TÊN ĐỀ TÀI:
"GÓP CÁCH DẠY MỘT CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI
MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS: ĐỀ MỞ VÀ CÁCH LÀM BÀI VĂN THEO
MỘT SỐ DẠNG ĐỀ MỞ"
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Những năm qua, giáo dục nói chung, môn Ngữ văn nói riêng đã từng bước
thực sự đi vào sự đổi mới về mọi mặt. Vì vậy, Ngữ văn đã góp một phần rất lớn
vào mục tiêu đào tạo. Một trong những nội dung đổi mới hàng đầu phải kể đến đó
là đổi mới kiểm tra đánh giá. Và có thể khẳng định, biểu hiện rõ nhất, đáng ghi
nhận nhất ở người chỉ đạo cho đến người thực hiện, ở người dạy cũng như người
học trong khâu kiểm tra đánh giá chính là những đề bài và những bài văn theo
hướng mở.
Trong chương trình Ngữ văn THCS hiện nay, thống kê sơ bộ có đến khoảng
50 đề ra là đề mở. Con số đó quả là không nhỏ để cả giáo viên và học sinh từ việc
dạy học đại trà cho đến học sinh giỏi đều phải lưu tâm.
Theo dõi đề thi của các nước trên thế giới cũng như đề thi HSG các cấp của
nước ta mấy năm qua, chúng ta thấy càng ngày lượng đề thi theo hướng mở càng
nhiều, càng hay. Học sinh đã dần quen với dạng đề này và đã tạo nên những bài
văn rất thuyết phục.
Tài liệu tập huấn giáo viên "Dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức,
kỹ năng trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn cấp THCS" của Bộ
GD & ĐT tháng 7 năm 2010 trang 73 đánh giá :"Phong trào đổi mới cách ra đề thi
theo hướng mở, phát huy tính tích cực của học sinh đã dấy lên ở nhiều địa phương
và đã thu được những thành tựu đáng kể". Bộ cũng chỉ đạo "Trong quá trình dạy
học cần đổi mới kiểm tra, đánh giá bằng cách nêu vấn đề mở, đòi hỏi học sinh phải
vận dụng tổng hợp kiến thức - kỹ năng và biểu đạt chính kiến của bản thân".
Như vậy, lượng đề mở trong SGK, tinh thần chỉ đạo, thực tiễn đề thi đại trà
cho đến thi học sinh giỏi các cấp, đề mở ngày càng nhiều, càng cần phải có. Điều
đó đã khẳng định vị trí quan trọng của đề mở, cách dạy đề mở để phục vụ cho thực
tiễn dạy học và mục tiêu đào tạo.
thúc dục tôi thực hiện viết SKKN này. Dẫu biết rằng kết quả đội tuyển đi lên còn
do nhiều lý do, do công của nhiều người hỗ trợ nhưng dù sao bản thân tôi và việc
đổi mới cách dạy, cách học trong đó liên quan đến chuyên đề ở SK này là không
thể phủ nhận.
Thế nhưng trong thực tiễn, làm sao để có một quan niệm, một khái niệm đầy
đủ thuyết phục về đề mở, về các dạng đề mở, làm sao để có một giáo án cụ thể về
những cách làm cụ thể cho từng dạng đề mở, tạo điều kiện cho người dạy và người
học thực hiện mục đích, yêu cầu. Đó là mong muốn của những người trực tiếp bồi
dưỡng học sinh giỏi.Thế mà có thể khẳng định chưa có một bài viết, SKKN nào đề
cập cụ thể, triệt để vấn đề. Tài liệu SGK không bàn cụ thể, cuộc thi ra đề và làm
bài theo hướng mở ở tạp chí " Văn học và tuổi trẻ", một số bài viết liên quan trên
tạp chí, trong thông tin mạng chúng tôi luôn để ý, theo dõi nhưng đều ở mức độ vỡ
vạc, sơ lược, chung chung, giáo viên và học sinh mò mẫm, chủ quan làm mà chưa
có một định hướng cụ thể nào cả.
Năm học 2013 - 2014, nắm bắt tầm quan trọng cũng như mức độ cần thiết
của vấn đề, là một trường chất lượng cao của huyện, Ban giám hiệu, tổ, nhóm
chuyên môn trong trường chúng tôi cũng đã coi đây là vấn đề mới - khó - hay, cần
2
thiết cho việc bồi dưỡng học sinh giỏi nên đã thảo luận, thống nhất, thể nghiệm…
Nhà trường, tổ, nhóm đã tin tưởng và tạo điều kiện phân công tôi dạy chuyên đề
này cho đội tuyển HSG tỉnh lớp 9. Sau khi lắng nghe học hỏi đồng nghiệp, vừa kết
hợp trí tuệ tập thể vừa có sự sáng tạo, bổ sung, dày công tìm hiểu, thể nghiệm của
bản thân liên tục mấy năm qua cũng như trong năm học này, kết quả bước đầu
chúng tôi thấy tương đối khả quan.
