Nghiên cứu nồng độ Beta2Microglobulin máu ở bệnh nhân suy thận mạn tính lọc máu chu kỳ - Pdf 23

1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Suy thận mạn là một hội chứng lâm sàng và sinh hoá tiến triển
mạn tính qua nhiều năm, hậu quả của sự xơ hoá các nephron, gây giảm
từ từ mức lọc cầu thận dẫn đến tình trạng tăng nitơ phi protein máu
như ure, creatinin. Khi mức lọc cầu thận < 10 ml/phút bệnh nhân cần
được điều trị thay thế thận suy bằng lọc máu hoặc ghép thận.
Bệnh nhân suy thận chiếm tỷ lệ rất lớn trong dân số, do nhiều
nguyên nhân khác nhau, điều trị khó khăn, tốn kém. Suy thận giai
đoạn cuối hiện nay có 3 phương pháp điều trị: thận nhân tạo, lọc màng
bụng, ghép thận. Theo thống kê năm 2012 trên toàn thế giới có
3.010.000 người được điều trị thay thế thận, mức tăng hàng năm gần
7%. Trong số bệnh nhân này có khoảng 2.358.000 người là thận nhân
tạo và lọc màng bụng. 652.000 người ghép thận. Khi đời sống được
kéo dài, những bệnh nhân lọc máu chu kỳ (LMCK) xuất hiện ngày
càng nhiều các biến chứng về tim mạch, thần kinh, cơ xương khớp làm
giảm chất lượng sống, có nhiều yếu tố gây nên các biến chứng này
nguyên nhân hàng đầu là do lọc không hiệu quả một số chất trong
máu, đặc biệt là các chất có trọng lượng phân tử lớn và trung bình. Đại
diện là beta2-microglobulin (β2M). Khi lọc không hiệu quả β2Msẽ
lắng đọng vào các cơ quan, bộ phận như là hệ xương khớp gây đau
đớn, hạn chế vận động, gãy xương, lắng đọnglên hệ tim mạch, tiêu hóa
gây nên các biến chứng khác làm tăng tỷ lệ nằm viện, tử vong.
Ở Việt Nam có một số nghiên cứu về nồng độ β2M máu ở bệnh
nhân suy thận chưa lọc máu, hoặc đã lọc máu, đánh giá hiệu quả lọc
β2M của buổi lọc xong chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về
mối liên quan của một số yếu tố làm tăng β2M và cách điều trị, điều trị
dự phòng. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm 2 mục tiêu sau:
2
1. Khảo sát nồng độ beta2-microglobulin máu và mối liên quan

Thận là cơ quan có chức năng nội tiết, ngoại tiết và điều hòa nội
môi nên khi thận bị tổn thương sẽ ảnh hưởng đến rất nhiều các cơ quan
khác trong cơ thể.
Suy thận được chia làm 5 giai đoạn, do bệnh tiến triển từ từ nên
khi phát hiện thường muộn và điều trị gặp nhiều khó khăn.
Để phát hiện suy thận sớm quan trọng nhất là dựa vào cận lâm
sàng… Điều trị suy thận ngoài điều trị nguyên nhân chủ yếu là điều trị
bảo tồn bởi các nephron ở thận không có khả năng hồi phục khi đã bị
tổn thương và xơ hóa.
1.3. Các phương pháp điều trị suy thận mạn giai đoạn cuối (điều
trị thay thế thận)
Khi mức lọc cầu thận < 10ml/phút là phải điều trị thay thế thận.
Hiện nay có 3 phương pháp điều trị chính là:
- Ghép thận: chiếm khoảng 15%. Đây là phương pháp điều trị
thay thế tối ưu nhất nhưng nguồn thận cho rất hiếm.
- Lọc màng bụng: chiếm khoảng 16%, thực hiện tại nhà, bệnh
nhân không phụ thuộc vào bệnh viện và nhân viên y tế tuy nhiên có
nhiều biến chứng và hiệu quả lọc thường thấp hơn so với thận nhân
tạo.
- Lọc máu ngoài cơ thể (thận nhân tạo, LMCK) chiếm 69%. Đây
là phương pháp được áp dụng nhiều nhất, dễ thực hiện, hiệu quả lọc
máu cao xong nhược điểm là bệnh nhân phụ thuộc vào máy, bệnh
viện.
1.4. Điều trị thay thế thận suy bằng thận nhân tạo
(lọc máu chu kỳ)
4
Thận nhân tạo hay LMCK có thể thực hiện tại nhà, tại các trung
tâm lọc máu hoặc tại bệnh viện. Ở Việt Nam hiện nay LMCK chủ yếu
được thực hiện tại bệnh viện.
LMCK gồm các phương thức sau:

