Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình dạy môn Lịch sử lớp 4
trường Tiểu học Phú Sơn ở thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế.
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Như chúng ta đã biết, sự phát triển của xã hội luôn gắn liền với sự phát triển
của giáo dục và giáo dục quyết định cho sự phát triển của xã hội. Với yêu cầu của
đất nước, của xã hội đang ngày càng phát triển như hiện nay thì công tác giáo dục
chiếm một vị trí rất quan trọng trong việc đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ
cao. Như vậy muốn đất nước ngày càng phát triển thì phải đổi mới toàn diện hệ
thống giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Trong đó việc cải tiến và đổi
mới phương tiện dạy học (PTDH) là một trong những biện pháp hiệu quả nhất.
Tuy nhiên, việc đổi mới PTDH trên phạm vi cả nước vẫn gặp rất nhiều khó
khăn. Trong đó việc sử dụng phương tiện dạy học vẫn chưa được
sử dụng đồng bộ, chủ yếu tập trung nhiều ở những trường thành phố, còn ở
vùng nông thôn và miền núi thì vẫn chưa được đáp ứng đủ và còn gặp rất nhiều
khó khăn.
Xuất phát từ mục tiêu nhiệm vụ dạy học môn Lịch sử ở tiểu học hiện nay là
cung cấp cho học sinh (HS) một số kiến thức cơ bản, thiết thực về các sự kiện,
hiện tượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu ở các giai đoạn phát triển của lịch sử Việt
Nam từ buổi đầu dựng nước tới nay. Đồng thời hình thành và rèn luyện cho HS
các kĩ năng như quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệu lịch sử,
nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và chọn thông tin để giải đáp;
phân tích, so sánh, đánh giá các sự kiện, hiện tượng lịch sử. Từ đó báo cáo kết
quả học tập bằng lời nói, bài viết, hình vẽ, sơ đồ; đặc biệt là vận dụng các kiến
thức đã học vào thực tiễn đời sống… Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở HS
những thái độ và thói quen tích cực trong học tập.
Theo định hướng đổi mới phương pháp dạy học môn Lịch sử hiện nay là học
Lịch sử không phải là sự học thuộc, nạp vào trí nhớ của người học theo lối thầy
đọc trò chép, thầy giảng trò nghe, HS học thuộc lòng theo thầy, theo sách giáo
GVHD: Th.s. Thiếu Thị Hường SV: Nguyễn Thị Êm
1
2
Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình dạy môn Lịch sử lớp 4
trường Tiểu học Phú Sơn ở thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế.
Thiết kế phiếu điều tra HS để tìm hiểu thái độ, ý thức, sự hứng thú và mong
muốn của HS đối với việc học tập môn Lịch sử cũng như đối với việc sử dụng
PTDH trong môn Lịch sử của GV.
+ Điều tra, xử lí kết quả để rút ra kết luận về thái độ học tập, mong muốn
của HS về việc sử dụng các PTDH lịch sử của GV. Đồng thời biết được hiệu quả
của việc sử dụng các phương tiện đó thông qua cái nhìn của HS.
+ Phỏng vấn GV để tìm hiểu về cơ sở vật chất của trường và việc sử dụng
các PTDH môn Lịch Sử (các PTDH thường dùng, thuận lợi và khó khăn khi sử
dụng phương tiện, hiệu quả sử dụng phương tiện); tìm hiểu hoàn cảnh chung, thái
độ học tập của HS.
+ Dự giờ một tiết dạy lịch sử của GV để tìm hiểu GV sử dụng các phương
tiện dạy học như thế nào, có đảm bảo các yêu cầu không.
+ Xem vở ghi của HS để biết được việc ghi chép và mức độ hiểu bài của các
em như thế nào.
4.3. Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng PTDH trong quá trình
dạy môn Lịch sử lớp 4 trường Tiểu học Phú Sơn.
5. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu trong phạm vi sử dụng PTDH để dạy môn Lịch sử cho HS lớp
4A trường Tiểu học Phú Sơn.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Việc tìm hiểu được thực trạng và đề xuất một số biện pháp hiệu quả trong
việc sử dụng PTDH môn Lịch sử sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học
môn này ở trường Tiểu học Phú Sơn.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tôi sử dụng một số phương pháp sau:
7.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, nghiên cứu cơ sở lí luận
nhằm làm rõ vấn đề khoa học
với tư cách là phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS thì đó là các
nguồn tri thức, là các phương tiện giúp HS lĩnh hội các khái niệm, định luật,
thuyết khoa học…hình thành ở họ các kỹ năng, kỹ xảo,đảm bảo phục vụ mục
đích dạy học.
PTDH bao gồm máy móc, dụng cụ thí nghiệm, mô hình, mẫu vật, hóa chất,
tranh ảnh, đồ dùng giáo dục thể chất, âm nhạc, mỹ thuật, thiết bị nghe nhìn và các
thiết bị trực quan khác.
• Thiết bị dạy học lịch sử là loại phương tiện chứa đựng, chuyển tải lượng thông
tin đối với GV trong quá trình giảng dạy và là nguồn tri thức phong phú đa dạng,
nhằm phát triển trí tuệ, nâng cao năng lực nhận thức đối với HS.
Sử dụng các thiết bị dạy học một cách hiệu quả sẽ góp phần đổi mới phương
pháp dạy học của thầy và trò, chống lại việc “dạy chay”, “học chay”, một tình
trạng phổ biến ở nhiều trường hiện nay.
1.1.2. Phân loại phương tiện dạy học
Có thể phân loại các PTDH theo một vài cách khác nhau tùy theo quan điểm
sử dụng.
GVHD: Th.s. Thiếu Thị Hường SV: Nguyễn Thị Êm
5
Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình dạy môn Lịch sử lớp 4
trường Tiểu học Phú Sơn ở thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Dựa vào cấu tạo, nguyên lý hoạt động và chức năng của phương tiện,
PTDH có thể được phân làm hai phần: phần cứng và phần mềm.
+ Phần cứng bao gồm các phương tiện được cấu tạo trên cơ sở các nguyên
lý thiết kế về cơ, điện, điện tử theo yêu cầu biểu diễn nội dung bài giảng. Các
phương tiện này có thể là: các máy chiếu (phim, ảnh, xi nê), radio, ti vi, máy dạy
học, máy tính điện tử, máy phát thanh và truyền hình
Phần cứng là kết quả tác động của sự phát triển của khoa học kỹ thuật trong
nhiều thế kỷ. Khi sử dụng phần cứng, người GV đã cơ giới hóa và điện tử hóa
quá trình dạy học, mở rộng không gian lớp học và phạm vi kiến thức truyền đạt.
+ Phần mềm là những phương tiện trong đó sử dụng các nguyên lý sư
trình học tập, về thành tích học tập của HS.
- Dựa vào cấu tạo của phương tiện có thể phân các loại PTDH thành hai loại:
các PTDH truyền thống và các phương tiện nghe nhìn hiện đại.
1.2. Đặc trưng môn Lịch sử lớp 4
1.2.1. Khái quát môn Lịch sử lớp 4
Tổng quát Phân bài
Buổi đầu dựng nước và giữ
nước (khoảng thế kỉ VI trước
công nguyên đến khoảng năm
179 trước công nguyên)
Bài 1. Nước Văn Lang
Bài 2. Nước Âu Lạc
Hơn một nghìn năm đấu
tranh giành lại độc lập (từ
năm 179 TCN đến 938)
Bài 3. Nước ta dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến
phương Bắc
Bài 4. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)
Bài 5. Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo
(năm 938)
Bài 6. Ôn tập
Buổi đầu độc lập (từ năm
938 đến năm 1009)
Bài 7. Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân
Bài 8. Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ
nhất (năm 981)
Nước Đại Việt thời Lý (từ
năm 1009 đến năm 1226)
Bài 9. Nhà Lý dời đô ra Thăng Long
Bài 10. Chùa thời Lý
Bài 27. Nhà Nguyễn thành lập
Bài 28. Kinh thành Huế
Bài 29. Tổng kết
1.2.2. Đặc trưng môn Lịch sử lớp 4
Đặc trưng nổi bật của môn Lịch sử lớp 4 là:
- Lịch sử là những sự việc đã diễn ra, có thật và tồn tại khách quan trong quá
khứ. Do đó, không thể phán đoán, suy luận, tưởng tượng để nhận thức lịch sử.