Từ đó, nhằm giúp đồng nghiệp gần xa thêm một chuyên đề bồi dưỡng HSG,
để khắc phục những khó khăn, vướng mắc trên, nhằm đưa ra một giải pháp cụ thể
để giáo viên, học sinh có thể áp dụng ngay vào dạy học, tôi mạnh dạn viết sáng
kiến kinh nghiệm: "Góp cách dạy một chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Ngữ văn
bậc THCS: Đề mở và cách làm bài văn theo một số dạng đề mở".
II. NHỮNG BIỆN PHÁP HOẠT ĐỘNG ĐỂ THỰC HIỆN SKKN
III. Giáo án minh họa cụ thể
Người viết soạn 5 giáo án cho 5 buổi lên lớp bồi dưỡng HSG đầy đủ các phần
cụ thể với chuyên đề: Đề mở và cách làm bài văn theo một số dạng đề mở.
IV. Một số đề mở và bài làm của học sinh
Người viết ghi lại một số đề mở do bản thân tự biên soạn là chính và những
bài làm của học sinh đội tuyển tỉnh ở huyện tôi những năm qua tôi còn lưu giữ.
V. Kết quả: Đưa ra một số kết quả chứng tỏ hiệu quả của vấn đề sau khi áp
dụng đề tài
VI. Khả năng ứng dụng, triển khai của SKKN.
Phần C. Kết luận chung
Là lời kết luận của đề tài và những kiến nghị, đề xuất của người viết.
4
B. NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG VỀ “ĐỀ MỞ, CÁCH LÀM ĐỀ MỞ”.
1, Thực trạng về đề mở trong chương trình: Chương trình Ngữ văn THCS
từ khi đổi mới đến nay, bên cạnh đề truyền thống, thống kê ở các khối lớp qua
sách giáo khoa đều có đề mở và có nhiều hơn ở lớp 9. Cụ thể là :
Lớp 6:
Đề 1: Kỷ niệm ngày thơ ấu.
Đề 2: Ngày sinh nhật của em.
Đề 3: Quê em đổi mới.
Đề 4: Em đã lớn rồi.
(Bài 4 - Trang 37)
Lớp 7:
Đề 1: Vui buồn tuổi thơ.
Đê 2: Loài cây em yêu.
(Bài 6, trang 88)
Đề 3: Lối sống giản dị của Bác Hồ.
Đề 4: Tiếng Việt giàu đẹp.
Đề 5: Thuốc đắng giã tật.
trên lưng mẹ" của Nguyễn Khoa Điềm. (Bài 15, trang 46)
Đề 7: Đạo lí "Uống nước nhớ nguồn".
Đề 8: Đức tính khiêm nhường.
Đề 9: Có chí thì nên.
Đề 10: Đức tính trung thực.
Đề 11: Tinh thần tự học.
Đề 12: Hút thuốc lá có hại.
Đề 13: Lòng biết ơn thầy cô giáo. (Bài 22, trang 52)
Đề 14: Hình tượng người chiến sĩ lái xe trong bài "Bài thơ về tiểu đội xe
không kính" của Phạm Tiến Duật (Bài 24, trang 79)
Đề 15: Những đặc sắc trong bài thơ "Viếng lăng Bác" của Viễn Phương. (Bài
24, trang 80)
Đề 16: Số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn "Lão Hạc"
của Nam Cao.
Đề 17: Vẻ mộng mơ và ý nghĩa sâu sắc của bài thơ "Mây và Sóng" của Ta-go.
Đề 18: Bài thơ "Tức cảnh Pác Bó" của Hồ Chí Minh.
Đề 19: Hình ảnh "Bếp lửa" trong bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt
(Bài 26, trang 99)
6
Đề 20: Bếp lửa sưởi ấm một đời - Bàn về bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt.
(Bài 27, trang 112)
2, Đề mở, cách làm đề mở trong thi cử, báo chí, tài liệu
- Lượng đề thi theo hướng mở trong các kỳ thi nhất là thi học sinh giỏi ngày
càng chiếm ưu thế, gần như là 100%, đề nào cũng có một câu hoặc cả đề.
- Báo "Văn học và tuổi trẻ" từ ngày 1/4/2011 đến 30/8/2012, sau đó tiếp tục
phát động một thời gian nữa, đã tổ chức cuộc thi "Ra đề và viết văn theo hướng
mở" (Trao giải ngày 20/11/2012 ). Quy định nội dung thi như sau:
+ Giáo viên ra đề bài theo hướng mở. Đề bài chỉ nêu vấn đề cần bàn luận,
hoặc đề tài cần thể hiện. Mỗi đề dự thi có kèm theo đáp án hoặc gợi ý cách làm
được soạn theo hướng mở, định hướng một số cách giải quyết vấn đề hoặc triển
giáo sư về đề mở, đặc biệt là giáo sư đã chia nhóm đề mở thành 3 loại:
+ Đề cho đề tài.
