SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
“GÓP CÁCH DẠY MỘT CHUYÊN ĐỀ BỒI DƯỠNG HỌC SINH
GIỎI MÔN NGỮ VĂN BẬC THCS: ĐỀ MỞ VÀ CÁCH LÀM BÀI
VĂN THEO MỘT SỐ DẠNG ĐỀ MỞ”
1
A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Những năm qua, giáo dục nói chung, môn Ngữ văn nói riêng đã từng bước thực sự đi
vào sự đổi mới về mọi mặt. Vì vậy, Ngữ văn đã góp một phần rất lớn vào mục tiêu đào
tạo. Một trong những nội dung đổi mới hàng đầu phải kể đến đó là đổi mới kiểm tra đánh
giá. Và có thể khẳng định, biểu hiện rõ nhất, đáng ghi nhận nhất ở người chỉ đạo cho đến
người thực hiện, ở người dạy cũng như người học trong khâu kiểm tra đánh giá chính là
những đề bài và những bài văn theo hướng mở.
Trong chương trình Ngữ văn THCS hiện nay, thống kê sơ bộ có đến khoảng 50 đề ra
là đề mở. Con số đó quả là không nhỏ để cả giáo viên và học sinh từ việc dạy học đại trà
cho đến học sinh giỏi đều phải lưu tâm.
Theo dõi đề thi của các nước trên thế giới cũng như đề thi HSG các cấp của nước ta
mấy năm qua, chúng ta thấy càng ngày lượng đề thi theo hướng mở càng nhiều, càng
hay. Học sinh đã dần quen với dạng đề này và đã tạo nên những bài văn rất thuyết phục.
Tài liệu tập huấn giáo viên "Dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ
năng trong chương trình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn cấp THCS" của Bộ GD & ĐT
tháng 7 năm 2010 trang 73 đánh giá :"Phong trào đổi mới cách ra đề thi theo hướng mở,
phát huy tính tích cực của học sinh đã dấy lên ở nhiều địa phương và đã thu được những
thành tựu đáng kể". Bộ cũng chỉ đạo "Trong quá trình dạy học cần đổi mới kiểm tra, đánh
giá bằng cách nêu vấn đề mở, đòi hỏi học sinh phải vận dụng tổng hợp kiến thức - kỹ
năng và biểu đạt chính kiến của bản thân".
2
Như vậy, lượng đề mở trong SGK, tinh thần chỉ đạo, thực tiễn đề thi đại trà cho đến
thi học sinh giỏi các cấp, đề mở ngày càng nhiều, càng cần phải có. Điều đó đã khẳng
định vị trí quan trọng của đề mở, cách dạy đề mở để phục vụ cho thực tiễn dạy học và
công của nhiều người hỗ trợ nhưng dù sao bản thân tôi và việc đổi mới cách dạy, cách
học trong đó liên quan đến chuyên đề ở SK này là không thể phủ nhận.
Thế nhưng trong thực tiễn, làm sao để có một quan niệm, một khái niệm đầy đủ
thuyết phục về đề mở, về các dạng đề mở, làm sao để có một giáo án cụ thể về những
cách làm cụ thể cho từng dạng đề mở, tạo điều kiện cho người dạy và người học thực
hiện mục đích, yêu cầu. Đó là mong muốn của những người trực tiếp bồi dưỡng học sinh
giỏi.Thế mà có thể khẳng định chưa có một bài viết, SKKN nào đề cập cụ thể, triệt để
vấn đề. Tài liệu SGK không bàn cụ thể, cuộc thi ra đề và làm bài theo hướng mở ở tạp chí
" Văn học và tuổi trẻ", một số bài viết liên quan trên tạp chí, trong thông tin mạng chúng
tôi luôn để ý, theo dõi nhưng đều ở mức độ vỡ vạc, sơ lược, chung chung, giáo viên và
học sinh mò mẫm, chủ quan làm mà chưa có một định hướng cụ thể nào cả.
Năm học 2013 - 2014, nắm bắt tầm quan trọng cũng như mức độ cần thiết của vấn
đề, là một trường chất lượng cao của huyện, Ban giám hiệu, tổ, nhóm chuyên môn trong
trường chúng tôi cũng đã coi đây là vấn đề mới - khó - hay, cần thiết cho việc bồi dưỡng
học sinh giỏi nên đã thảo luận, thống nhất, thể nghiệm… Nhà trường, tổ, nhóm đã tin
tưởng và tạo điều kiện phân công tôi dạy chuyên đề này cho đội tuyển HSG tỉnh lớp 9.
