nhiều thứ khác của câu chuyện, mà trước hết có thể là một câu hỏi
Tuân đã để Huấn Cao bước vào câu chuyện bằng việc tỏa bóng tài hoa nghệ sĩ của mình vào
không gian tù ngục và thật bất ngờ, từ không gian của bóng tối đó ánh lên những bóng hình
bấy lâu nay chìm lấp trong bóng đêm. Cho nên câu chuyện này bất thường ngay từ cuộc nói
chuyện tưởng như chỉ đơn giản ở góc độ “công việc” của những kẻ coi tù. Trong lời nói của
quản ngục về tên tử tù Huấn Cao, có 2 lớp giọng điệu: lớp giọng điệu công vụ với việc tiếp
nhận một kẻ tử tù và sự ngợi ca thán phục đầy trìu mến không thể che dấu được với một
người nghệ sĩ.
Sắp xếp một cách mở đầu câu chuyện như thế, Nguyễn Tuân đã thực sự tạo nên một
sự hắt bóng kì diệu: sự xuất hiện đột ngột của người tử tù-nghệ sĩ Huấn Cao đã làm cho viên
quản ngục tỏa bóng: ông ta trong đêm một mình một bóng đó đã có một hành trình vượt
ngưỡng để tìm lại con người thật của chính mình. Từ một con người sống với không gian tù
ngục đã quá nửa đời người, đầu đã điểm hoa râm, râu đã ngả màu, con người như đã bị đông
cứng lại, trở thành kiểu con người công cụ, một thứ con rối, thành một thói quen sống trong
bóng tối trở thành một con người có tâm điền tốt và thẳng thắn, con người như một thanh âm
trong trẻo chen vào giữa một bản đàn mà nhạc luật đều xô bồ hỗn loạn. Điều đó hướng chúng
ta đến một cái nhìn phát hiện khác: con người không đơn giản, một chiều. Nó có hình (quản
ngục hiện hữu trong nhà ngục là coi ngục, Huấn Cao là kẻ tử tù), nó còn có bóng (quản ngục
là kẻ liên tài, Huấn Cao là kẻ tài hoa); nó vừa tồn tại trong không gian quen thuộc định kiến,
vừa tồn tại trong một không gian tinh thần vượt lên trên. Và không gian tinh thần ấy đôi khi
có những qui luật riêng của nó. Quản ngục đã lặng lẽ thực hiện một hành trình tinh thần: hành
trình hướng về cái đẹp, hướng đến cái đẹp, cái hành trình ấy tuy thầm lặng mà cũng rất quyết
liệt: quyết liệt vì sự níu kéo của thói quen là rất đáng sợ, dai dẳng khiến con người thường
ngại thay đổi. Quyết liệt cũng vì nhân vật dám đối chọi với qui luật tàn nhẫn của cái đời
thường đôi khi tàn nhẫn (Huấn Cao bị ném vào ngục tưởng như là sự đắc thắng của cái thô
kệch với cái đẹp, cái cao cả. Người phi thường như Huấn Cao còn thế, vậy mà quản ngục lại
dám dấn thân vào cuộc hành trình đầy nguy hiểm để đến bằng được cái đẹp).
Chúng tôi sử dụng cách so sánh hình ảnh “ngọn đèn hắt bóng” khi dựa vào một đối
sánh với một “tiền giả định” khác ở cấp độ cao hơn: tập truyện của Nguyễn. Cảnh cho chữ rất
“lãng mạn” kia với những chi tiết tương phản gay gắt làm nổi bật hai bóng hình quản ngục và
thư lại gợi lại chuyện của bóng với hình trong đoạn miêu tả sau:
tâm” trước một chuyện kinh khủng sắp diễn ra ở cái nhà lao hang huyện nhỏ bé: nhận tử tù.
Người ta chờ đợi sự u ám với những nhân vật khó mà có thiện cảm trong một không gian tù
hãm, thấp hèn, chật hẹp. Thế mà bỗng nhiên: “Tôi nghe ngờ ngợ. Huấn Cao”. Chúng ta gặp
hai câu đơn, ngắn – không có chút giọng điệu đời thường nào cả - để làm thành bước ngoặt
tâm lý (thực ra là nguyên phiến) khắc họa đặc điểm hai nhân vật: quản ngục và “cái bóng”
Huấn Cao. Đó là người có “tài viết chữ rất nhanh và rất đẹp”. Đó còn là sự ngưỡng mộ “ca
tụng”, là thái độ rất tự hào kiểu vơ vào của Quản ngục: “người tỉnh Sơn ta”. Vị thế người tử tù
đứng kề vị thế con người tài hoa. Trong nhân vật quản ngục thế là cũng xuất hiện hai con
người mà kẻ xuất hiện sau, hình như vốn vẫn ẩn náu, giờ hiện ra rõ rệt: kẻ biết ngưỡng mộ sự
tài hoa. Thậm chí dường chỉ còn hai hình ảnh trong câu chuyện : kẻ tài hoa họ Huấn và sự
ngưỡng mộ của Quản ngục không tên. Kẻ đến sau chính là cái bóng của kẻ vẫn tồn tại, nó
thường bị thân phận con người và đẳng cấp che lấp đến mức không có lấy cả tên họ cụ thể. Xã
hội không hề biết đến họ. Những cái bóng đó giờ đây được ánh sáng lời kể chiếu hắt lên
những nan giấy đèn kéo quân của câu chuyện.