+ Đề cho tài liệu.
+ Đề cho HS điền vào chỗ trống.
Mỗi loại đề, giáo sư đã đưa ra 1 số ví dụ và 1 vài định hướng cách làm. Cuối
bài viết là sự đánh giá ưu, nhược điểm; cái hay nhưng lại khó của đề mở đối với
người dạy và người học. Theo chúng tôi, đây là 1 bài viết rất quý giá, mang tính
định hướng tương đối sát thực cho GV HS. Vì vậy, chúng tôi đã vận dụng ý kiến
của Giáo sư khi dạy HS chia dạng và 1 số định hướng cách làm. Tuy nhiên, bài
viết cũng chưa nêu rõ khái niệm đề mở, cách làm cụ thể từng dạng. Vì thế, SKKN
của chúng tôi sẽ trình bày thêm để khắc phục điều đó.
- Sau bài viết của Giáo sư, tạp chí có nhắn nhủ "Mời các bạn tiếp tục tham gia
viết bài trao đổi về vấn đề "Đề mở trong dạy - học làm văn". Hưởng ứng điều đó,
trong tạp chí "VH và TT" số 23 (255) năm 2012 trang 25 có bài viết của thạc sĩ Bùi
Minh Tuấn, Giáo viên trường THPT Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An với
tên bài "Nên khuyến khích dạng đề mở". Bài viết cũng trao đổi về tình hình dạy
học đề mở, ưu điểm của đề mở, một số yêu cầu định hướng khi ra đề, làm đáp án,
viết bài theo đề mở. Bài viết ngắn không đầy một trang đánh máy cũng đang ở
mức sơ lược nên chưa giúp được gì nhiều cho thực tiễn dạy học.
- Rà soát, tìm kiếm trên mạng về những bài liên quan đến vấn đề, lượng bài
tham gia đang chưa được nhiều và cũng chưa cụ thể như mong muốn. Cũng có một
số bài đã hé mở khái niệm về đề mở như bài viết của một giáo viên trường THCS
Nam Cao, tỉnh Hà Nam hay bài viết của Hùng Phi Chường, Giáo viên trường
THCS Đức Trí, Thành phố Hồ Chí Minh. Các ý kiến phát biểu: "Đề bài mở là một
đề bài không có mệnh lệnh đề cụ thể mà người viết phải tự xác định nội dung, yêu
cầu và thể loại để làm bài". Quan niệm đó theo chúng tôi là gần đúng chứ chưa
đúng, chưa đủ.
- Trong thực tế dạy học, thi cử, giáo viên và học sinh nói chung và nhất là
giáo viên và học sinh tham gia công tác học sinh giỏi, tất cả hầu như đã quan tâm,
thậm chí rất chú trọng vấn đề này. Riêng ở tỉnh Nghệ An trong kỳ thi giáo viên dạy
vụ của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi để dạy về đề mở tự tin, đúng tinh thần
chỉ đạo.
- Chuẩn bị tốt những tài liệu liên quan đến đề mở, nghiên cứu chúng nhằm
phục vụ tốt nhất cho việc dạy học. Tài liệu nên tinh lọc, cập nhật. Trước những tài
liệu liên quan mà mình đã dày công sưu tập, chọn và làm những gì để phục vụ tốt
nhất cho dạy , học về đề mở cũng là cả một vấn đề. Ví dụ: với dạng đề cho tài liệu
là những mẩu chuyện, nguồn tìm kiếm những chuyện đó là ở nguồn in tơ nét, ở
SGK, tư liệu tham khảo môn Ngữ văn, ở các sách " Quà tặng cuộc sống", ở truyện
cổ, ở tạp chí" Văn học và tuổi trẻ" Các chuyện được chọn để làm đề mở thường
ngắn, hay và giàu ý nghĩa, ẩn chứa trong đó những bài học đạo đức , những vấn đề
nhân sinh, những tư tưởng, Nên hướng dẫn chc sinh nên mua tài liệu nào và
cách dùng. Theo chúng tôi, nên có những tài liệu sau:
+ Tạp chí "Văn học và tuổi trẻ" (Các tập từ 2008 đến nay)
+ Sách "Tuyển tập đề bài và bài văn theo hướng mở" (2 tập) do Thân Phương
Thu tuyển chọn, NXB Giáo dục Việt Nam năm 2012(tập 1), năm 2013(tập 2).
+ Sách "Tuyển tập đề thi Olympic lần thứ XVIII 2012 môn Ngữ Văn" của nhà
xuất bản Đại học sư phạm.