4
Sau khi lắng nghe học hỏi đồng nghiệp, vừa kết hợp trí tuệ tập thể vừa có sự sáng tạo, bổ
sung, dày công tìm hiểu, thể nghiệm của bản thân liên tục mấy năm qua cũng như trong
năm học này, kết quả bước đầu chúng tôi thấy tương đối khả quan.
Từ đó, nhằm giúp đồng nghiệp gần xa thêm một chuyên đề bồi dưỡng HSG, để khắc
phục những khó khăn, vướng mắc trên, nhằm đưa ra một giải pháp cụ thể để giáo viên,
học sinh có thể áp dụng ngay vào dạy học, tôi mạnh dạn viết sáng kiến kinh nghiệm:
"Góp cách dạy một chuyên đề bồi dưỡng HSG môn Ngữ văn bậc THCS: Đề mở và cách
làm bài văn theo một số dạng đề mở".
II. NHỮNG BIỆN PHÁP HOẠT ĐỘNG ĐỂ THỰC HIỆN SKKN
- Thu nhập thông tin qua đồng nghiệp, học trò, tài liệu…
- Sưu tầm để mở, phân nhóm, nghiên cứu cách dạy từng nhóm một cách cụ thể.
- Tham khảo tất cả những tài liệu liên quan
- Nắm bắt nguyện vọng của giáo viên dạy bồi dưỡng học sinh giỏi, nguyện vọng của
6
V. Kết quả: Đưa ra một số kết quả chứng tỏ hiệu quả của vấn đề sau khi áp dụng đề
tài
VI. Khả năng ứng dụng, triển khai của SKKN.
Phần C. Kết luận chung
Là lời kết luận của đề tài và những kiến nghị, đề xuất của người viết.
7
B. NỘI DUNG
I. THỰC TRẠNG VỀ “ĐỀ MỞ, CÁCH LÀM ĐỀ MỞ”.
1, Thực trạng về đề mở trong chương trình: Chương trình Ngữ văn THCS từ khi
đổi mới đến nay, bên cạnh đề truyền thống, thống kê ở các khối lớp qua sách giáo khoa
đều có đề mở và có nhiều hơn ở lớp 9. Cụ thể là :
Lớp 6:
Đề 1: Kỷ niệm ngày thơ ấu.
Đề 2: Ngày sinh nhật của em.
Đề 3: Quê em đổi mới.
Đề 4: Em đã lớn rồi.
(Bài 4 - Trang 37)
Lớp 7:
Đề 1: Vui buồn tuổi thơ.
Đê 2: Loài cây em yêu.
(Bài 6, trang 88)
Đề 3: Lối sống giản dị của Bác Hồ.
Đề 4: Tiếng Việt giàu đẹp.
Đề 5: Thuốc đắng giã tật.
Đề 6: Thất bại là mẹ thành công.
8
Đề 7: Không thể sống thiếu tình bạn.
Đề 8: Hãy biết quý thời gian.
Đề 9: Chớ nên tự phụ.
Đề 10: Đức tính trung thực.
Đề 11: Tinh thần tự học.
Đề 12: Hút thuốc lá có hại.
Đề 13: Lòng biết ơn thầy cô giáo. (Bài 22, trang 52)
Đề 14: Hình tượng người chiến sĩ lái xe trong bài "Bài thơ về tiểu đội xe không
kính" của Phạm Tiến Duật (Bài 24, trang 79)
Đề 15: Những đặc sắc trong bài thơ "Viếng lăng Bác" của Viễn Phương. (Bài 24,
trang 80)
Đề 16: Số phận và tính cách nhân vật Lão Hạc trong truyện ngắn "Lão Hạc" của
Nam Cao.
10
Đề 17: Vẻ mộng mơ và ý nghĩa sâu sắc của bài thơ "Mây và Sóng" của Ta-go.
Đề 18: Bài thơ "Tức cảnh Pác Bó" của Hồ Chí Minh.
Đề 19: Hình ảnh "Bếp lửa" trong bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt
(Bài 26, trang 99)
Đề 20: Bếp lửa sưởi ấm một đời - Bàn về bài thơ "Bếp lửa" của Bằng Việt.