Ở Việt Nam: có một số các nghiên cứu về thay đổi nồng độ β2M
ở bệnh nhân suy thận, lọc máu, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào
thực hiện có hệ thống về rối loạn β2M và các mối liên quan ở bệnh
nhân suy thận mạn giai đoạn cuối LMCK và các phương pháp điều trị,
điều trị dự phòng.
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Gồm 374 đối tượng chia làm 2 nhóm:
+ Nhóm bệnh: 326 bệnh nhân điều trị LMCK, nhóm chứng: 48
người khỏe với độ tuổi trung bình và tỷ lệ giới tính tương đương
nhóm bệnh.
Đề tài được thực hiện tại Khoa Thận nhân tạo, Bệnh viện Bạch
Mai Hà Nội từ tháng 2/2008 đến tháng 2/2011.
- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng:
+ Nhóm chứng: Người trưởng thành khỏe mạnh,không có tiền sử
bệnh thận- tiết niệu, tương đồng tuổi và giới với nhóm bệnh nhân,
đồng ý tham gia nghiên cứu.
+ Nhóm bệnh: Suy thậngiai đoạn cuối, LMCK≥ 3 tháng, tuổi ≥
18,lọc máu bằng quả lọc có hệ số siêu lọc thấp, bệnh nhân đồng ý
tham gia nghiên cứu.
-Tiêu chuẩn loại trừ:
Nhóm chứng: Mắc một số bệnh mạn tính như: viêm khớp mạn
tính, bệnh lý dạ dày- tá tràng mạn tính…béo phì, thói quen uống rượu,
bia, phụ nữ có thai, cho con bú.
6
Nhóm bệnh: Bệnh nhân có biểu hiện suy tim: khó thở thường
xuyên tức ngực, tim to toàn bộ trên Xquang… Bệnh nhân suy gan: cổ
trướng, hình ảnh xơ gan trên siêu âm, tuần hoàn bàng hệ. Ung thư giai
đoạn cuối, đang mắc các bệnh cấp tính như: nhiễm khuẩn, nhồi máu cơ
tim, suy tim cấp, đột quị não… Khó khăn trong thực hiện đường vào

trong tuần: CTM, β2M, ure, creatinin, albumin, c-reactive protein
(CRP), uric, phospho, cholesterol, triglycerid, HDL-C, LDL-C, HbAg,
Anti-HCV.
+ Phần can thiệp: xét nghiệm trước lọc và sau lọc máu (quả lọc lần 1),
trước lọc: lấy máu kim động mạch, sau lọc lấy theo phương pháp dòng
chậm (CTM lấy trước lọc, xét nghiệm sinh hóa lấy trước và sau lọc máu
gồm: ure, creatinin, β2M, Albumin, điện giải, CRP.
2.2.2. Phác đồ can thiệp
Nhóm 1 (PN1): 64 bệnh nhân - quả lọc Low - flux
Nhóm 2 (PN2): 46 bệnh nhân - quả lọc low flux và 1 tháng có can
thiệp 2 lần dùng quả lọc High - flux.
Nhóm 3 (PN3): 32 bệnh nhân - quả lọc low flux và 1 tháng có can
thiệp 2 lần HDF online.
Lần đầu tiên can thiệp gọi là sử dụng quả lọc lần đầu, trong đó nhóm
1 sử dụng quả lọc Low flux, nhóm 2 High flux và nhóm 3 HDF online.
2.2.3. Đánh giá kết quả
- Phần nghiên cứu cắt ngang:
+ Đánh giá sự thay đổi nồng độ β2M máu ở bệnh nhân suy thận
mạn tính LMCK có so sánh với nhóm chứng.
+ Đánh giá mối liên quan giữa nồng độ β2M máu ở bệnh nhân suy
thận mạn tính LMCKvới các yếu tố: giới, tuổi, thời gian lọc máu,
BMI, CRP, phospho, ure, creatinin, mỡ máu…
- Phần can thiệp:
+ Đánh giá kết quả lọc ure, creatinin, β2M các phương thức ở quả
lọc dùng lần 1.
8
+ Đánh giá sự giảm β2M sau 6 tháng điều trị của mỗi phương thức.
2.2.4. Đạo đức nghiên cứu
- Thực hiện không vi phạm đạo đức nghiên cứu.
- Các phương pháp xét nghiệm và biện pháp điều trị thực hiện vì