+ Sách "Tuyển tập đề bài và bài văn Nghị luận xã hội" (2 tập) do Nguyễn Văn
Tùng và Thân Phương Thu tuyển chọn của NXB GD Việt Nam.
9
- Suy nghĩ, nắm được những kiến thức liên quan đến vấn đề một cách tối ưu
nhất. Với chuyên đề này, làm được điều này cũng không phải đơn giản. Bởi vì như
phần thực trạng tôi đã trao đổi, đây vẫn đang là một vấn đề mới và khó, vì vậy tài
liệu đề cập đang chưa nhiều và chưa cụ thể, thống nhất. Nhưng theo chúng tôi, cần
thống nhất quan niệm về đề mở, chia dạng đề mở, xác định được ưu nhược của đề
mở và cách làm đáp án theo hướng mở, kiến thức về cách làm từng dạng cụ thể.
Trước hết chúng tôi xin trao đổi về khái niệm đề mở . Một số ý kiến đã phát biểu
về vấn đề này nhưng họ quan niệm chủ yếu rằng đề mở là đề không có mệnh lệnh.
Trong kỳ thi Giáo viên giỏi tỉnh Nghệ An, đáp án cho câu hỏi thế nào là đề mở
cũng không nêu cụ thể. Để thống nhất về vấn đề này, chúng ta cùng tham khảo một
- Bắc Kinh: Viết một bài với tiêu đề: " Một nét chấm phá về Bắc Kinh".
- Tỉnh Triết Giang: " Cuộc sống cần nghỉ ngơi, cuộc sống không ngơi nghỉ".
Em có suy nghĩ gì về vấn đề này?
- Thượng Hải: Chủ đề: Tôi muốn nắm chặt tay bạn.
- Tỉnh Giang Tô: Lỗ Tấn nói: " Trước kia thế giới vốn không có đường,
người đi nhiều nên đã tạo ra đường. Cũng có người nói thế giới vốn ngay từ đầu đã
có đường, người đi nhiều nên đường bị mất đi".
Lấy chủ đề con người và con đường để viết một bài khoảng 800 chữ.
- Tỉnh Quảng Đông: Một nhà điêu khắc đang khắc một tảng đá, bức tượng
vẫn chưa thành hình. Dần dần đôi vai đã lộ ra. Cuối cùng nhà điêu khắc đã tạc ra
tượng một thiên sứ xinh đẹp. Một bé gái nhìn thấy liền hỏi: Làm sao ông biết trong
tảng đá có dấu thiên sứ ? Nhà điêu khắc nói: Trong đá vốn không có thiên sứ
nhưng ta đã dồn hết tâm trí để tạc.
Lấy thiên sứ trong lòng nhà điêu khắc làm chủ đề để viết một bài dài khoảng
800 chữ.
- Tỉnh Tứ Xuyên: Trong cuộc sống, có rất nhiều câu hỏi, có người ham hỏi, có
người ngại hỏi. Hãy lấy " Hỏi" làm chủ đề viết bài không dưới 800 chữ.
- Tỉnh Giang Tây: Có con chim yến nọ sau khi ấp trứng trở nên rất béo không
bay cao lên được. Mẹ của chim yến khuyên nó nên tăng cường tập luyện để giảm
béo, như thế mới có thể bay được cao.
Lấy" Chim én giảm béo" làm chủ đề, tự đặt chủ đề, viết bài.
- Tỉnh Sơn Đông: Có một câu chuyện ngụ ngôn: Đứng từ dưới đất nhìn lên
con người đều nhìn thấy sao trời lấp lánh sáng ngời, nhưng khi con người tiến gần
sao trời sẽ phát hiện ra rằng các ngôi sao cũng giống như trái đất- gồ ghề, không
bằng phẳng, xung quanh đầy bụi bặm".
Cảm nhận điều gì về vấn đề trên ?
- Tỉnh Trùng Khánh: Bước đi và dừng lại là hiện tượng thường gặp trong cuộc
sống. Nó đã giúp chúng ta suy nghĩ và liên tưởng về tự nhiên xã hội, lịch sử, nhân
sinh.
Lấy chủ đề" Bước đi và dừng lại"để viết một bài văn.
Chẳng hạn đề 10, biên độ mở khá rộng ở việc học sinh phải từ đó rút ra vấn
đề, chủ đề gì cần thiết, quan trọng nhất gợi ra từ tài liệu ấy, sau đó chọn phương
thức biểu đạt nghị luận hay biểu cảm, cũng có thể kết hợp cả nghị luận và biểu cảm
để viết bài.
Dạng 2: Đề không có mệnh lệnh. Ví dụ: Các đề 1,2,3,4,5,6,7,8
+ Cấu trúc: Chỉ có đối tượng, vấn đề
+ Đề không có mệnh lệnh thì biên độ mở rất rộng, không chỉ ở kiểu loại văn
bản và phương thức biểu đạt cần sử dụng mà còn ở cả nội dung, vấn đề cần đề cập
tới.