Nhận thức lịch sử phải thông qua những dấu tích của quá khứ, cũng như chứng
cứ về sự tồn tại của các sự việc đã diễn ra. Do đó, việc đầu tiên, tất yếu không thể
không tiến hành là cho HS tiếp nhận thông tin từ sử liệu bằng nhiều hình thức
khác nhau. Ở tiểu học cần có những biểu tượng về các sự kiện đã diễn ra, cần
phải tạo ra được nhận thức của HS những hình ảnh cụ thể, sinh động, rõ nét về
các nhân vật lịch sử và hoạt động của họ trong thời gian, không gian, trong những
điều kiện lịch sử cụ thể, những quan hệ xã hội cụ thể.
GVHD: Th.s. Thiếu Thị Hường SV: Nguyễn Thị Êm
8
Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình dạy môn Lịch sử lớp 4
trường Tiểu học Phú Sơn ở thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Học tập Lịch sử theo quan niệm hiện đại không phải là sự học thuộc, nạp
vào trí nhớ của HS theo lối thầy đọc trò chép, thầy giảng trò nghe, HS học thuộc
lòng theo thầy, theo sách giáo khoa mà: HS thông qua quá trình làm việc với sử
liệu, tự tạo ra cho mình các hình ảnh lịch sử, tự hình dung về lịch sử đã diễn ra
trong quá khứ. “Ngay ở tiểu học, HS cũng phải được làm quen và học tập các
thao tác trí tuệ trong hoạt động khoa học của các nhà sử học, dù mức độ của nó
chỉ dừng lại ở các hình thức sơ đẳng nhất”. Điều đó cũng có nghĩa là, ngay ở tiểu
học, quan niệm học tập lịch sử đồng nghĩa với kể chuyện lịch sử cần được bỏ đi,
phải được thay thế quan niệm mới: học tập lịch sử là làm việc với các nguồn tư
liệu lịch sử theo nghĩa rộng của nó”
Cần phải thay đổi quan niệm rằng học tập lịch sử đồng nghĩa với kể chuyện
lịch sử tức là không phải là sự cung cấp sẵn cho HS những thông tin về các sự
dụng trong dạy học lịch sử. HVTB thường được GV trực tiếp vẽ trong quá trình
giảng dạy và phải đạt được các yêu cầu khi sử dụng loại phương tiện này. HVTB
có thể được vẽ một cách tổng quát hoặc theo chi tiết, HVTB có thể là hình hai
chiều hoặc hình ba chiều.
Hình vẽ trên bảng chỉ được thực hiện khi có GV vì nó không có khả năng
truyền đạt tất cả các tính chất của đối tượng nghiên cứu, của các hiện tượng và
quá trình xảy ra. Trong quá trình giảng bài, GV có thể bổ sung các chi tiết để
minh họa các vấn đề được nêu. Hình vẽ trên bảng cần được xuất hiện trong thời
gian dạy học khi cần minh họa các vấn đề được giáo viên thuyết giảng bằng lời,
vì vậy việc vẽ sẵn các hình vẽ trước giờ học làm cho hiệu quả sử dụng của nó
kém đi rất nhiều.
Tác dụng:
+ HVTB có thể được thực hiện theo từng giai đoạn nhằm dẫn dắt sự tiếp thu
liên tục của HS. Hình vẽ trên bảng có thể được dùng trong các công việc: nghiên
cứu tài liệu mới, làm việc độc lập và kiểm tra.
+ GV có thể dùng hình vẽ trên bảng để kiểm tra kiến thức của HS, làm rõ
hơn các vấn đề cần truyền đạt, tăng mức độ giao tiếp giữa thầy và trò.
+ HVTB truyền đạt tốt nhất các lượng tin qua hình phẳng vì vậy giúp cho
HS dễ quan sát và học tập.
+ Giúp cho HS dễ dàng ghi nhớ kiến thức lịch sử một cách trực tiếp và dễ
hiểu.