bình (năm)
49,9 ± 13,4 42,3 ± 14,4 45,6 ± 14,5
p > 0,05
Tuổi trung bình nhóm bệnh và nhóm chứng khác nhau không có ý
nghĩa thống kê, p> 0,05.
9
Tỷ lệ nam/nữ giữa hai nhóm đối tượng nghiên cứu là tương
đương nhau.
Tuổi trung bình giữa hai giới trong từng nhóm đối tượng nghiên
cứu là tương đương nhau.
10
Bảng 3.2: Phân bố bệnh nhân theo tuổi, giới (n=326)
Nhóm tuổi
(năm)
Nữ Nam Chung
n % n % n %
≤ 30 14 10,0 47 25,3 61 18,7
31-40 23 16,4 45 24,2 68 20,9
41-50 27 19,3 39 21,0 66 20,2
51-60 44 31,4 35 18,8 79 24,2
>60 32 22,9 20 10,8 52 16,0
Cộng 140 42,9 186 57,1 326 100,0
Phân bố bệnh nhân tương đối đều ở các nhóm tuổi, tuy nhiên
nhóm bệnh nhân ≤ 30 tuổi và > 60 tuổi có tỷ lệ thấp nhất.
Lứa tuổi từ 31 đến 60 tuổi chiếm chủ yếu trong nghiên cứu này (65,3%).
Tỷ lệ đối tượng nam/nữ trong từng nhóm tuổi là tương đương nhau.
Bảng 3.3: Nguyên nhân gây suy thận mạn tính
Nguyên nhân Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Viêm cầu thận mạn 230 70,6
Viêm thận – bể thận mạn 43 13,2

(n=326)
Tình trạng Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Không nhiễm 186 57,1
HBV (+) 28 8,6
HCV (+) 98 30,1
HBV và HCV (+) 14 4,2
Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm virutviêm gan tương đối cao trong nghiên
cứu này. Có tới 30,1% bệnh nhân có HCV (+), 8,6% bệnh nhân có
HBV (+) và 4,2% bệnh nhân có cả HBV và HCV (+).
3.2. Biến đổi nồng độ beta2-microglobulin ở bệnh nhân nghiên cứu
Bảng 3.11: Biến đổi nồng độ beta2 - microglobulin máu
nhóm bệnh nhân và nhóm chứng
β2M
(mg/l)
Đối tượng
Min – Max
X
± SD
p
Bệnh nhân (n=326) 16,9 - 129,2 64,7 ± 21,1
< 0,001
Nhóm chứng (n=48) 0,9 - 3,6 1,88 ± 0,68
Nhóm bệnh có nồng độ β2M máu trung bình cao hơn nhóm chứng
có ý nghĩa với p < 0,001.
Bảng 3.14: Nồng độ β2M máu theo giới nhóm bệnh nhân
12
nghiên cứu (n=326)
Đối tượng β2M (mg/L) p
Nam (n=186) 64,0 ± 21,3
> 0,05

Nồng độ β2M trung bình khác nhau giữa các nhóm bệnh nhân có
thời gian lọc máu khác nhau, tăng theo thời gian lọc máu.
13
Nhóm bệnh nhân lọc máu < 1 năm có nồng độ β2M trung bình thấp
nhất, nhóm bệnh nhân lọc máu hơn 10 năm có nồng độ β2M trung bình
cao nhất, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.
Biểu đồ 3.4: Tương quan giữa nồng độ β2M với thời gian lọc máu
Nồng độ β2M tương quan thuận, mức độ chặt, có ý nghĩa với thời
gian lọc máu. Những bệnh nhân có thời gian lọc máu càng dài càng có
sự tích lũy nhiều β2M.
Hệ số tương quan β2M và thời gian lọc máu là r=0,64, p < 0,001.
14
Bảng 3.18: Liên quan nồng độ β2M ở bệnh nhân theo nguyên
nhân gây suy thận mạn tính
β2M (mg/l)
Nguyên nhân
Min – Max (
X
± SD)
Viêm cầu thận mạn
(n=230)
16,9-129,2 64,3 ± 21,5
Viêm thận – bể thận
mạn (n=43)
31,4-105,9 62,9 ± 19,1
Đái tháo đường (n=32) 30,8-93,8 66,5 ± 19,4
Nguyên nhân khác
(n=21)
40,2-77,6 66,8 ± 17,8
p ANOVA > 0,05