Ví dụ như với đề 1, học sinh vừa phải lựa chọn kiểu văn bản và phương thức
phù hợp nhất (ở đây là phương thức biểu cảm) vừa tự lựa chọn một loại cây nào đó
12
mình yêu thích nhất để biểu cảm (không bắt buộc là cây tre hay cây bưởi, cây
phượng )
* Lưu ý: trong hai dạng trên thì đề mở phần lớn là đề không có mệnh lệnh.
Nếu xét về nội dung, đề mở gồm 3 dạng cơ bản, với những đặc điểm riêng (theo ý
kiến của Giáo sư Trần Đình Sử).
*. Dạng 1. Đề cho đề tài:
Ví dụ: các đề 1,2,3,4,5,6,7,8
- Đề ra đã cho sẵn một đề tài, vấn đề dùng để viết, học sinh có thể cụ thể hoá
thành đề mục hay nhan đề của bài viết
- Biên độ mở là ở việc học sinh suy nghĩ, lựa chọn kiểu văn bản, phương thức
biểu đạt cần sử dụng hoặc nội dung, đề tài để làm bài một cách hợp lí, hiệu quả
Xem xét đề 4 (Viết lời tri ân đối với một tác giả văn học), ta thấy đề tài rất
“mở” nên học sinh chỉ cần chọn cho mình một tác giả văn học có tác phẩm, có
những quan điểm có ý nghĩa, giá trị đối với bản thân về hiểu biết hay về tâm hồn,
tình cảm, đạo đức lối sống để mà viết lời cảm ơn chân thành với tác giả đó (chẳng
hạn chọn Nam Cao, hay chọn Nguyễn Thành Long, ). Hình thức viết cũng rất mở:
Học sinh có thể viết bằng phương thức biểu đạt chính là biểu cảm hoặc có thể tự
sự, nghị luận, có thể bằng trang nhật ký, bức thư
hoà bình”; “môi trường sống được cải thiện tốt đẹp hơn”, hay “cuộc sống không
còn những trẻ em lang thang, nghèo khổ” hay thậm chí là “bố mẹ cho em được tự
lập” Từ đó chọn phương thức biểu đạt thường là biểu cảm và nghị luận để làm
bài.
Nếu xét về đối tượng, có thể chia làm 2 dạng lớn: Đề mở thuộc lĩnh vực xã
hội và đề mở thuộc lĩnh vực văn học.
Có nhiều cách chia vậy song cơ bản, có lẽ ta nên theo ý kiến của Trần Đình
Sử để tìm hiểu cách làm cụ thể. Tuy nhiên để các em hình dung rõ hơn cách làm
bài, trong mỗi dạng chúng ta sẽ tìm hiểu cách làm chung và cách làm một số dạng
nhỏ hơn. Sự phân chia cho khoa học về các dạng đề mở để từ đó có phương pháp
làm bài cho từng dạng cũng là một giải pháp cơ bản khi dạy chuyên đề này. Những
cách chia trên ( trừ cách chia theo 3 dạng lớn của Giáo sư Trần Đình Sử),từ các
dạng lớn đến các dạng cụ thể là do bản thân tôi đọc, nghiên cứu,mày mò , thể hiện
rõ ở phần giáo án cụ thể minh họa sau, những mong trao cho học sinh kỹ năng làm
bài cụ thể, tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng hơn khi tạo lập văn bản, mong quý
đồng nghiệp tham khảo, xem xét.
Về cách làm từng dạng cụ thể, chúng ta nên lấy ví dụ cụ thể về dạng đề,
hướng dẫn học sinh cách làm từng bước, rút ra ghi nhớ về cách làm chung, luyện
tập, viết nhiều đề cho từng dạng lớn, nhỏ. Phần này, tôi cũng xin bạn đọc tham
khảo ở từng giáo án cụ thể gồm 5 buổi phần" Giáo án minh họa" mục III của
SKKN. Có lẽ khác với nhiều SKKN khác, có thể phần giáo án minh họa, từng giáo
án cụ thể đã có một số người thiết kế, có các tài liệu tham khảo nếu có thêm gì
mới hoặc bổ sung , điều chỉnh thì người viết làm thêm. Còn với đề tài SKKN mà
tôi đang thực hiện, chủ quan tôi thấy là chưa ai thể hiện. Có thể có nhiều giáo viên
cũng có mày mò, tự mình dạy cho học sinh nhưng chưa thấy ai công bố trên các
phương tiện thông tin đại chúng, tôi cố tìm mà chưa gặp.Vì vậy, lên kế hoạch cho
từng buổi, thiết kế cụ thể từng bài cho giáo án 5 buổi của chuyên đề và kể cả hầu
hết các đề mở, bài làm minh họa của học sinh là công sức, tâm huyết của cá nhân
tôi, của học trò đội tuyển tỉnh tôi phụ trách mà các em đã tự làm, làm ngay sau khi
14
của dạng đề này.
