tóm tắt luận án nghiên cứu khu hệ lưỡng cư, bò sát ở khu bảo tồn thiên nhiên pù hoạt, tỉnh nghệ an - Pdf 23

- 1 –
MỞ ĐẦU
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt thuộc Khu dự trữ Sinh quyển Tây
Nghệ An, nằm trong hành lang xanh phía Tây, có 56.232 ha rừng tự nhiên,
chiếm 83 % tổng diện tích, trong đó 33.555 ha rừng ít bị tác động, có cảnh
quan đa dạng, có tiềm năng về Đa dạng sinh học. Nghiên cứu bước đầu đã
xác định khu hệ thực vật có 762 loài thuộc 428 chi và 124 họ, trong đó có
30 loài quý hiếm đã ghi trong Sách Đỏ Việt Nam 2007. Thú có 96 loài,
Chim 131 loài. Nhưng cho đến nay vẫn chưa có một danh mục đầy đủ về
khu hệ LC, BS. Do đó điều tra nghiên cứu khu hệ LC, BS ở đây là công việc
cần thiết và cấp bách cho công tác bảo tồn. Để góp phần làm cơ sở khoa học
cho việc bảo tồn bền vững, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu khu hệ
Lưỡng cư, Bò sát ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Hoạt, tỉnh Nghệ An”.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Xác định thành phần loài, xây dựng khoá định loại, mô tả đặc điểm
hình thái phân loại các loài LC, BS ở Khu BTTN Pù Hoạt.
- Xác định phân bố địa lí, phân bố theo sinh cảnh và nơi ở LC, BS Khu
BTTN Pù Hoạt.
- Đề xuất các biện pháp quản lí, bảo tồn LC, BS Khu BTTN Pù Hoạt.
Nội dung của đề tài:
- Điều tra nghiên cứu thành phần loài, mô tả đặc điểm nhận dạng chính
và xây dựng khoá định loại, ghi nhận đặc điểm sinh học, sinh thái học của
các loài LC, BS ở Pù Hoạt.
- Nghiên cứu sự phân bố các loài theo độ cao, sinh cảnh và nơi ở các
loài LC, BS ở Pù Hoạt.
- Đánh giá tầm quan trọng, hiện trạng và các mối đe doạ đến các loài
LC, BS. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp bảo tồn các loài LC, BS ở
Khu BTTN Pù Hoạt.
Những đóng góp mới của luận án:
- Lập được danh sách 107 loài LC, BS trong đó bổ sung 47 loài cho Pù
Hoạt, 8 loài cho Nghệ An, 8 loài cho BTB; 2 loài lần đầu tiên ghi nhận ở

kinh tế đã được tiến hành trên các đối tượng: Rana rugulosa của Nguyễn
Kim Tiến (1999); Ptyas mucosus của Ông Vĩnh An (2009); Leiolepis
- 3 –
belliana của Ngô Đắc Chứng (1991) và Cao Tiến Trung (2009). Ngoài ra
còn có nghiên cứu về âm thanh LC của Phùng Thị Hương, Trần Đình
Quang, Trần Thị Ngân, Đậu Quang Vinh. Ngô Văn Bình, Nguyễn Thị
Xuyến Vai trò của LC trên hệ sinh thái đồng ruộng của tác giả Hoàng
Xuân Quang và cs. (2002), Trần Kiên và cs. (2002). Nghiên cứu sinh học
phát triển nòng nọc LC của Lê Thị Thu và cs., Lê Thị Quý và cs.
Các nghiên cứu trên đã góp phần vào việc xuất bản các sách chuyên
khảo: Ếch nhái, Bò sát ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống, 2007; Ếch nhái,
Bò sát ở Vườn quốc gia Bạch Mã, 2012; Động vật chí Việt Nam (phần Rắn).
1.2. Nghiên cứu Lưỡng cư, Bò sát ở khu BTTN Pù Hoạt
Cho đến nay, khu BTTN Pù Hoạt còn ít được nghiên cứu. Năm 2008,
Hoàng Xuân Quang đã ghi nhận ở Pù Hoạt 10 loài LC và 28 loài BS;
Nguyễn Quảng Trường và cs., (2010) ghi nhận phân bố mới của loài
Amphiesmoides ornaticeps ở Pù Hoạt. Trong báo cáo dự án xây dựng khu
BTTN Pù Hoạt 2002 và của Frontier (2002) ghi nhận 35 loài LC. Như vậy
rõ ràng vẫn chưa có một danh mục loài đầy đủ và có tính chất hệ thống về
khu hệ LC, BS ở Khu BTTN Pù Hoạt. Kết quả các nghiên cứu trên chỉ mới
thống kê được 60 loài (28 loài LC và 32 loài BS). Chính vì vậy, nội dung
nghiên cứu của đề tài là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.
1.3. Khái quát về điều kiện tự nhiên, xã hội ở vùng nghiên cứu
1.3.1. Vị trí địa lí: Khu BTTN Pù Hoạt có tọa độ địa lí 19
0
25