nhóm đơn nhiễm HBV.
Bảng 3.21: Liên quan nồng độ β2M với tình trạng
bảo tồn nước tiểu (n=326)
β2M (mg/l)
Mức độ
Min – Max
(
X
± SD)
Không bảo tồn (n=263) 21,4-129,2 68,2 ± 19,8
Bảo tổn (n=63) 16,9-109,3 50,5 ± 20,6
p < 0,001
β2M liên quan đến tình trạng bảo tồn nước tiểu, những bệnh nhân
còn bảo tồn nước tiểu có nồng độ β2M thấp hơn có ý nghĩa so với
nhóm không bảo tồn nước tiểu, p< 0,001.
Bảng 3.23: Liên quan nồng độ β2M theo tình trạng thiếu máu của
bệnh nhân (n=326)
Mức độ thiếu máu Số lượng (n)
β2M (mg/l),
(
X
± SD)
Không 55 65,02 ± 19,77
Nhẹ 171 65,17 ± 21,32
Vừa 82 63,38 ± 20,64
Nặng 18 66,09 ± 26,79
Tổng 326 64,7 ± 21,1
p ANOVA > 0,05
β2M không liên quan đến tình trạng có hay không có thiếu máu,
mức độ thiếu máu, p > 0,05.

BMI Số lượng (n)
β2M (mg/l),
(
X
± SD)
Thiếu cân 137 63,83 ± 21,21
Bình thường 167 65,19 ± 20,43
Thừa cân, béo 22 67,17 ± 26,27
p ANOVA > 0,05
Nồng độ β2M có xu hướng tăng ở nhóm bệnh nhân thừa cân béo
phì, tuy nhiên β2M không liên quan đến tình trạng gầy hoặc thừa cân
béo phì, p> 0,05.
17
3.3. Hiệu quả lọc β2M ở bệnh nhân sử dụng phương pháp và quả
lọc có hệ số siêu lọc khác nhau
Bảng 3.27: Đặc điểm mẫu nghiên cứu trước khi can thiệp
Đặc điểm PN1 PN2 PN3 p ANOVA
Thời gian lọc máu
(tháng)
80,6 ± 42,6 64,6 ± 44,0 78,8 ± 41,0 > 0,05
Bạch cầu (BC) (G/l) 7,2 ± 1,3 7,3 ± 1,2 7,3 ± 1,4 > 0,05
Hemoglobin (g/l) 101,2 ± 16,9 99,2 ± 17,3 99,5 ± 15,1 > 0,05
Albumin (g/l) 38,2 ± 3,5 38,4 ± 5,0 39,7 ± 3,3 > 0,05
CRP (mg/dl) 0,61 ± 0,48 0,47 ± 0,37 0,68 ± 0,49 > 0,05
Ure (mmol/l) 29,2 ± 6,5 29,0 ± 7,1 29,2 ± 7,2 > 0,05
Creatinin (µmol/l) 830,7 ± 204,6 828,8 ± 217,1 831,7 ± 200,7 > 0,05
β2M (mg/l) 66,04 ± 26,7 64,8 ± 18,8 69,2 ± 18,9 > 0,05
K+ (mmol/l) 4,91 ± 0,55 4,86 ± 0,58 4,93 ± 0,56 > 0,05
Na+ (mmol/l) 135,4 ± 2,1 135,6 ± 2,2 135,6 ± 2,2 > 0,05
Ca++ (mmol/l) 1,90 ± 0,31 1,84 ± 0,29 1,86 ± 0,29 > 0,05