(Bài 27, trang 112)
2, Đề mở, cách làm đề mở trong thi cử, báo chí, tài liệu
- Lượng đề thi theo hướng mở trong các kỳ thi nhất là thi học sinh giỏi ngày càng
chiếm ưu thế, gần như là 100%, đề nào cũng có một câu hoặc cả đề.
- Báo "Văn học và tuổi trẻ" từ ngày 1/4/2011 đến 30/8/2012, sau đó tiếp tục phát
động một thời gian nữa, đã tổ chức cuộc thi "Ra đề và viết văn theo hướng mở" (Trao
giải ngày 20/11/2012 ). Quy định nội dung thi như sau:
+ Giáo viên ra đề bài theo hướng mở. Đề bài chỉ nêu vấn đề cần bàn luận, hoặc đề tài
cần thể hiện. Mỗi đề dự thi có kèm theo đáp án hoặc gợi ý cách làm được soạn theo
hướng mở, định hướng một số cách giải quyết vấn đề hoặc triển khai đề tài.
+ Học sinh lựa chọn bài dự thi được giới thiệu trên "Văn học và tuổi trẻ" để tham gia
viết bài. Học sinh cần căn cứ vào nội dung vấn đề, hoặc đề tài được nêu trong đề mà lựa
chọn và xác định các phương thức biểu đạt phù hợp (Ví dụ: Nghị luận văn học, nghị luận
xã hội hoặc tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh…) khuyến khích những bài viết thể
sát thực cho GV HS. Vì vậy, chúng tôi đã vận dụng ý kiến của Giáo sư khi dạy HS chia
dạng và 1 số định hướng cách làm. Tuy nhiên, bài viết cũng chưa nêu rõ khái niệm đề
mở, cách làm cụ thể từng dạng. Vì thế, SKKN của chúng tôi sẽ trình bày thêm để khắc
phục điều đó.
- Sau bài viết của Giáo sư, tạp chí có nhắn nhủ "Mời các bạn tiếp tục tham gia viết
bài trao đổi về vấn đề "Đề mở trong dạy - học làm văn". Hưởng ứng điều đó, trong tạp
chí "VH và TT" số 23 (255) năm 2012 trang 25 có bài viết của thạc sĩ Bùi Minh Tuấn,
Giáo viên trường THPT Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An với tên bài "Nên
khuyến khích dạng đề mở". Bài viết cũng trao đổi về tình hình dạy học đề mở, ưu điểm
của đề mở, một số yêu cầu định hướng khi ra đề, làm đáp án, viết bài theo đề mở. Bài viết
ngắn không đầy một trang đánh máy cũng đang ở mức sơ lược nên chưa giúp được gì
nhiều cho thực tiễn dạy học.
- Rà soát, tìm kiếm trên mạng về những bài liên quan đến vấn đề, lượng bài tham gia
đang chưa được nhiều và cũng chưa cụ thể như mong muốn. Cũng có một số bài đã hé
mở khái niệm về đề mở như bài viết của một giáo viên trường THCS Nam Cao, tỉnh Hà
Nam hay bài viết của Hùng Phi Chường, Giáo viên trường THCS Đức Trí, Thành phố Hồ
Chí Minh. Các ý kiến phát biểu: "Đề bài mở là một đề bài không có mệnh lệnh đề cụ thể
mà người viết phải tự xác định nội dung, yêu cầu và thể loại để làm bài". Quan niệm đó
theo chúng tôi là gần đúng chứ chưa đúng, chưa đủ.
- Trong thực tế dạy học, thi cử, giáo viên và học sinh nói chung và nhất là giáo viên
và học sinh tham gia công tác học sinh giỏi, tất cả hầu như đã quan tâm, thậm chí rất chú
trọng vấn đề này. Riêng ở tỉnh Nghệ An trong kỳ thi giáo viên dạy giỏi tỉnh năm học
2012-2013 ngày 28 tháng 12, đề thi cũng có câu 1, hỏi "Ý kiến của anh chị về đề mở và
13
đáp án chấm mở trong kiểm tra đánh giá của môn Ngữ văn hiện nay". Ở huyện chúng tôi
năm học này, thi giáo viên giỏi huyện cũng có một câu hỏi về đề mở. Có lẽ ai cũng thừa
nhận sự cần thiết phải đổi mới ra đề và làm bài theo hướng mở. Đề mở rất hợp cho đối
tượng học sinh giỏi, định hướng đúng cho mục tiêu dạy học, phát huy tính tích cực, chủ
động của học sinh, kết hợp dạy học lý thuyết với thực hành, rèn kỹ năng sống cho người
học… Tất cả những điều đó đều liên quan đến đề mở. Tuy nhiên ở đơn vị chúng tôi cũng
dẫn chc sinh nên mua tài liệu nào và cách dùng. Theo chúng tôi, nên có những tài liệu
sau:
+ Tạp chí "Văn học và tuổi trẻ" (Các tập từ 2008 đến nay)
+ Sách "Tuyển tập đề bài và bài văn theo hướng mở" (2 tập) do Thân Phương Thu
tuyển chọn, NXB Giáo dục Việt Nam năm 2012(tập 1), năm 2013(tập 2).