- 20
0
00’

Phong. Lưu vực sông Con: được tạo thành từ 3 dòng suối chính là
Nậm Suối, Nậm Viếc và Nậm Giải.
1.3.5. Thổ nhưỡng: Về địa chất của khu BTTN Pù Hoạt có sự khác nhau
giữa các phân khu: Phía Nam chủ yếu là granit trong đó đỉnh Pù Hoạt
và khu vực lân cận được tạo ra do sự xâm nhập của marma chứa
syenit và granit felspar kiềm; Phía Tây Nam của khu bảo tồn có một
dải núi đá vôi hẹp kéo dài theo hướng Tây Nam; phía Bắc của khu bảo
tồn là một dải đất có diện tích tương đối rộng được tạo bởi axít phun
trào và đá tro núi lửa.
1.3.6. Khu hệ thực vật và động vật: Khu BTTN Pù Hoạt có 56.232 ha rừng
tự nhiên, gồm 3 kiểu rừng chính: Rừng thường xanh mưa nhiệt đới núi
cao hỗn giao cây lá rộng với cây lá kim; Rừng kín lá rộng thường xanh
mưa nhiệt đới núi trung bình; Rừng kín lá rộng thường xanh mưa
nhiệt đới núi thấp. Khu hệ thực vật ở khu BTTN Pù Hoạt có 762 loài
thuộc 428 chi và 124 họ, trong đó có 30 loài quý hiếm đã ghi trong
Sách Đỏ Việt Nam 2007. Những khảo sát bước đầu ở Pù Hoạt đã
thống kê được 193 loài động vật có xương sống thuộc 4 lớp. Thú có
96 loài, Chim 131 loài, Bò sát 32 loài, Lưỡng cư 28 loài.
1.3.7. Kinh tế: Dân số có 37.365 người, gồm các dân tộc: Thái, Khơ-mú,
Mường, H’mông và Kinh. Kinh tế chủ yếu dựa vào khai thác các loại
tài nguyên rừng như: gỗ, măng, tre, lá cọ, ong mật, cây thuốc và săn
bắt động vật…
1.3.8. Văn hóa xã hội: Các xã trong Khu BTTN Pù Hoạt có trường tiểu
học và trung học cơ sở, trạm y tế và đường giao thông đến trung tâm xã.
- 5 –
Tuy nhiên công tác phổ cập học sinh trong độ tuổi đến trường và chăn sóc
chăm sóc sức khỏe cho nhân dân còn hạn chế và vào mùa lũ, giao thông
gặp nhiều khó khăn.
Chương 2
THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, ĐỐI TƯỢNG, TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG

Để xác định loài mới, các loài chưa định danh chúng tôi dựa vào các
dấu hiệu phân tử cùng với những dẫn liệu đặc điểm hình thái phân loại thu
được. Với 52 mẫu mô gan dùng để phân tích ADN từ 46 cá thể của 16 loài,
gồm các gen 16S, cytB/NTF3 và ND2. Phân tích được tiến hành tại Bảo
tàng Ô-xtrây-li-a, với sự cộng tác của Tiến sĩ Jodi Rowley, chuyên gia
nghiên cứu LC ở Bảo tàng Ô-xtrây-li-a.
2.3.4. Nghiên cứu sinh học, sinh thái
Một số đặc điểm sinh học, sinh thái học của các loài LC, BS gồm:
nơi ở, sinh sản cũng được thu thập từ các đợt nghiên cứu thực địa.
2.3.5. Phương pháp đánh giá độ phong phú của Lưỡng cư, Bò sát
Độ phong phú đánh giá theo 3 mức: loài hiếm gặp có tần số gặp dưới
25% trên tổng số lần khảo sát thực địa; loài ít gặp: tần số gặp từ 25% đến
dưới 50% và loài thường gặp: tần số gặp trên 50%.
Chương 3
KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN
3.1. Thành phần loài Lưỡng cư, Bò sát ở Pù Hoạt
3.1.1. Danh sách các loài Lưỡng cư, Bò sát ở Pù Hoạt
Từ năm 2009-2012, trên cơ sở phân tích 797 mẫu vật thu được qua các
đợt thực địa và tham khảo các tài liệu liên quan chúng tôi đã xây dựng
được danh lục LC, BS Khu BTTN Pù Hoạt có 107 loài. Trong đó 28 loài
trùng với nghiên cứu của các tác giả trước đây; 75 loài thu được mẫu; 7
loài quan sát, điều tra. Có 23 loài không thu được mẫu vật, căn cứ vào các
tài liệu cũng đưa vào danh mục (Bảng 3.1).
Bảng 3.1. Danh sách thành phần loài Lưỡng cư, Bò sát ở Pù Hoạt
- 7 –
TT Tên khoa học Tên phổ thông Tư liệu
AMPHIBIA LỚP LƯỠNG CƯ
ANURA Bộ Không đuôi
I. Bufonidae Họ Cóc
1. Duttaphrynus melanostictus (Schneider, 1799) Cóc nhà M