PN1
(n=64)
PN2
(n=46)
PN3
(n=32)
p
ANOVA
Trước lọc 830,7 ± 204,6 828,8 ± 217,1 831,7 ± 200,7 > 0,05
Sau lọc
294,9 ± 105,0 272,5 ± 109,6 161,2 ± 65,6
1-3,2-3:
< 0,001
1-2: > 0,05
p < 0,001 < 0,001 < 0,001
Sau lọc nồng độ creatinin máu giảm có ý nghĩa ở các phân
nhóm,p< 0,001. Phân nhóm 3 có mức giảm creatinin tốt nhất, khác
biệt có ý nghĩa so với phân nhóm 1 và 2, p< 0,001.
Bảng 3.35: Biến đổi BC, Hemoglobin, albumin, CRP và BMI
sau 6 tháng điều trị
Chỉ tiêu
PN1
(n=64)
PN2
(n=46)
PN3
(n=32)
pANOVA
BC (G/L)
Trước can thiệp 7,2 ± 1,3 7,3 ± 1,2 7,3 ± 1,4 > 0,05

tháng tăng hơn các nhóm khác và tăng hơn thời điểm trước 6 tháng
(p <0,05). Không có sự khác biệt thay đổi số lượng BC, nồng độ
albumin và nồng độ CRP máu trước và sau 6 tháng điều trị, giữa
các nhóm (p > 0,05).
Bảng 3.38: So sánh hiệu quả lọc β2M ở các phân nhóm
sau sử dụng quả lọc lần đầu
β2M
(mg/l)
PN1
(n=64)
PN2
(n=46)
PN3
(n=32)
p
ANOVA
Trước lọc 66,04 ± 26,7 64,8 ± 18,8 69,2 ± 18,9 > 0,05
Sau lọc
66,3 ± 26,2 47,8 ± 13,5
21,8± 9,8
< 0,001
p > 0,05 < 0,001 < 0,001
trước và sau lọc: Nhóm 1 tăng nhẹ, nhóm 2 và 3 giảm có ý nghĩa
thống kê với p < 0,001 đặc biệt ở nhóm 3.
Bảng 3.41: Biến đổi nồng độ β2M trong 6 tháng điều trị
Thời điểm
PN1
(n=64)
PN2
(n=46)

49,9 ± 13,4, nữ là 42,3 ± 14,5 (bảng 3.1). Tỷ lệ của nam mắc nhiều
hơn nữ. Kết quả nghiên cứu này phù hợp với các kết quả nghiên cứu
trong nước. Tuy nhiên tuổi trung bình bệnh nhân lọc máu thấp hơn
nhiều so với các nghiên cứu ở các nước phát triển. Nguyên nhân là do
cơ cấu bệnh tật khác nhau, công tác tổ chức, điều trị bảo tồn ở những
nước này tốt nên kéo dài thời gian bệnh nhân suy thận đến giai đoạn
lọc máu.
4.1.2. Nguyên nhân
Chúng tôi chia thành 4 nhóm nguyên nhân gây bệnh chính là viêm
cầu thận mạn, viêm thận - bể thận mạn, đái tháo đường và các nguyên
nhân khác. Trong đó nguyên nhân suy thận do viêm cầu thận mạn tính
chiếm tỷ lệ cao nhất (bảng 3.3), phù hợp với các nghiên cứu trong
nước. Các nghiên cứu ở các nước phát triển nguyên nhân suy thận đái
tháo đường lại chiếm tỷ lệ cao.
4.1.3. Thời gian lọc máu
Trong nghiên cứu này bệnh nhân lọc máu < 1 năm chiếm tỷ lệ
thấp nhất sau đó đến nhóm ≥ 10 năm. Còn đa số là từ 5 - 10 năm (bảng
3.4). Các nghiên cứu khác trên thế giới bệnh nhân lọc máu 5 - 10 năm
cũng chiếm đa số.
21
4.1.4. Tình trạng BMI
Trong nghiên cứu của chúng tôi đa số bệnh nhân là thiếu cân. Số
bệnh nhân béo phì chiếm tỷ lệ thấp (6,7%). Nghiên cứu khác ở các
nước châu Âu thì số bệnh nhân béo phì chiếm đa số, nguyên nhân do
suy thận ở các nước này liên quan đến rối loạn chuyển hóa như đái
tháo đường, goutte…
4.1.5. Tình trạng nhiễm virut viêm gan: tỷ lệ viêm gan trong LMCK
tăng cao, vì lây truyền virut B, C qua đường máu. Ở một số nước phát
triển tỷ lệ viêm gan thấp hơn. Điều này nói lên công tác phòng viêm
gan cần phải đặc biệt lưu ý (vacxin, vô trùng…).