Các loại tranh ảnh lịch sử:
GVHD: Th.s. Thiếu Thị Hường SV: Nguyễn Thị Êm
10
Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình dạy môn Lịch sử lớp 4
trường Tiểu học Phú Sơn ở thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế.
Tranh ảnh lịch sử được sử dụng trong dạy học môn Lịch sử lớp 4 bao gồm
những tranh ảnh về các sự kiện, nhân vật lịch sử, các hiện vật lịch sử,…
Tác dụng:
+ Tranh ảnh lịch sử giúp cho GV tiết kiệm được thời gian vẽ hình trên lớp,
tượng học tập.
GVHD: Th.s. Thiếu Thị Hường SV: Nguyễn Thị Êm
11
Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình dạy môn Lịch sử lớp 4
trường Tiểu học Phú Sơn ở thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế.
+ Kênh hình trong SGK là nguồn cung cấp thông tin độc lập cho HS, vừa là
phương tiện để minh họa, cụ thể hóa nội dung kiến thức có trong kênh chữ.
+ SGK cung cấp kiến thức cho HS, giúp các em hiểu rõ các sự kiện, hiện
tượng hiện tượng lịch sử, tiến tới hình thành khái niệm và góp phần giáo dục tư
tưởng, tình cảm, đạo đức cũng như phát triển toàn diện HS.
+ SGK giúp cho việc học ở nhà của HS được tốt hơn, nó giúp ích cho việc
tự nghiên cứu bài mới và học bài cũ của HS.
+ Các câu hỏi trong sách nhằm củng cố kiến thức cho HS và phát huy tính
tích cực, khả năng tư duy cho HS.
• Các phương tiện nghe nhìn hiện đại bao gồm: máy chiếu(Projector,
Overhead…), máy tính, phần mềm Powerpoint, các phần mềm trình diễn,
phim tư liệu, video,…
Tác dụng, vai trò:
- Giúp cho những kiến thức lịch sử trong quá khứ được tái hiện lại một cách trực
quan, nhờ đó mà HS có thể hình dung sự kiện, hiện tượng LS đó.
- Giảng dạy bằng phương tiện máy chiếu, GV dễ dàng làm cho bài giảng lịch sử
trở nên sinh động, trực quan thú vị hơn bằng việc đưa vào đó những âm thanh,
hình ảnh, màu sắc
- Sử dụng CNTT trong dạy học lịch sử sẽ giúp GV nâng cao trình độ chuyên môn
và kỹ năng sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại trong dạy học, mặt khác tiết
kiệm được thời gian trong bài giảng có sử dụng nhiều đoạn miêu tả, tường thuật.
Khi có sự hỗ trợ của phần mềm, những hình ảnh, âm thanh được truyền tải đến
học sinh (HS) một cách nhanh chóng, chính xác, khoa học chóng nắm bắt được
mức độ tiếp thu bài của HS, từ đó có sự điều chỉnh trong phương pháp dạy học.
- Làm cho công việc dạy học nhẹ nhàng, thoải mái; hỗ trợ GV hệ thống
Trong dạy học Lịch sử, PTDH có một vai trò hết sức quan trọng. Ngoài tác
dụng minh họa cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn, góp phần tạo biểu tượng,
cụ thể hóa sự kiện Lịch sử cho HS dễ tiếp thu kiến thức, thiết bị dạy học còn là
một nguồn tư liệu quan trọng. Trên cơ sở khai thác thông tin từ nguồn tư liệu do
thiết bị mang lại, dưới sự tổ chức, dẫn dắt của GV, HS sẽ từng bước lĩnh hội,
nắm vững kiến thức bài học. Trong quan niệm dạy học hiện nay, kênh hình trong
sách giáo khoa và thiết bị dạy học không chỉ dừng lại ở việc minh họa kiến thức
bài học , làm bài học thêm sinh động mà còn xác định là nguồn sử liệu quan
trọng, một bộ phận cấu thành của bài học lịch sử.