25. Amolops compotrix (Bain, Stuart & Orlov, 2006) Ếch com-po-tric*** M
26. Amolops cremnobatus Inger & Kottelat, 1998 Ếch bám đá lào M
27. Amolops mengyangensis Wu&Tian, 1995 Ếch bám đá meng-yang M
28. Babina chapaensis (Bourret, 1937) Chàng sa pa** M
29. Hylarana guentheri Boulenger, 1882 Chẫu M
30. Hylarana macrodactyla (Günther, 1858) Chàng hiu TL
31. Hylarana maosonensis (Bourret, 1937) Chàng mẫu sơn M
32. Hylarana nigrovittata (Blyth, 1855) Ếch suối M
33. Hylarana taipehensis Van Denburgh, 1909 Chàng đài bắc TL
34. Odorrana bacboensis (Bain, Lathrop, Murphy, Orlov &
Ho, 2003)
Ếch bắc bộ*
M
35. Odorrana nasica (Boulenger, 1903) Ếch mõm* M
36. Odorrana orba (Stuart and Bain, 2005) Ếch mồ côi** M
37. Odorrana sp. Ếch M
38. Rana johnsi Smith, 1921 Hiu hiu M
39. Pseudorana sp. M
- 8 –
TT Tên khoa học Tên phổ thông Tư liệu
VI. Rhacophoridae Họ Ếch cây
40. Chiromantis doriae (Boulenger, 1893) Nhái cây đô ri* M
41. Feihyla vittata (Boulenger, 1887) Nhái cây sọc* M
42. Gracixalus cf. jinxiuensis (Hu, 1978) Nhái cây gin xiu* M
43. Gracixalus quangi Rowley, Dau, Nguyen, Cao &
Nguyen, 2011
Nhái cây quang*****
M
44. Kurixalus bissaculus (Taylor, 1942) Ếch cây sần* M
45. Kurixalus cf. ananjevae (Matsui & Orlov, 2004) Nhái cây an-na-gie-va** M

X. Lacertidae Họ Thằn lằn thực
63. Takydromus kuehnei Van Denburgh, 1909 Liu điu kuc-ni* M
XI. Scincidae Họ Thằn lằn bóng
64.
\
Eutropis chapaensis (Bourret, 1937) Thằn lằn bóng sapa*
M
65. Eutropis longicaudatus (Hallowell, 1856) Thằn lằn bóng đuôi dài* QS
66. Eutropis multifasciatus (Kuhl, 1820) Thằn lằn bóng hoa* M
67. Scincella apraefrontalis Nguyen, Nguyen, Bohme &
Ziegler, 2010
Thằn lằn cổ hữu liên ***
M
68. Scincella reevesii (Gray, 1838) Thằn lằn cổ rive * M
69. Sphenomorphus cryptotis Darevsky, Orlov & Ho, 2004 Thằn lằn phê-nô tai lõm*
M
70. Tropidophorus baviensis Bourret, 1939 Thằn lằn tai ba vì* M
XII. Anguidae Họ Thằn lằn rắn
- 9 –
TT Tên khoa học Tên phổ thông Tư liệu
71. Dopasia ludovici (Mocquard, 1905) Thằn lằn rắn lu do
vic***
M
XIII. Varanidae Họ Kỳ đà
72. Varanus salvator (Laurenti, 1786) Kỳ đà hoa QS
Serpentes Phân bộ rắn
XIV. Pythonidae Họ Trăn
73. Python molurus (Linnaeus, 1758) Trăn đất TL
XV. Xenopeltidae Họ Rắn mống
74. Xenopeltis unicolor Reinwartd, in Boie, 1827 Rắn mống TL