+ Sách "Tuyển tập đề thi Olympic lần thứ XVIII 2012 môn Ngữ Văn" của nhà xuất
bản Đại học sư phạm.
+ Sách "Tuyển tập đề bài và bài văn Nghị luận xã hội" (2 tập) do Nguyễn Văn Tùng
và Thân Phương Thu tuyển chọn của NXB GD Việt Nam.
- Suy nghĩ, nắm được những kiến thức liên quan đến vấn đề một cách tối ưu nhất.
Với chuyên đề này, làm được điều này cũng không phải đơn giản. Bởi vì như phần thực
trạng tôi đã trao đổi, đây vẫn đang là một vấn đề mới và khó, vì vậy tài liệu đề cập đang
chưa nhiều và chưa cụ thể, thống nhất. Nhưng theo chúng tôi, cần thống nhất quan niệm
15
về đề mở, chia dạng đề mở, xác định được ưu nhược của đề mở và cách làm đáp án theo
hướng mở, kiến thức về cách làm từng dạng cụ thể. Trước hết chúng tôi xin trao đổi về
khái niệm đề mở . Một số ý kiến đã phát biểu về vấn đề này nhưng họ quan niệm chủ yếu
rằng đề mở là đề không có mệnh lệnh. Trong kỳ thi Giáo viên giỏi tỉnh Nghệ An, đáp án
cho câu hỏi thế nào là đề mở cũng không nêu cụ thể. Để thống nhất về vấn đề này, chúng
ta cùng tham khảo một số đề sau:
* Một số đề của SGK, đồng nghiệp và bản thân :
Đề 1. Loài cây em yêu.
Đề 2. Một kỉ niệm tuổi ấu thơ.
Đề 3. Về hình ảnh người phụ nữ trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam
đã học.
Đề 4. Viết lời tri ân đối với một tác giả văn học.
Đề 5. Tiếng đồng hồ tích tắc trong đêm khuya.
Đề 6. Về một bài thơ hay và đẹp.
Đề 7. Người học sinh hiện nay cần
Đề 8. Em ước mong
sứ ? Nhà điêu khắc nói: Trong đá vốn không có thiên sứ nhưng ta đã dồn hết tâm trí để
tạc.
Lấy thiên sứ trong lòng nhà điêu khắc làm chủ đề để viết một bài dài khoảng 800
chữ.
- Tỉnh Tứ Xuyên: Trong cuộc sống, có rất nhiều câu hỏi, có người ham hỏi, có người
ngại hỏi. Hãy lấy " Hỏi" làm chủ đề viết bài không dưới 800 chữ.
- Tỉnh Giang Tây: Có con chim yến nọ sau khi ấp trứng trở nên rất béo không bay
cao lên được. Mẹ của chim yến khuyên nó nên tăng cường tập luyện để giảm béo, như
thế mới có thể bay được cao.
Lấy" Chim én giảm béo" làm chủ đề, tự đặt chủ đề, viết bài.
- Tỉnh Sơn Đông: Có một câu chuyện ngụ ngôn: Đứng từ dưới đất nhìn lên con
người đều nhìn thấy sao trời lấp lánh sáng ngời, nhưng khi con người tiến gần sao trời sẽ
phát hiện ra rằng các ngôi sao cũng giống như trái đất- gồ ghề, không bằng phẳng, xung
quanh đầy bụi bặm".
Cảm nhận điều gì về vấn đề trên ?
- Tỉnh Trùng Khánh: Bước đi và dừng lại là hiện tượng thường gặp trong cuộc sống.
Nó đã giúp chúng ta suy nghĩ và liên tưởng về tự nhiên xã hội, lịch sử, nhân sinh.