Vì vậy, việc sử dụng các PTDH vào dạy môn Lịch sử góp phần đổi mới
phương pháp dạy học môn này. Điều này không chỉ thay đổi cách thức, phương
pháp học tập của HS mà còn góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
1.4.2. Đối với học sinh
Trong hoạt động giảng dạy, các PTDH có vai trò rất quan trọng, làm tăng
tính trực quan trong quá trình tiếp nhận tri thức của HS. Các PTDH góp phần
GVHD: Th.s. Thiếu Thị Hường SV: Nguyễn Thị Êm
13
Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình dạy môn Lịch sử lớp 4
trường Tiểu học Phú Sơn ở thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế.
phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy và ngôn ngữ cho HS, rèn
luyện các kĩ năng làm việc với tranh ảnh,bản đồ, biểu đồ…
Các thiết bị dạy học vừa là nguồn tri thức, vừa là giá mang tri thức đến với
cho người học bằng việc tác động đến các giác quan, tạo được sự hấp dẫn, kích
thích lòng ham muốn học tập, phát triển hứng thú nhận thức của HS. Mặt khác
theo yêu cầu của chương trình và sách giáo khoa mới thì thiết bị dạy học là một
phương tiện hữu hiệu giúp HS tự khám phá tri thức, hình thành kĩ năng học tập,
thực hành góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
Việc sử dụng PTDH các môn học nói chung và môn Lịch sử nói riêng sẽ
giúp cho HS học tập một cách tích cực, chủ động, sáng tạo và thay đổi thói quen
học tập thụ động, ghi nhớ máy móc
1.6.1. Các yêu cầu chung đối với các phương tiện dạy học
1.5.1.1. Đảm bảo tính khoa học, sư phạm
Tính khoa học sư phạm là một chỉ tiêu chính về chất lương PTDH. Chỉ tiêu
này đặc trưng cho sự liên hệ giữa mục tiêu đào tạo và giáo dục, nội dung phương
pháp dạy học với cấu tạo và nội dung của phương tiện. Tính khoa học sư phạm
thể hiện ở chỗ:
- PTDH phải bảo đảm cho HS tiếp thu được kiến thức, kỹ năng kỹ xảo tương ứng
với yêu cầu của chương trình học, giúp cho GV truyền đạt một cách thuận lợi các
kiến thức phức tạp, kỹ xảo tay nghề
- Nội dung và cấu tạo của PTDH phải bảo đảm các đặc trưng của việc dạy lý
thuyết và thực hành cũng như các nguyên lý sư phạm cơ bản.
- PTDH phải phù hợp với nhiệm vụ sư phạm và phương pháp giảng dạy, thúc đẩy
khả năng tiếp thu năng động của HS.
- Các PTDH hợp thành một bộ phải có mối liên hệ chặt chẽ về nội dung, bố cục và
hình thức, trong đó mỗi cái phải có vai trò và chỗ đứng riêng.
PTDH phải thúc đẩy việc sử dụng các phương pháp dạy học hiện đại và các
hình thái tổ chức dạy học tiên tiến.
1.5.1.2. Đảm bảo tính nhân trắc học
GVHD: Th.s. Thiếu Thị Hường SV: Nguyễn Thị Êm
15
Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình dạy môn Lịch sử lớp 4
trường Tiểu học Phú Sơn ở thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế.
Thể hiện ở sự phù hợp của các PTDH với tiêu chuẩn tâm sinh lý của GV và
HS, gây được sự hứng thú cho HS và thích ứng với công việc sư phạm của thầy
và trò. Cụ thể là:
- PTDH dùng để biểu diễn trước HS phải được nhìn rõ ở khoảng cách 8m. Các
PTDH dùng cho cá nhân HS không được chiếm nhiều chỗ trên bàn học.
- PTDH phải phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của HS.
- Màu sắc phải sáng sủa, hài hòa và giống với màu sắc của vật thật (nếu là mô
hình, tranh vẽ)
hưởng đến sự quan sát của học sinh.
- Hình vẽ phải được vẽ ở nơi thuận lợi để HS dễ quan sát.
- GV cần kết hợp với việc trình bày các kí hiệu, dùng ngôn ngữ để giúp cho học
sinh hiểu các sự kiện, hiện tượng lịch sử mà GV muốn giảng cho HS biết.