98. Platysternon megacephalum Gray, 1831 Rùa đầu to TL
XX. Geoemydidae Họ Rùa thường
99. Cuora cyclornata Blanck, McCord & Le, 2006 Rùa vàng ĐT
100. Cuora galbinifrons Bourret, 1939 Rùa hộp trán vàng TL
101. Cyclemys oldhami Gray, 1930 Rùa đất âu ham TL
102. Geoemyda spengleri (Gmélin, 1789) Rùa đất spengle M
103. Sacalia quadriocellata (Siebenrock, 1903) Rùa bốn mắt M
XXI. Testudinidae Họ Rùa núi
104. Indotestudo elongata (Blyth, 1853) Rùa núi vàng TL
105. Manouria impressa (Günther, 1882) Rùa núi viền QS
- 10 –
TT Tên khoa học Tên phổ thông Tư liệu
XXII. Trionychidae Họ Ba ba
106. Palea steindachneri (Siebenrock, 1906) Ba ba gai ĐT
107. Pelodiscus sinensis (Wiegmann, 1834) Ba ba trơn QS
Ghi chú: M: Mẫu; TL: Tài liệu; ĐT: Điều tra; QS: Quan sát; *: Loài bổ
sung cho Pù Hoạt; **: Loài bổ sung cho Nghệ An; ***: Loài bổ sung cho
BTB; ****: Loài bổ sung cho Việt Nam; *****: Loài mới cho khoa học.
Những loài mới được ghi nhận: Đối chiếu với các nghiên cứu trước
đây Frontier 2000; Hoàng Xuân Quang và cs. (2008); Nguyen et al.
(2009); Nguyen et al. (2010); Ziegler et al. (2010); Hoàng Ngọc Thảo và
cs. (2012); chúng tôi đã bổ sung cho Pù Hoạt 47 loài LC, BS (bảng 3.1), và
ghi nhận vùng phân bố mới của 8 loài ở Nghệ An, bổ sung 8 loài cho Bắc
Trung Bộ gồm, phát hiện 2 loài mới cho Việt Nam là và 1 loài mới cho
khoa học. Ở Pù Hoạt có 7 taxon chưa định danh: 6 loài LC
(Leptobrachium sp, Leptolalax sp1., L. sp2., Ophryophryne sp., Odorrana
sp., Pseudorana sp.), 1 loài BS (Amphiesma sp.).
3.1.2. Nhận xét về cấu trúc thành phần loài
3.1.2.1. Cấu trúc thành phần giống và loài trong các họ LC ở Pù Hoạt
Khu BTTN Pù Hoạt có 2 bộ, 7 họ, 28 giống, 55 loài LC, trong đó bộ

Agamidae và Elapidae mỗi họ có 4 loài (7,69%), họ Gekkonidae và
Viperidae mỗi họ có 3 loài (5,77%), họ Testudinidae và Trionychidae mỗi
họ có 2 loài (3,85%), các họ Lacertidae, Anguidae, Varanidae, Pythonidae,
Xenopeltidae và Platysternidae mỗi họ có 1 loài (1,92%).
3.2. So sánh thành phần loài LC, BS Khu BTTN Pù Hoạt với các vùng
lân cận
Tổng số các loài LC, BS ở Khu BTTN Pù Hoạt, Pù Huống, Xuân
Liên và VQG Pù Mát là 167 loài (LC có 72 loài, BS 95 loài).
Nhóm Lưỡng cư:
- 12 –
Pù Hoạt có số loài nhiều nhất với 55 loài trên tổng số 72 loài LC ở
các khu vực trên (chiếm 76,39%), tiếp đến là Xuân Liên có 32 loài
(44,44% số loài), Pù Mát có 25 loài (34,72%) và thấp nhất là Pù Huống có
24 loài (33,33%). Các loài chỉ có ở mỗi khu vực: Có 3 loài LC (chiếm
4,17%) chỉ ghi nhận ở Pù Mát, 2 loài (2,78%) ở Pù Huống, 6 loài (8,33%)
ở Xuân Liên và nhiều nhất là Pù Hoạt có 26 loài (36,11%). Có 9 loài
(12,5%) chung cho cả 4 khu vực trên, đây là các loài phổ biến.
Bảng 3.2. Hệ số tương đồng LC giữa Pù Hoạt với các vùng lân cận
Pù Mát Pù Huống Pù Hoạt Xuân Liên
Pù Mát 1
Pù Huống 0,69388 1
Pù Hoạt 0,44444 0.45 1
Xuân Liên 0,52632 0,53571 0,54545 1
Kết quả phân tích cho thấy Pù Hoạt gần nhất với Xuân Liên (hệ số
tương đồng 0,54545), Pù Huống (0,45) và thấp nhất là Pù Mát (0,44444).
Khi sơ đồ hoá mối quan hệ giữa các khu vực lân cận cho thấy Pù Hoạt và
Xuân Liên tách thành 1 nhánh, Pù Mát và Pù Huống tách thành 1 nhánh
với chỉ số gốc nhánh là 100%, Pù Hoạt và Xuân Liên có chỉ số gốc nhánh
là 54%, Pù Mát và Pù Huống là 92% (bảng 3.2 và hình 3.1).
Hình 3.1. Sơ đồ mối quan hệ giữa LC Pù Hoạt