+ Buổi 4: Cách làm dạng đề cho học sinh điền vào chỗ trống- đề bỏ ngỏ.
+ Buổi 5: Tổng ôn luyện và thi thử về đề mở , cách làm bài văn theo các dạng
đề mở.
- Thường xuyên cập nhật tin tức từ đời sống, bởi đề mở liên quan nhiều đến
những vấn đề mang tính thời sự. Với những ai tham gia công tác bồi dưỡng học
sinh giỏi, có thể nói bạn phải thường xuyên học, đọc và viết , phải thường xuyên
kết hợp vận dụng , kế thừa kinh nghiệm cũ với đổi mới. Đề mở thường gợi ra hoặc
là từ tác phẩm, hoặc là từ cuộc sống. Vậy nên hơn ai hết giáo viên vừa là độc giả "
sành điệu" trong cảm thụ tác phẩm vừa phải thường xuyên cập nhật kiến thức đời
15
sống. Có vấn đề gì xảy ra trong nước cũng như trên thế giới đang được dư luận
quan tâm thì cô trò phải lưu ý . Sau đó suy nghĩ, đặt ra những vấn đề liên quan
xoay quanh vấn đề để có giải pháp đúng hướng.
- Luôn có ý thức sáng tạo trong ra đề, sưu tầm đề mở hay ở trong và ngoài
nước, ở đồng nghiệp. Chọn lựa những đề phù hợp với học sinh giỏi bậc THCS ,
phân mảng, chia nhóm, nghiên cứu chúng để đưa vào bài giảng cho phù hợp.
- Linh hoạt khi làm đáp án, khi chấm bài học sinh
- Sưu tập những bài văn làm theo đề mở hay để làm ví dụ, nhất là những bài
văn của khóa trước, của bè bạn các em để các em tin tưởng là mình cũng có thể
làm được như thế và hơn thế.
- Cho học sinh làm quen với đề mở ngay từ khi bước vào cấp hai. Ở trường
chúng tôi, phân công chuyên môn thường theo cua từ lớp 6 đến 9. Vì vậy, trong
quá trình học, năm nào tôi cũng dạy cho các em cách làm đề mở phù hợp với
chương trình và lứa tuổi. Chẳng hạn lớp 6, ta dạy cách làm những đề mở theo văn
miêu tả, văn kể chuyện như: Đêm trăng đẹp; Một lần mắc lỗi; Một kỷ niệm đáng
nhớ Hay ở lớp 7 là những đề như: Loài cây em yêu; Người ấy sống mãi trong
tôi khi học về văn biểu cảm. Lớp 8: Tà áo dài Việt Nam; "Trong lòng mẹ
''( Nguyên Hồng) là bài ca của tình mẫu tử khi học về văn thuyết minh, văn nghị
luận Và khi đến lớp 9, mặc dù các em chưa được học đầy đủ , bài bản về tất cả
2, Đối với học sinh:
- Làm quen với đề mở từ lớp 6 theo sự định hướng và hướng dẫn của giáo
viên.
- Cùng với giáo viên thu thập tài liệu có liên quan đến đề mở, tham khảo
những bài văn hay của các bạn, anh chị viết từ đề mở
- Cần nhớ các bước tạo lập văn bản đã học (4 bước : tìm hiểu đề, tìm ý và lập
dàn bài, viết thành văn, kiểm tra sửa chữa) để vận dụng vào việc làm đề mở. Bởi vì
khi làm một đề mở trước hết cũng phải tuân thủ các bước tạo lập văn bản như bất
kỳ bài văn nào.
- Đặc biệt, cần chú ý nhất ở khâu tìm hiểu đề, tìm ý : Yêu cầu và mục đích
phần này là:
+ Xác định dạng đề cụ thể để có cách làm bài phù hợp.
+ Xác định biên độ mở của đề, đảm bảo đúng cách viết theo hướng mở thể
hiện sự sáng tạo, có quan điểm riêng đúng đắn, thuyết phục, không sai lạc, không
thiếu ý.
Nghĩa là, tuy viết bài theo hướng mở, nhưng vẫn cần đảm bảo tính đúng đắn,
phổ quát của vấn đề và đảm bảo có nội dung ý nghĩa tích cực, giàu tính nhân văn,
tránh suy diễn lệch lạc; các phương thức biểu đạt sử dụng và kết hợp phải hợp lí,
nhuần nhuyễn. Do đó, người học sinh cần đọc kĩ đề để:
+ Xác định đối tượng, nội dung trọng tâm và phạm vi của đề
+ Xác định kiểu văn bản và phương thức biểu đạt, hình thức trình bày phù hợp
Ví dụ với đề "Tiếng đồng hồ tích tắc trong đêm khuya", học sinh cần xác định
lựa chọn phương thức biểu cảm hoặc nghị luận, có thể là chọn kết hợp cả hai; và
có thể chọn hình thức viết thư, viết nhật kí, hay viết bài văn nghị luận, biểu cảm
thông thường.