viêm gan virut ở bệnh nhân LMCK là một vấn đề cần được quan tâm
chặt chẽ.
4.2.7. Liên quan tới chức năng thận tồn dư
Ở bệnh nhân còn chức năng thận tồn dư nồng độ β2M thấp hơn so
với nhóm vô niệu, kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trên thế
giới, vấn đề duy trì chức năng thận tồn dư này là rất quan trọng ở bệnh
nhân suy thận mạn LMCK.
4.2.8. Liên quan với mức độ thiếu máu và BMI
Trong nghiên cứu của chúng tôi thiếu máu là phổ biến xong chưa
tìm thấy mối liên quan giữa thiếu máu và nồng độ β2M. Chúng tôi
thấy những bệnh nhân thừa cân có nồng độ β2M cao nhất xong cũng
không thấy sự khác biệt giữa các nhóm thiếu cân, bình thường, béo phì
với p > 0,05.
4.2.11. Liên quan với rối loạn lipid máu
Trong nghiên cứu của chúng tôi cũng giống các tác giả trong nước
và trên thế giới thấy có sự liên quan giữa rối loạn các thành phần lipid
máu với p < 0,001 theo mức tăng triglycerid, cholesterol, LDL-C và
giảm HDL-C.
4.3. Hiệu quả lọc β2M ở bệnh nhân sử dụng phương pháp và quả
lọc có hệ số siêu lọc khác nhau
4.3.1. Đặc điểm chung và hiệu quả lọc của các phân nhóm
Đặc điểm chung: Cả 3 phân nhóm nghiên cứu đều có sự tương
đồng về thời gian lọc máu, tuổi, nồng độ β2M và các thông số nghiên
23
cứu khác.
Hiệu quả lọc ure, creatinin ở quả lọc lần đầu: trong lần lọc đầu
tiên ure, creatinin, ở cả 3 nhóm đều lọc tốt. Sự khác biệt giữa trước và
sau lọc có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Tuy nhiên ở nhóm HDF
online là cao nhất.
Các chất điện giải (Na

microglobulin ở bệnh nhân sử dụng phương thức và quả lọc có hệ số
siêu lọc khác nhau có kết luận sau:
1. Biến đổi nồng độ β2M:
β2M máu tăng cao ở bệnh nhân suy thận mạn tính LMCK:
+ Giá trị trung bình β2M của bệnh nhân cao hơn so với nhóm
chứng (64,7 ± 21,1 mg/L so với 1,88 ± 0,68 mg/L). 100% bệnh nhân
có tăng giá trị tuyệt đối của β2M.
+ Nồng độ β2M tương quan thuận, mức độ chặt với thời gian lọc
máu (r = 0,64, p < 0,001).
+ Nồng độ β2M liên quan với nhiễm virut viêm gan B, C. Ở bệnh
nhân nhiễm virut cao hơn so với không nhiễm (74,7 ± 20,4 mg/L so
với 57,2 ± 18,5 mg/L), ở bệnh nhân đồng nhiễm cao hơn so với khi
nhiễm đơn độc, nhiễm virut viêm gan C cao hơn so với nhiễm virut viêm
gan B.
+ Nồng độ β2M ở bệnh nhân không còn bảo tồn nước tiểu cao hơn
so với còn bảo tồn nước tiểu (68,2 ± 19,8 mg/L so với 50,5 ± 20,6 mg/L).
+ Nồng độ β2M liên quan có ý nghĩa với rối loạn lipid máu. Giá
trị trung bình β2M tăng ở bệnh nhân có tăng cholesterol, triglycerid,
LDL-C hoặc giảm HDL-C.
2. Hiệu quả lọc β2M khi sử dụng phương thức và quả lọc có hệ số
siêu lọc khác nhau.
+ Sau cuộc lọc lần đầu, nồng độ β2M máu trung bình ở nhóm
thẩm tách siêu lọc, nhóm bệnh nhân quả lọc có hệ số siêu lọc cao giảm
có ý nghĩa so với trước lọc (69,2 ± 18,9 mg/L so với 21,8 ± 9,8 mg/L
và 64,8 ± 18,8 mg/L so với 47,8 ± 13,5 mg/L), p< 0,001. Nồng độ
25
β2M máu trung bình sau lọc ở nhóm thẩm tách siêu lọc giảm hiệu quả
hơn nhóm sử dụng quả lọc có hệ số siêu lọc cao, p< 0,001.
+ Trong 3 phân nhóm, hệ số thanh thải β2M máu sau cuộc lọc
lần đầu ở nhóm thẩm tách siêu lọc cao nhất, khác biệt so với nhóm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status