đến họ, 15 khoá đến giống và 24 đến loài cho 107 loài LC, BS ở KVNC.
Thứ tự trình bày mỗi loài gồm: Tên khoa học có hiệu lực, tên và tài
liệu xuất xứ đầu tiên của loài, tên phổ thông, tên địa phương tại khu vực
nghiên cứu, các chỉ số đo, đếm và tỉ lệ các chỉ số đo cơ bản; mô tả đặc
điểm hình thái các loài quý hiếm, loài đặc hữu và loài bổ sung cho Pù
- 14 –
Hoạt; một số nhận xét về thay đổi danh pháp, cũng như một số đặc điểm
sinh học, sinh thái học.
Ví dụ mô tả một loài ở vùng nghiên cứu
Leptobrachium Tschudi, 1838-Giống Cóc mày
Leptobrachium J. J. von Tschudi, 1838, Classif. Batrach., Neuchâtel: 81.
Pù Hoạt có 2 loài.
Khoá định tên các loài trong giống Cóc mày-Leptobrachium ở Pù Hoạt
1 (2) Mặt bụng có nhiều đốm trắng nhỏ li ti…… ….…. L. cf. chapaense
2 (1) Mặt bụng có nhiều đốm trắng lớn………………… …… …. L. sp.
3. Leptobrachium cf. chapaense (Bourret, 1937)
Megophrys hasseltii chapaensis R. Buorret, 1937. Bull. Gén. Instr. Publ.,
Hanoi, 4(14): 18.
Tên Việt Nam: Cóc mày sa pa (Việt), Pác quáng (Thái).
Số lượng mẫu: 18.
Con đực: SVL: 50,82-57,00 (54,24); HL: 19,50-25,20 (22,91); HW: 22,96-
26,69 (24,25); FL: 23,10-25,90 (24,60); TL: 18,92-21,10 (19,94); FOT:
17,89-20,90 (19,38); HL/HW: 0,81-1,04 (0,95); ESL/HL: 0,35-0,50 (0,42);
TD/ED: 0,44; ED/ESL: 0,63-0,90 (0,75); TL/SVL: 0,35-0,39 (0,37).
Con cái: SVL: 56,45-75,80 (66,63); HL: 22,05-30,20 (26,41); HW: 26,30-
30,20 (28,44); FL: 24,72-33,30 (29,48); TL: 20,74-26,60 (24,03); FOT:
19,59-25,10 (22,85); HL/HW: 0,84-1,00 (0,92); ESL/HL: 0,39-0,47 (0,43);
TD/ED: 0,48-0,56 (0,53); ED/ESL: 0,70-0,78 (0,74); TL/SVL: 0,34-0,38
(0,36).
Mô tả: Cơ thể có kích thước trung bình. Chi ngắn, gót không chồng lên nhau