Lấy chủ đề" Bước đi và dừng lại"để viết một bài văn.
- Tỉnh Liên Ninh: Lấy " Đôi vai " làm chủ đề để viết bài văn khoảng 800 chữ.
Qua các đề bài trên, ta thấy dù trong hay ngoài nước thì đề mở thường có những
điểm giống nhau đó là: Đều đã cho trước đề tài, vấn đề, tài liệu; và nhất là đều có một
phần nào đó rất mở, không gò bó, mà cho phép học sinh được tự do suy nghĩ, lựa chọn để
18
phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình. Còn điểm khác nhau ( Xét các đề của SGK,
đồng nghiệp và bản thân nói trên), ta thấy:
+ Về hình thức: có đề không có mệnh lệnh (1,2,3,4,5,6,7,8) nên người viết tự do lựa
chọn phương thức biểu đạt, kiểu văn bản; có đề có mệnh lệnh (9,10) yêu cầu rõ về
phương thức biểu đạt, kiểu văn bản cần tạo lập.
+ Nội dung: có đề cho đề tài, vấn đề, tài liệu rất cụ thể (3,5), có đề cũng cho đề tài,
vấn đề, tài liệu nhưng không cụ thể, buộc người viết phải lựa chọn (1,2, 4, 6, 7,8,9,10.
*. Dạng 1. Đề cho đề tài:
Ví dụ: các đề 1,2,3,4,5,6,7,8
- Đề ra đã cho sẵn một đề tài, vấn đề dùng để viết, học sinh có thể cụ thể hoá thành
đề mục hay nhan đề của bài viết
- Biên độ mở là ở việc học sinh suy nghĩ, lựa chọn kiểu văn bản, phương thức biểu
đạt cần sử dụng hoặc nội dung, đề tài để làm bài một cách hợp lí, hiệu quả
Xem xét đề 4 (Viết lời tri ân đối với một tác giả văn học), ta thấy đề tài rất “mở” nên
học sinh chỉ cần chọn cho mình một tác giả văn học có tác phẩm, có những quan
điểm có ý nghĩa, giá trị đối với bản thân về hiểu biết hay về tâm hồn, tình cảm, đạo đức
20
lối sống để mà viết lời cảm ơn chân thành với tác giả đó (chẳng hạn chọn Nam Cao, hay
chọn Nguyễn Thành Long, ). Hình thức viết cũng rất mở: Học sinh có thể viết bằng
phương thức biểu đạt chính là biểu cảm hoặc có thể tự sự, nghị luận, có thể bằng trang
nhật ký, bức thư
Với đề 1 có thể chọn một loài cây cụ thể mà mình yêu quý đề biểu cảm và đặt thành
nhan đề như: Cây tre Việt Nam; Cây bưởi ông trồng; Hoa dại ơi!
*. Dạng 2. Đề cho tài liệu:
Ví dụ: đề 9, 10
- Đây là dạng đề chỉ cung cấp một truyện ngụ ngôn, truyện cười, một bài thơ giàu ý
nghĩa triết lí, một số nhân vật lịch sử, hoặc những đoạn trích về tác phẩm, hay những
mẩu tin trên báo, những bức tranh
- Đề cũng đã có mệnh lệnh yêu cầu về kiểu văn bản và phương thức biểu đạt cần sử dụng
- Biên độ mở của đề là ở việc học sinh tự xác định, lựa chọn đề tài, phương thức biểu
đạt phù hợp để làm bài
Chẳng hạn với đề 9, đề đã cho sẵn tài liệu là câu chuyện “Người ăn xin” (có trong
bài học của sách giáo khoa, học sinh đều đã đọc, đã hiểu). Đồng thời đề cũng nêu yêu cầu
mệnh lệnh rất rõ (suy nghĩ - tức bình luận, biểu cảm), nên học sinh cần xác định biên độ
mở của đề chính là cần viết về bài học, ý nghĩa nào từ câu chuyện cho thuyết phục. Ở
đây, học sinh có thể chọn cho mình một đề tài, vấn đề để tạo thành nhan đề bài viết như
“Tình người trong cuộc sống”, hay “Xin lỗi và cảm ơn” ; cũng có thể viết về tất các vấn
gồm 5 buổi phần" Giáo án minh họa" mục III của SKKN. Có lẽ khác với nhiều SKKN
khác, có thể phần giáo án minh họa, từng giáo án cụ thể đã có một số người thiết kế, có
các tài liệu tham khảo nếu có thêm gì mới hoặc bổ sung , điều chỉnh thì người viết làm
thêm. Còn với đề tài SKKN mà tôi đang thực hiện, chủ quan tôi thấy là chưa ai thể hiện.