Quản ngục, con người vốn thuộc về chốn bùn lầy đầy bẩn thỉu, nơi thấp kém của xã
hội theo mọi định kiến, nơi không gian thấp hèn, lại biết đến Huấn Cao trước hết không phải
như là kẻ phản loạn triều đình mà như là kẻ tài hoa. Hơn thế nữa, đó còn là thái độ của người
biết ngưỡng mộ, và liên tài. Và dám biệt tài. Con mắt xanh của quản ngục, khác hẳn người
đời chứ không chỉ so với những kẻ trong tù, đã nhìn kẻ tử tù Huấn Cao ở giá trị tinh thần chứ
không ở thân phận xã hội, thấy Huấn Cao ở góc nhìn tài hoa chứ không ở góc nhìn luân lý của
đám hương nguyện. Trong cái xã hội vang bóng, và bất cứ đâu cũng thế, thân phận luôn được
định đoạt bằng định kiến xã hội, bằng cái hình hài cụ thể chứ không phải bằng cái tinh thần,
bằng cái bóng lấp lánh đằng sau. Thế mà Quản ngục vì tình liên tài đã dám vượt khỏi không
gian tầm thường, chật hẹp không chỉ của ngục tù mà của cả xã hội để cảm thông, chia sẻ, và
hành động với Huấn Cao. Câu buột mồm – mà người kể lộ liễu nhắc lại - đã nâng Quản ngục
lên ngang tầm Huấn Cao. Kẻ có tài là đáng ngưỡng mộ, kẻ biệt nhỡn liên tài cũng đâu có
mấy!
Vậy là sự soi chiếu giữa hai nhân vật quản ngục và Huấn Cao như hình với bóng xuất
hiện ở ngay câu đối thoại mở đầu tác phẩm. Hình ở đây là sự hiện hữu cụ thể, là sự xuất hiện
bằng xương bằng thịt của Quản ngục. Ông ta nhắc đến Huấn Cao, bóng dáng kẻ chưa có mặt.
đó của ông ta đã tạo ra sức năng động của câu chuyện này. Không có khát vọng vượt thoát
của ông ta, Huấn Cao trong không gian nhà ngục tăm tối kia mãi chỉ là một kẻ tử tù. Chính
tấm lòng liên tài của quản ngục đã rọi sáng một vẻ đẹp huyền thoại.
Nhưng, câu chuyện về Huấn Cao lại mở đầu bằng nói về quản ngục mục đích lại
không dừng ở quản ngục. Đó là để xác lập một hệ thống các quan hệ cho một tình huống vừa
quen thuộc, vừa bất ngờ:
nhà tù - nghệ thuật
cái đẹp – sự hủy diệt
vị thế xã hội - thế giới tinh thần
hiện hữu - sinh khí
hình - bóng
=> Xét về nhân vật: sự hiện hữu của quản ngục soi tỏ bóng hình của người nghệ sĩ
Huấn Cao, và bóng hình ấy lại tỏa rạng để tái sinh con người liên tài của chính quản ngục.
Xét về chủ đề: cái đẹp mong manh nhưng có sức lan tỏa mãnh liệt, cho nên nhan đề
của tác phẩm lúc đầu là “Dòng Chữ cuối cùng” sau đổi là “Chữ người tử tù”. Một nhan đề chỉ
gợi đến cái đẹp hình xác, hiện hữu, và vì thế chỉ thuộc về một thời. Một nhan đề nhắc tới cái
đẹp dù bị đặt trong thế hủy diệt vẫn có sức vang vọng, khơi gợi. Với nhân vật quản ngục,
chính nét đẹp đó đã tạo nên một sự xúc động, một sự thanh lọc tâm hồn để nhân vật tìm lại
phẩm giá, khí chất của chính mình
Xét về đề tài: câu chuyện về kẻ tử tù, bị ném vào ngục thất thì chỉ có thể gợi đến sự kết
thúc, cảnh đường cùng. Thế nhưng với sức vang vọng mãnh liệt của cái đẹp, đó lại chính là sự
khởi đầu cho những cuộc hành trình tìm kiếm giá trị của cái đẹp của những kẻ liên tài, và thị
tài. Hành trình đó chắc chắn không giản đơn bởi ở góc độ tinh thần, nơi cái bóng, không gian
trên cao, hai kẻ đó rất tri kỉ với nhau. Họ hút lẫn nhau; nhưng ở góc độ vị thế xã hội, nơi hình
xác, chốn tù ngục, họ rất khác nhau, họ đẩy nhau, đối lập nhau. Đó chính là sức hấp dẫn của
tình huống câu chuyện để cuối cùng sẽ tạo nên một cảnh tượng xưa nay chưa từng có bao giờ.