TL, TD/ED, ED/ESL ở con cái nhỏ hơn. Hoa văn ở mặt dưới chi, bụng gồm
các đốm trắng lớn, rõ ràng còn L. cf. chapaense là các đốm trắng nhỏ li ti.
3.4. Phân bố Lưỡng cư, Bò sát ở Pù Hoạt
3.4.1. Phân bố theo độ cao
Trong tổng số 107 loài LC, BS ở Pù Hoạt có 75 loài trực tiếp thu
mẫu vật trong các đợt khảo sát phân bố ở 2 đai độ cao dựa vào sự thay đổi
của thảm thực vật là dưới 800 m và trên 800 m so với mực nước biển.
Về Lưỡng cư:
Có 40 loài LC phân bố ở độ cao dưới 800 m (chiếm 78,43% tổng số
loài), ở độ cao trên 800 m 33 loài (64,71%), 22 loài phân bố ở cả hai độ
cao trên (43,14%), 18 loài chỉ phân bố ở độ cao dưới 800 m (35,29%) và
11 loài chỉ phân bố ở độ cao trên 800 m (21,57%).
Về Bò sát:
Có 16 loài BS phân bố ở độ cao dưới 800 m (chiếm 66,67% tổng số
loài BS), ở độ cao trên 800 m 11 loài (45,83%), 7 loài phân bố ở cả hai độ
- 16 –
cao trên (29,17%), 10 loài chỉ phân bố ở độ cao dưới 800 m (41,66%) và 7
loài chỉ phân bố ở độ cao trên 800 m, chiếm 29,17%.
Nhận xét:
Số loài LC, BS giảm theo độ cao. Sự giảm số loài theo độ cao có thể
được giải thích như sau:
- Dưới 800 m ở Pù Hoạt là nơi có diện tích rộng thuộc đai khí hậu nhiệt
đới ẩm phù hợp với sự phát triển của thực vật và động vật. Sinh cảnh đa
dạng, nhiều sông suối, thức ăn phong phú. Đó là điều kiện sinh thái thuận
lợi đối với LC, BS. Các loài chỉ phân bố ở độ cao này thường là các loài
phổ biến, phân bố rộng: Duttaphrynus melanostictus, Ingerophrynus
galeatus, Occidozyga lima, Calotes emma, Hemydactylus vietnamensis,
Eutropis multifasciatus…
- Từ 800 m trở lên, thuộc đai khí hậu á nhiệt đới ẩm; nhiệt độ hạ thấp, rừng
thường có mây mù bao phủ. Điều kiện sống kém đa dạng, ít sông, suối

của LC, BS. Tiếp đến là rừng phục hồi sau nương rẫy có 35 loài, do thực
vật bị xáo trộn, thay đổi môi trường sống làm giảm số loài so với rừng
thường xanh ít bị tác động. Sinh cảnh khu dân cư và đất nông nghiệp ít
loài nhất có 10 loài, vì ở đây thường xuyên chịu tác động của con người.
Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Hoàng Văn Ngọc (2011) ở
Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang.
3.4.2.1. Phân bố của Lưỡng cư, Bò sát theo nơi ở
Có 39 loài LC, BS sống trên mặt đất (chiếm 36,45% tổng số loài),
trong đó LC 22 loài (chiếm 20,56%), BS 17 loài (chiếm 15,89%); 9 loài ở
nước (8,41%), trong đó LC 1 loài (0,93%), BS 8 loài (7,48%); trên cây có
24 loài (22,43%), LC 14 loài (13,08%), BS 10 loài (9,35%); 1 loài BS trên
đá (0,93%); 1 loài BS dưới đất (0,93%); 17 loài LS, BS sống trên mặt đất
và dưới nước (15,89%), LC 12 loài (11,21%), BS 5 loài (4,67%); 4 loài
trên mặt đất và trên cây (3,74%), LC 1 loài (0,93%), BS 3 loài (2,80%);
các nơi sống dưới nước và trên cây, trên cây và trên đá, trên mặt đất và
dưới đất có 2 loài BS (1,87%); 3 loài ở trên mặt đất, nước và trên cây
(2,80%), LC 2 loài (1,87%), BS 1 loài (0,93%); 3 loài LC trên mặt đất và
không rõ ràng ở nước (2,80%).
Nhận xét: Lưỡng cư có 7 nơi ở khác nhau, nơi ở nhiều nhất là sống
trên mặt đất (22 loài), tiếp đến là trên cây (14 loài), trên mặt đất và dưới
- 18 –
nước (12 loài) các nơi ở còn lại có từ 1-3 loài. Bò sát có 12 nơi ở, nhiều
nhất là trên mặt đất (17 loài), tiếp đến là trên cây (10 loài), dưới nước (8
loài) các nơi ở còn lại có từ 1-5 loài. Như vậy, nơi ở của LC kém đa dạng
hơn BS, điều này được lí giải: do đặc điểm cấu trúc cơ thể và khả năng
thích nghi với môi trường của LC kém hơn BS, do đó khả năng chiếm lĩnh
không gian sống của BS tốt hơn so với LC.
Căn cứ vào các dẫn liệu thu được từ nơi ở của các cá thể LC, BS
trưởng thành ở Pù Hoạt, chúng tôi bổ sung so với nghiên cứu của Bain et
al. (2011) như sau: 6 loài trên mặt đất Leptobrachium sp., Leptolalax eos,