- Hình vẽ trên bảng phải rõ ràng, đơn giản để HS có thể theo kịp với quá trình
giảng bài của GV. Hình vẽ trên bảng không được có quá nhiều chi tiết và phải
được bố trí sao cho giáo viên có chỗ để ghi thêm hoặc vẽ thêm các vấn đề cần
làm rõ.
- Sau khi vẽ xong, GV cần phải cho HS tiến hành theo các bước sau:
+ Đọc tên và cho biết các sự kiện lịch sử trên hình vẽ …
+ Tìm hiểu mốc thời gian diễn ra sự kiện lịch sử, địa phương diễn ra sự
kiện đó.
+ Rút ra nguyên nhân, ý nghĩa, bài học lịch sử từ sự kiện đó.
1.5.2.2. Đối với việc sử dụng tranh ảnh, lược đồ, bản đồ trong sách giáo khoa
Để sử dụng một cách có hiệu quả các tranh ảnh, lược đồ trong sách giáo
khoa, GV cần nắm vững một số yêu cầu sau:
- Nắm chắc và hiểu rõ nội dung bức tranh, ảnh, lược đồ trong sách giáo khoa (Nói
về cái gì? Về ai? Thể hiện điều gì? ). Nếu không nắm được nội dung, GV không
thể khai thác và sử dụng tốt.
- Sử dụng phải đúng lúc, đúng mục đích, đúng chỗ, đúng thời điểm; có phương
pháp thích hợp khi sử dụng mỗi loại.
- Chú ý đến trình độ của HS, tâm sinh lí lứa tuổi.
- Cần phát huy tính tích cực của HS khi sử dụng tranh ảnh, lược đồ, bản đồ. Bằng
việc ra câu hỏi liên quan đến tranh ảnh, lược đồ, bản đồ hay cho các em chơi các
trò chơi liên quan đến tranh ảnh, lược đồ, bản đồ.
GVHD: Th.s. Thiếu Thị Hường SV: Nguyễn Thị Êm
17
Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình dạy môn Lịch sử lớp 4
trường Tiểu học Phú Sơn ở thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đảm bảo kết hợp giữa lời nói với việc sử dụng các tranh ảnh, lược đồ, bản đồ để
Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình dạy môn Lịch sử lớp 4
trường Tiểu học Phú Sơn ở thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế.
Bức ảnh sau cùng mô tả cảnh múa hát của con người trong lễ hội đua
thuyền. Trên đầu mọi người đều đội mũ long chim cao, có người thổi khèn, có
người cầm vũ khí múa theo một điệu nhạc.
Có thể nói đời sống của người Lạc Việt thật giản dị, mộc mạc nhưng tươi
vui.
1.5.2.4. Đối với việc sử dụng bản đồ, lược đồ
- Khi sử dụng bản đồ, lược đồ, GV cần chọn đúng thời điểm treo bản đồ, lược đồ
(không treo trước hoặc trình bày xong mới treo).
- Không nên treo ở giữa bảng đen, vì bảng còn để viết, phải treo ở chỗ cao ở góc
bên phải bảng, nơi có đủ ánh sáng cho tất cả các HS nhìn thấy rõ.
- GV phải đứng ở bên phải bản đồ, dùng thước chỉ các địa điểm cho thật chính xác.
- Trước khi sử dụng bản đồ, lược đồ để trình bày nội dung bài giảng, GV phải cho
HS quan sát, nắm vững các kí hiệu quy ước trên bản đồ/lược đồ, phải giúp cho
HS hiểu nội dung lịch sử được diễn đạt qua kí hiệu trên lược đồ, bản đồ.
- Cần kết hợp việc sử dụng bản đồ/lược đồ với các phương pháp dạy học khác như:
Đặt câu hỏi nhận thức, dùng lời tường thuật lại trận đánh, kết hợp với tranh ảnh,
tài liệu văn học, phim tư liệu và niên biểu lịch sử để miêu tả, tường thuật,…
Ví dụ: Khi dạy bài 5: Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo
(năm 938), GV có thể đặt câu hỏi dựa trên bản đồ “quan sát bản đồ em hãy nêu rõ
Ngô Quyền đã lợi dụng địa hình như thế nào ở vùng cửa sông Bạch Đằng để
đánh thắng quân Nam Hán?”