Cứ thế có thể tin rằng Chữ mà Huấn Cao viết rốt cục chỉ là hình xác; cái bóng của nó mới
bao trùm tất cả câu chuyện, trùm lên toàn bộ phần kết của tác phẩm, ở tình huống cho chữ.
Cái bóng đó được nhắc đến qua lời của Huấn Cao khi chia sẻ với Quản ngục. Chữ là thân xác,
Bóng là tinh hoa. Vì thế Nguyễn không dụng công vào việc tả bóng; tả sao được khi nó gắn
công đó trước hết hiện ra ở tiêu đề ngắn, thuần Việt giống như Nguyễn Tuân vẫn làm với tất
cả các tác phẩm khác của mình. Ngay cả cái tiêu đề tập truyện cũng thuần Việt dù nó gốc
Hán. Sau này ông viết ký “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”, tiêu đề tưởng không có gì nôm na hơn.
Và rất chặt, rất gợi như cái tên từng vang bóng một thời. Như những người có chữ, ông tìm
đến sự thách thức ở việc dùng tiếng mẹ đẻ chứ không thuần túy ở sự phô chữ “rất đẹp”. Cho
nên trong tiêu đề, chữ hướng đến thánh hiền, tâm linh, thiêng liêng, hoài cổ được đặt trong
một tình thế không gì éo le hơn của người tử tù, - kẻ tội đồ đang ở ngưỡng cái chết. Cảm quan
lãng mạn ở đây luôn đẩy mọi thứ tương phản tới điểm ngưỡng. Đó cũng là cái ngưỡng của trò
chơi hình với bóng.
Kết luận:
Sử dụng biện pháp đối sánh các cách đọc giả định, chúng ta đã nhấn mạnh đến tính
năng động của chính cảm xúc người đọc thời hiện đại - ở đây là học sinh giỏi Văn - trước
những văn bản kinh điển. Học sinh một mặt vừa được hấp thụ những tri thức chuẩn mực, vừa
được phép tự mình phát hiện những vấn đề mới dựa trên cảm xúc cá nhân của chính mình.
Tuy nhiên, cảm xúc đó phải được đặt một cách có ý thức và có phương pháp trong cái nhìn
mang tính chỉnh thể của tác phẩm văn chương: thi pháp tác giả, tác phẩm, thể loại, đặc trưng
văn học sử Chẳng hạn sử dụng việc đối sánh cách đọc giả định khi giảng dạy tác phẩm
Chiếc thuyền ngoài xa, chúng tôi nhận ra cách nhìn khác của học sinh ngày nay đối với nhân
vật người đàn bà bị hàng chài trong văn bản của Nguyễn Minh Châu. Khi chúng tôi đang
giảng về vẻ đẹp khuất lấp của nhân vật, đặc biệt đề cao khát vọng sống gắn với sự hi sinh độ
lượng, đã có học sinh phát biểu: người đàn bà ấy đã nhìn gã đàn ông vũ phu kia giống như
một vẻ đẹp tuyệt đích, cái nhìn phiến diện ấy đã khiến mụ bao dung đến mức dung túng cho
gã. Giá mụ phản ứng lại. Giá mụ đừng “đón ý” gã như thế, chưa chắc gã đã trở thành một con
người như vậy. Hóa ra, cái nhìn phiến diện, dù ở góc độ nào đều đáng sợ, đều hàm chứa
những nguy cơ lầm lỡ và bi kịch Và đương nhiên, chúng tôi thấy cách đọc này không phải
không có lý. Hẳn nhiên không thể đòi hỏi tác giả nghĩ đến “tinh thần nữ quyền” khi viết
truyện ngắn này những năm tám mươi, nhưng học sinh ngày nay hoàn toàn có quyền được
xem xét và lý giải hình tượng nhân vật nữ này trong tinh thần hiện đại thế kỷ XXI. Dĩ nhiên,
học sinh phải chú ý đến những đặc trưng thể loại và thể tài văn bản. Như nhà văn Calvino
(Italia) đã nói, một tác phẩm kinh điển chỉ có thể tiếp tục sống thực sự khi nó đặt ra những