và Lào; trong đó 2 loài Amolops cremnobatus và Odorrana orba ở Việt
Nam chỉ có phân bố tại Bắc Trung Bộ.
- Phân bố của các loài đến Pù Hoạt: Có 2 loài (1,87%) phân bố phía Nam
phát hiện ở Pù Hoạt là Amolops compotrix (có phân bố ở Kon Tum) và
Viridovipera vogeli (Nam đến Hà Tĩnh). Có 9 loài (8,41%) ở phía Bắc mới
biết có phân bố đến Pù Hoạt: 3 loài ở Việt Nam mới chỉ biết ở 1 vùng phân
bố là Amolops mengyangensis (Lào Cai), Rhacophorus maximus (Bắc
Giang) và Scincella apraefrontalis (Hữu Liên, Lạng Sơn); còn lại các loài
Tropidophorus baviensis, Lycodon meridionale, Odorrana bacboensis,
Hemidactylus vietnamensis, Sphenomorphus cryptotis, Amphiesmoides
ornaticeps hiện biết phân bố về phía Nam đến Nghệ An.
3.5. Tầm quan trọng, giá trị bảo tồn. Các áp lực đe dọa và đề xuất một
số biện pháp quản lí, bảo vệ khu hệ LC, BS ở Khu BTTN Pù Hoạt
3.5.1. Độ phong phú của LC, BS ở Pù Hoạt
Đánh giá độ phong phú 75 loài (thu được mẫu trong 7 đợt khảo sát
thực địa), cho thấy, ở Pù Hoạt có 37 loài hiếm gặp, chiếm 49,33% tổng số
loài, gồm 21 loài LC và 16 loài Bò sát (LC: 28,00%, BS: 21,33%); 20 loài
ít gặp chiếm 26,67% tổng số loài, 14 loài LC và 6 loài Bò sát (LC:
18,67%, BS: 8,00%) và 18 loài thường gặp chiếm 24,00% tổng số loài, 16
loài LC và 2 loài BS (LC: 21,33%, BS: 2,67%).
3.5.2. Các loài Lưỡng cư, Bò sát quý, hiếm
Khu hệ LC, BS Khu BTTN Pù Hoạt có 26 loài quý, hiếm, có giá trị
bảo tồn (chiếm 24,30% tổng số loài).
- Theo Sách Đỏ Việt Nam (2007) có 19 loài, chiếm 17,70% tổng số loài.
Trong đó, 4 loài ở mức CR (rất nguy cấp), 9 loài ở mức EN (nguy cấp) và
6 loài ở mức VU (sẽ nguy cấp).
- 20 –
- Theo Danh lục Đỏ IUCN (2012) có 14 loài, chiếm 13,08% tổng số loài.
Trong đó, 2 loài ở bậc CR (rất nguy cấp), 5 loài ở bậc EN (nguy cấp), 4
loài ở bậc VU và 3 loài ở bậc NT (sắp bị đe dọa).