17
Không ngừng học tập, tìm hiểu, nắm vững kiến thức và những kĩ năng cơ
bản để vận dụng linh hoạt, hiệu quả
- Thường vấn đề đặt ra trong đề bài là những tình huống hay, bất ngờ, giàu ý
nghĩa, gợi suy nghĩ cho người viết về cuộc sống, về văn học nên cần có trí tưởng
- Những định hướng chung khi làm bài theo đề mở, kĩ năng làm bài văn theo
hướng mở thuộc dạng đề cho tài liệu.
2. Kĩ năng
- Xác định đề mở, kiểu đề mở
- Xác định những yêu cầu mà đề yêu cầu người viết làm theo hướng mở
- Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn bài và viết bài văn theo hướng mở thuộc dạng đề cho
tài liệu.
B. Chuẩn bị
1. Giáo viên
- Soạn kế hoạch dạy học.
- Một số tài liệu liên quan đến đề bài và bài văn theo hướng mở.
2. Học sinh
- Tìm hiểu nội dung về đề mở qua sách vở, tài liệu.
- Xem lại SGK các lớp 6,7,8,9 và thống kê những đề mở có trong đó.
C. Tổ chức hoạt động dạy học
HĐ 1. Ổn định lớp
HĐ 2. Kiểm tra bài cũ, giới thiệu bài
- Kiểm tra việc làm bài tập và chuẩn bị bài của học sinh ở nhà
HĐ 3. Dạy học bài mới
- Giáo viên hướng dẫn, gợi mở, vấn đáp cùng học sinh để giúp học sinh hiểu
từ các ví dụ, và rút ra được những kiến thức, kĩ năng cơ bản nhất.
I.TÌM HIỂU CHUNG VỀ ĐỀ MỞ:
1. Khái niệm
19
a. Tìm hiểu ví dụ
Đọc những đề bài sau đây và trả lời câu hỏi bên dưới:
Đề 1. Loài cây em yêu.
Đề 2. Một kỉ niệm tuổi ấu thơ.
Đề 3. Về hình ảnh người phụ nữ trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt
Nam đã học.
rõ về phương thức biểu đạt, kiểu văn bản cần tạo lập.
+ Nội dung: có đề cho đề tài, vấn đề, tài liệu rất cụ thể (3,5), có đề cũng cho
đề tài, vấn đề, tài liệu nhưng không cụ thể, buộc người viết phải lựa chọn (1, 2, 4,
6, 7, 8, 9, 10)
b. Ghi nhớ:
- Đề mở là đề bài mà trong đó có một phần yêu cầu nào đó (về đề tài nội
dung, về phương thức biểu đạt,kiểu văn bản) cho phép người viết lựa chọn cách
trình bày, giải quyết vấn đề theo trình độ, suy nghĩ riêng, cho phép phát huy tính
chủ động, lựa chọn, sáng tạo và thể hiện quan điểm miễn là hợp lí. Đó là những
đề không gò ép, bắt buộc học sinh nhất nhất phải theo một phương thức, kiểu bài,
thể loại hay theo nội dung ổn định trước.
? Hãy tìm một đề mở mà em đã gặp trong quá trình học tập. (Học sinh nêu
một số đề trong SGK hoặc đã gặp và làm ở tài liệu khác).
2. Phân loại đề mở:
a. Xét về cấu trúc đề:
Xét về cấu trúc, đề có hai dạng chính và đặc điểm cụ thể của mỗi dạng như
sau:
* Dạng 1: Đề có mệnh lệnh
Ví dụ: đề 4, đề 9 và đề 10
+ Cấu trúc: mệnh lệnh - đối tượng; đối tượng - mệnh lệnh
+ Biên độ mở chủ yếu nằm ở nội dung, đề tài mà đề yêu cầu học sinh trình
bày; cũng có khi học sinh được lựa chọn cả phương thức biểu đạt.
*Dạng 2: Đề không có mệnh lệnh
Ví dụ: Các đề 1,2,3,4,5,6,7,8
+ Cấu trúc: Chỉ có đối tượng, vấn đề
+ Đề không có mệnh lệnh thì biên độ mở rất rộng, không chỉ ở kiểu loại văn
bản và phương thức biểu đạt cần sử dụng mà còn ở cả nội dung, vấn đề cần đề cập
tới.
* Lưu ý: trong hai dạng trên thì đề mở phần lớn là đề không có mệnh lệnh.
b. Xét về nội dung:
*. Dạng 3: Đề cho học sinh điền chỗ trống.
Ví dụ: Đề 7, 8
- Nội dung cụ thể của đề còn để trống.