Có thể có nhiều giáo viên cũng có mày mò, tự mình dạy cho học sinh nhưng chưa thấy
ai công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, tôi cố tìm mà chưa gặp.Vì vậy, lên
kế hoạch cho từng buổi, thiết kế cụ thể từng bài cho giáo án 5 buổi của chuyên đề và kể
cả hầu hết các đề mở, bài làm minh họa của học sinh là công sức, tâm huyết của cá nhân
tôi, của học trò đội tuyển tỉnh tôi phụ trách mà các em đã tự làm, làm ngay sau khi học,
trong khi học là giải pháp thiết thực nhất cho người dạy và người học. Xin đồng nghiệp
và các quý vị chịu khó đọc và vận dụng !
- Cần trao cho các em các kỹ năng làm văn với các dạng đề cần thiết, liên quan.
Trước khi dạy đề mở, học sinh phải được học cách làm các dạng bài, các kỹ năng làm
văn gồm: Văn miêu tả, văn kể chuyện (chú trọng các dạng đề kể chuyện tưởng tượng),
văn viết thư, văn biểu cảm, văn chứng minh, văn giải thích, văn bình giảng, văn bình
luận, văn phân tích Các dạng bài nghị luận văn học cho đến nghị luận xã hội đều phải
thành thạo Ở huyện chúng tôi, thời lượng bồi dưỡng đội tuyển tỉnh thường là 50 buổi,
chúng tôi thường dành khoảng 10 buổi cho phần tập làm văn với các dạng bài trên sau đó
mới đến chuyên đề về đề mở 5 buổi. Bên cạnh đó, cần dạy các kiến thức về lý luận văn
học, về tác phẩm, tác giả, kiến thức văn học sử Có như thế, khi dạy về đề mở, cách
làm mới thuận lợi được. Bởi dù mở đến đâu thì vẫn có biên độ mở nhất định và vẫn nên
quay về lựa chọn một trong những kỹ năng làm văn cơ bản trên hoặc kết hợp các kỹ
năng sao cho hợp lý, vẫn phải liên quan đến các kiến thức văn học, xã hội được học trong
sách vở cũng như đời sống
23
- Dù chỉ có 5 buổi lên lớp nhưng rất quan trọng, bởi nó đụng chạm đến hầu hết các
kiến thức và kỹ năng. Vì vậy cần lên kế hoạch cụ thể và soạn bài chu đáo; Suy nghĩ kỹ để
quyết định nên dạy vào thời điểm nào, dạy những gì trong từng buổi Thực ra các em đã
làm quen với đề mở trong SGK từ lớp 6 đến lớp 9 như ta hệ thống trên cũng nhiều, chỉ
có cách làm bài bản, đầy đủ, chuyên sâu theo mức của học sinh giỏi tỉnh là chưa thì
Loài cây em yêu; Người ấy sống mãi trong tôi khi học về văn biểu cảm. Lớp 8: Tà áo
dài Việt Nam; "Trong lòng mẹ ''( Nguyên Hồng) là bài ca của tình mẫu tử khi học về
văn thuyết minh, văn nghị luận Và khi đến lớp 9, mặc dù các em chưa được học đầy đủ ,
bài bản về tất cả các dạng đề mở và cách làm nhưng nhờ đã làm quen trước mà giờ sẽ
thuận lợi hơn. Dạy đề mở phải dạy từ từ, mang tính" mưa dầm thấm lâu", dạy từ đề dễ
đến khó, vấn đề đơn giản đến phức tạp dần để học sinh không " choáng", không chán,
luôn cảm thấy hứng thú và cần học.
- Dạy đội tuyển rất cần sức mạnh của tập thể, dạy chuyên đề này cũng vậy. Cần lắng
nghe ý kiến đồng nghiệp, xin các đồng chí những đề văn hay, trao đổi đáp án một số vấn
đề khó, dạy thể nghiệm, lắng nghe sự góp ý, bổ sung
b, Trong khi dạy:
- Theo kế hoạch và giáo án đã chuẩn bị.
25