Hoặc là kết hợp bản đồ, lược đồ với các đoạn tường thuật , miêu tả: sau khi
nói qua về bối cảnh dẫn tới trận chiến, GV cần mô tả vị trí sông, rừng, từ đó làm
rõ kế sách của Ngô Quyền và tiếp theo là tường thuật trận chiến.
- Cần đặt ra những tình huống có vấn đề buộc HS phải động não để tạo nên sự vận
động tích cực bên trong.
- Đồng thời với việc sử dụng bản đồ SGK, GV phải biết khai thác, lồng ghép nội
dung kiến thức thể hiện bản chất tiềm ẩn đằng sau các con số, sự kiện. Qua đó,
xác và hướng đến các hoạt động phát huy tính tích cực của HS, nên làm cho HS
được bộc lộ suy nghĩ của mình qua giờ học. Sự trình diễn đừng quá phô diễn mà
phải chú ý đến mục tiêu đặt ra từ bài học.
1.6. Đặc điểm tâm lí học sinh tiểu học
1.6.1. Sự phát triển nhận thức của HS tiểu học
Ở bậc tiểu học, đây là giai đoạn quan trọng trong việc giáo dục nhận thức
cho các em. Sáu tuổi vào lớp 1 là bước ngoặc lớn của trẻ thơ.
GVHD: Th.s. Thiếu Thị Hường SV: Nguyễn Thị Êm
20
Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình dạy môn Lịch sử lớp 4
trường Tiểu học Phú Sơn ở thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế.
Khi môi trường thay đổi, đòi hỏi trẻ phải tập trung chú ý từ 30-35 phút. Trẻ
chuyển từ hiếu kì, tò mò sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Bước đầu
trẻ biết kiềm chế tính hiếu động, bột phát để chuyển thành tính kỉ luật, nề nếp,
chấp hành nội quy học tập. Phát triển độ tinh nhạy và sức bền vững của thao tác
tinh khéo đôi bàn tay để tập viết.
1.6.1.1. Nhận thức cảm tính
Các cơ quan cảm giác đều phát triển và đang trong quá trình hoàn thiện.
• Tri giác:
Tri giác mang tính đại thể, ít đi vào chi tiết và không ổn định:
+ Ở đầu bậc tiểu học: tri giác thường gắn với hành động trực quan.
+ Ở cuối bậc tiểu học: tri giác bắt đầu mang tính xúc cảm, trẻ thích quan sát
các sự vật, hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn. Trẻ đã tri giác có mục đích,
phương hướng rõ ràng (biết lập kế hoạch học tập, sắp xếp việc nhà…)
1.6.1.2. Nhận thức lí tính
• Tư duy:
Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan, cụ
hành động. Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu
tượng, khái quát.
Khả năng khái quát phát triển dần theo lứa tuổi. Lớp 4, 5 bắt đầu biết khái
bền vững, chưa tập trung lâu dài và dễ bị phân tán.
- Ở cuối bậc tiểu học: Chú ý có chủ định phát triển dần và chiếm ưu thế. Ở trẻ đã
có sự nỗ lực về ý chí trong hoạt động học tập, chẳng hạn như học thuộc một bài
thơ, công thức toán, hay một bài hát dài…
1.6.1.5. Trí nhớ và sự phát triển nhận thức
Loại trí nhớ trực quan, hình tượng chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic.
- Ở đầu bậc tiểu học: ghi nhớ máy móc chiếm ưu thế hơn so với ghi nhớ ý nghĩa.
Nhiều HS chưa biết tổ chức việc ghi nhớ có ý nghĩa, chưa biết dựa vào những
điểm tựa để ghi nhớ, chưa biết cách khái quát hóa hay xây dựng dàn bài để ghi
nhớ tài liệu.