- Đề cũng không có mệnh lệnh yêu cầu cụ thể về kiểu văn bản phương thức
biểu đạt cũng như đề tài, nội dung.
- Biên độ mở là ở chỗ học sinh cần suy nghĩ điền vào chỗ trống một từ, hay
cụm từ phù hợp với thông tin đề đã cho để từ đó chọn kiểu văn bản và phương thức
biểu đạt (biểu cảm, hoặc nghị luận tuỳ theo cách hiểu vấn đề và cách giải quyết
vấn đề của học sinh) để làm bài hợp lí, thuyết phục.
Với đề 8, học sinh có thể điền thêm một trong những cụm từ: “thế giới được
hoà bình”; “môi trường sống được cải thiện tốt đẹp hơn”, hay “cuộc sống không
22
còn những trẻ em lang thang, nghèo khổ” hay thậm chí là “bố mẹ cho em được tự
lập” Từ đó chọn phương thức biểu đạt thường là biểu cảm và nghị luận để làm
bài.
( * Lưu ý: Nếu xét về đối tượng, có thể chia làm 2 dạng lớn: Đề mở thuộc lĩnh
vực xã hội và đề mở thuộc lĩnh vực văn học. Có nhiều cách chia vậy song ta cơ
bản sẽ theo ý kiến của Trần Đình Sử để tìm hiểu cách làm cụ thể. Tuy nhiên để các
em hình dung rõ hơn cách làm bài, trong mỗi dạng chúng ta sẽ tìm hiểu cách làm
chung và cách làm một số dạng nhỏ hơn)
II . CÁCH LÀM BÀI VĂN THEO MỘT SỐ DẠNG ĐỀ MỞ:
1. MỘT SỐ LƯU Ý CHUNG ĐỂ LÀM TỐT MỘT BÀI VĂN THEO ĐỀ
MỞ:
a. Cần tuân thủ các bước tạo lập văn bản đã học (4 bước : tìm hiểu đề, tìm ý
và lập dàn bài, viết thành văn, kiểm tra sửa chữa)
b. Đặc biệt, cần chú ý nhất ở khâu tìm hiểu đề, tìm ý : Yêu cầu và mục đích
phần này là:
- Xác định dạng đề cụ thể để có cách làm bài phù hợp.
- Xác định biên độ mở của đề, đảm bảo đúng cách viết theo hướng mở thể
hiện sự sáng tạo, có quan điểm riêng đúng đắn, thuyết phục, không sai lạc, không
e, Tham khảo thật nhiều tài liệu có liên quan để qua đó bước đầu tự rút ra
các kỹ năng làm bài theo đề mở. ( giáo viên giới thiệu một số tài liệu yêu cầu
học sinh tìm đọc ).
2. CÁCH LÀM BÀI VĂN THEO MỘT SỐ DẠNG ĐỀ MỞ.
a. DẠNG ĐỀ CHO TÀI LIỆU:
* Dạng đề: Từ một văn bản truyện yêu cầu suy nghĩ, cảm nhận, rút ra bài
học,…
- Ví dụ:
Giáo viên lấy một số văn bản truyện (trong SGK, tuyển tập đề thi Olympic,
“Quà tặng cuộc sống”,…) đọc cho học sinh nghe, sau đó đọc yêu cầu của đề.
Ví dụ 1: Hãy viết bài văn trình bày suy nghĩ của em sau khi đọc xong câu
chuyện “Điều gì là quan trọng”.
Ví dụ 2: Văn bản “Lỗi lầm và sự biết ơn” khép lại với thông điệp “Hãy học
cách viết nhưng nỗi đau buồn, thù hận lên cát và khắc ghi những ân nghĩa lên đá”.
Suy nghĩ của em về vấn đề trên.
Ví dụ 3: Những “Quà tặng cuộc sống” mà em nhận được từ câu chuyện “Hoa
hồng tặng mẹ”.
- Cho học sinh phát biểu cách hiểu đề, yêu cầu đề bài, định hướng,rút ra
cách làm dạng này từ bài tập hướng dẫn sau:
. Viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em từ câu chuyện “Người ăn
xin” (Tuốc- ghê- nhép):
Một người ăn xin đã già. Đôi mắt ông đỏ hoe, nước mắt ông giàn giụa, đôi
môi tái nhợt, áo quần tả tơi. Ông chìa tay xin tôi.
Tôi lục hết túi nọ đến túi kia, không có lấy một xu, không có cả khăn tay,
chẳng có gì hết. Ông vẫn đợi tôi. Tôi chẳng biết làm thế nào. Bàn tay tôi run run
nắm chặt lấy bàn tay run rẩy của ông:
24
- Xin ông đừng giận cháu! Cháu không có gì cho ông cả.
Ông nhìn tôi chăm chăm, đôi môi nở nụ cười:
- Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi.
25