Python molurus, Ptyas korros, Naja atra, Ophiophagus hannah,
Platysternon megacephalum, Cuora galbinifrons, Cyclemys oldhami,
Geoemyda spengleri, Sacalia quadriocellata, Indotestudo elongata, Palea
steindachneri Pelodiscus sinensis.
Tác động từ các dự án thủy điện và làm đường: Hiện ở Pù Hoạt có 3 nhà
máy thủy điện là Hủa Na, Bản Cốc và Sao Va. Xây dựng các thủy
điện tác động của nó đến ĐDSH là không nhỏ, đặc biệt là thủy điện
Hủa Na với công suất 180 MW, dung tích chứa 100 triệu m
3
nước gây
ngập diện tích lớn trong khu bảo tồn, đồng thời tạo ra sự ngăn cách
trong hoạt động của LC, BS. Ngoài ra hai dự án đường vành đai Tây
Nghệ An, từ xã Đồng Văn và từ xã Hạnh Dịch sang Lào xuyên ngang
qua khu bảo tồn hiện đang thi công cũng tác động lớn đến bảo vệ rừng
khi hai dự án này hoàn thành.
3.6. Một số biện pháp về quản lí, bảo tồn và phát triển tài nguyên LC,
BS ở khu BTTN Pù Hoạt
3.6.1. Tình hình quản lí
Dự án đầu tư thành lập khu BTTN Pù Hoạt được UBND tỉnh Nghệ
An thành lập từ năm 2002 nhưng đến 12/2012 mới có quyết định chính
thức và có Ban quản lí khu bảo tồn trên cơ sở Ban quản lí rừng phòng hộ
Quế Phong. Quản lí tài nguyên rừng trước 12/2012 do Hạt kiểm lâm Quế
Phong và chính quyền xã đảm nhận. Mỗi xã có một kiểm lâm viên, quản lí
toàn bộ công việc liên quan đến rừng. Lực lượng quá mỏng nên hầu như
không quản lí được. Mọi hành vi xâm phạm đến rừng hầu như không bị xử
lí. Tình trạng khai thác rừng diễn ra thường xuyên và liên tục, không được
ngăn chặn.
3.6.2 Một số giải pháp bảo tồn
- Bảo tồn loài: Cấm săn bắt, buôn bán các loài LC, BS có giá trị bảo
tồn, giá trị kinh tế cao. Các đối tượng cần đặc biệt chú ý bảo tồn gồm:

động ngoài giờ lên lớp cho học sinh là con em các đồng bào dân tộc vùng
sâu, vùng xa.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
- 23 –
Kết luận
1. Đã xác định được ở khu BTTN Pù Hoạt có 107 loài (55 loài LC thuộc 28
giống, 7 họ và 2 bộ và 52 loài BS thuộc 39 giống, 7 họ và 2 bộ); mô tả đặc
điểm hình thái và xây dựng khoá định tên đến loài cho 107 loài. Bổ sung cho
Pù Hoạt 47 loài, ghi nhận vùng phân bố mới của 8 loài ở Nghệ An và Bắc
Trung Bộ, bổ sung cho Việt Nam 2 loài (Leptolalax eos, Tylototriton
notialis), 1 loài mới cho khoa học Gracixalus quangi.
2. Số loài LC, BS phân bố giảm dần theo độ cao (56 loài dưới 800m, 44
loài trên 800m). Có 29 loài phân bố ở cả 2 độ cao trên. Có 28 loài chỉ phân
bố ở độ cao dưới 800 m và 18 loài chỉ phân bố ở độ cao trên 800m. LC,
BS ở khu BTTN Pù Hoạt có sự phân bố rất đa dạng theo sinh cảnh và nơi
ở. Sinh cảnh đa dạng nhất là rừng thường xanh ít bị tác động (60/107 loài),
nơi ở bắt gặp nhiều nhất là trên mặt đất (31/107 loài).
3. Khu hệ LC, BS khu BTTN Pù Hoạt có yếu tố đặc hữu cao, trong đó đặc
hữu cho vùng Đông Dương có 13 loài (11,26%), đặc hữu cho Việt Nam 8
loài (chiếm 7,48%), ở nhóm thằn lằn 5 loài (4,67%) và Lưỡng cư 3 loài
(2,8%). Trong cấu trúc khu hệ có 9 loài (8,41%) ở phía Bắc có phân bố đến
Pù Hoạt, 2 loài (1,87%) phân bố phía Nam được phát hiện ở Pù Hoạt.
4. Trong 107 loài LC, BS ở Pù Hoạt có 19 loài trong Sách Đỏ Việt Nam
(2007): 6 loài ở mức VU, 9 loài ở mức EN và 4 loài ở mức CR; 14 loài
trong Danh lục Đỏ IUCN (2012): 3 loài ở bậc NT, 5 loài ở bậc EN và 2
loài ở bậc CR, 4 loài ở bậc VU. 10 loài có trong Nghị định 32/2006/NĐ-
CP.
5. Áp lực đe dọa đến bảo tồn LC, BS ở Pù Hoạt là: phá rừng làm rẫy, khai
thác gỗ và lâm sản phi gỗ, săn bắt LC, BS làm thực phẩm và buôn bán, mất
rừng do các dự án làm thuỷ điện, làm đường.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status