- Ở cuối bậc tiểu học: ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ được tăng cường. Ghi
nhớ có chủ định đã phát triển. Hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định còn phụ
GVHD: Th.s. Thiếu Thị Hường SV: Nguyễn Thị Êm
22
Thực trạng sử dụng phương tiện dạy học trong quá trình dạy môn Lịch sử lớp 4
trường Tiểu học Phú Sơn ở thị xã Hương Thủy – tỉnh Thừa Thiên Huế.
thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ, sự hấp dẫn của nội
dung tài liệu, sự hứng thú của các em…
1.6.1.6. Ý chí và sự phát triển nhận thức
- Ở đầu bậc tiểu học: hành vi của trẻ còn phụ thuộc vào yêu cầu của người lớn (đi
học để bố cho tiền, quét nhà để mẹ cho tiền, học để cô khen). Khi đó, sự điều
chỉnh ý chí đối với việc thực thi hành vi của các em còn yếu. Các em chưa đủ ý
chí để thực hiện đến cùng mục đích của mình đã để ra nếu gặp khó khăn.
- Ở cuối bậc tiểu học: các em đã có khả năng biến yêu cầu của người lớn thành
mục đích hành động của mình. Tuy nhiên, năng lực ý chí còn thiếu bền vững,
chưa thể trở thành nét tính cách của các em. Việc thực hiện hành vi vẫn chủ yếu
phụ thuộc vào hứng thú nhất thời.
1.6.2. Sự phát triển nhân cách của học sinh tiểu học
Nhìn chung, việc hình thành nhân cách của HSTH mang những đặc điểm cơ
bản sau:
2.1.1.1. Những thuận lợi
Vì Phú Sơn là một xã miền núi nên được tỉnh hỗ trợ xây dựng những cơ sở
vật chất như trường học, trạm y tế, điện, đường, bưu điện… nhằm phục vụ nhu
cầu học tập, khám chữa bệnh, đi lại và các nhu cầu khác của người dân. Trong đó
giáo dục là một trong những vấn đề được quan tâm nhất.
Đặc biệt, vào tháng 6 năm 2011, một trong những nhà tài trợ SAVICE ở Mỹ
đã tài trợ $26,050 USD để xây dựng cho trường Tiểu học Phú Sơn 2 phòng học
mới, một thư viện mới, và 3 phòng hiệu bộ mới. Nhờ vậy các thầy cô và các em
HS hiện nay có thêm phòng và điều kiện để sinh hoạt và học tập. Nhờ sự tài trợ
và ủng hộ của SAVICE, cơ hội học vấn không còn bị hạn chế cho nhiều trẻ em
của các gia đình sống trong vùng lân cận của nhà trường này. “Trường học là một
tòa nhà có bốn bức tường chứa tương lai bên trong.” (Thầy giáo Lon Watters)
Mới đây nhất trường đã được UBND thị xã Hương Thủy đã có chủ trương
mở thêm “lớp nhô” khối 6 đầu tiên tại điểm trường tiểu học Phú Sơn. Nhờ vậy,
tình trạng bỏ học của HS được khắc phục rõ rệt.
Ngoài ra, trường cũng đã được tỉnh quan tâm cung cấp nhiều trang thiết bị
dạy học mới, đảm bảo cho công tác dạy học của GV, góp phần nâng cao chất
lượng dạy và học.
Không những vậy, trường có đội ngũ GV tâm huyết với nghề, cố gắng vượt
bao khó khăn để đem đến con chữ cho HS.
2.1.1.2. Những khó khăn
Ngoài những thuận lợi ở trên thì trường vẫn còn nhiều khó khăn. Trường
cách trung tâm thành phố Huế gần 24km, cách thị xã Hương Thủy khoảng 12km
vì vậy điều kiện đi lại rất khó khăn cho GV. Những thầy cô giáo ở đây hằng ngày
phải vượt nhiều cây số để đi dạy. Trong khi đó con đường đi lại rất hiểm trở,
không có hệ thống đèn đường,…
Khó khăn thứ hai là đối với HS, các em phần lớn là con cái của những gia
đình có hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ chủ yếu làm nghề nông, trồng trọt và chăn
GVHD: Th.s. Thiếu Thị Hường SV: Nguyễn Thị Êm
25