Lời Cảm Ơn
Để thực hiện và hoàn thành tốt khóa luận thực tập tốt nghiệp này em đã nhận được
sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy (cô) cùng với sự giúp đỡ củ a các anh (chò)
phòng kinh tế thò xã Hương Thủy.
Trước hết em xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn Th.s Nguyễn Thò Hóa đã tận tình dành nhiều thời gian, công sức trực tiếp hướng dẫn em
trong suốt quá trình xây dựng và thực hiện khóa luận tốt nghiệp này.
Em xin chân thành cám ơn thầy cô giáo trong khoa Kinh tế Chính trò, trường Đại
học Kinh tế - Đại học Huế đã truyền đạt và trang bò cho em những kiến thức quý báu
trong quá trình học tập tại trường.
Em xin chân thành cám ơn đến các anh (chò) phòng kinh tế Thò xã Hương Thủy đã
giúp đỡ em hoàn thành tốt đề tài này.
Tuy em đã cố gắng hoàn thiện khóa luận thực tập với nội dung khá đầy đủ, song do
thời gian thực tập và kiến thức còn hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý, đánh giá của quý thầy (cô) để khóa luận tốt
nghiệp này được hoàn thiện hơn.
Để tỏ lòng biết ơn, em xin gửi lời đến Ban giám hiệu trường Đại học Kinh tế - Đại
học Huế cùng với các thầy (cô) giáo trong khoa Kinh tế Chính trò luôn mạnh khỏe và
hoàn thành tốt sự nghiệp trồng người của mình. Chúc anh (chò) phòng kinh tế TX Hương
Thủy công tác tốt và gặt hái được nhiều thành công trong công việc cũng như cuộc sống.
Em xin chân thành cám ơn!
Huế, tháng 05 năm 2015
Sinh viên thực hiện
TRƯƠNG HIẾU HẠNH
1
1
:
Tiểu, thủ công nghiệp
2
DANH MỤC BẢNG
Trang
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang
3
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển Tiểu thủ công nghiệp (TTCN) hoàn toàn phù hợp với đường lối đổi
mới của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn hiện nay. Một mặt, TTCN giúp chúng ta
khôi phục được các làng nghề, nhất là các làng nghề truyền thống. Mặt khác giải quyết
việc làm, thu hút được nguồn lao động dư thừa trong nông thôn, sự dụng được những
lao động già cả, khuyến tật, trẻ em, tăng thu nhập cho người lao động, ổn định về mặt
chính trị - xã hội, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Không những thế,
việc phát triển TTCN còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông
thôn, tăng tỷ trọng lao động trong khu vực công nghiệp và dịch vụ, tạo tiền đề quan
Mục tiêu: Nghiên cứu thực trạng Phát triển Tiểu, thủ công nghiệp và xây dựng
nông thôn mới của thị xã Hương Thủy từ đó tìm ra các nguyên nhân ảnh hưởng và đề
ra một số giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục phát triển Tiểu, thủ công nghiệp tại thị xã
cho phù hợp.
Nhiệm vụ:
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về ngành nghề tiểu, thủ công nghiệp,
về vị trí, vai trò, sự cần thiết và những xu hướng phát triển của các ngành nghề tiểu thủ
công nghiệp ở thị xã Hương Thủy.
Đánh giá thực trạng sự phát triển tiểu, thủ công nghiệp tại thị xã Hương Thủy
trong giai đoạn 2010 - 2013, những kết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục.
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng và tìm ra thế mạnh để phát triển các ngành nghề tiểu,
thủ công nghiệp.
Đề xuất phương hướng, các giải pháp nhằm phát triển một số ngành tiểu thủ
công nghiệp tại thị xã Hương Thủy trong thời gian tới.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Nghiên cứu tình hình phát triển, sản xuất và
kinh doanh của các ngành Tiểu, thủ công nghiệp tại thị xã Hương Thủy như nghề
mộc mĩ nghệ, làm chổi đót,… Đối tượng trực tiếp là các chủ thể tham gia sản xuất
ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trong một số hộ và làng nghề truyền thống ở thị xã
Hương Thủy.
5
6
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Nghiên cứu phát triển tiểu thủ công nghiệp thuộc thị xã Hương
Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.
triển kinh tế - xã hội (KT - XH) trên địa bàn Thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế
trong giai đoạn hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ đối tượng nghiên cứu, đề tài này được trình bày dựa trên cơ sở sự dụng
các phương pháp sau:
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học kinh tế, phép duy vật biện
chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Các phương pháp khoa học: Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: thu thập số
liệu từ sách, báo, tài liệu, niên giám thống kê, báo cáo… từ các phòng, ban liên quan
của thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế; phương pháp thu thập số liệu sơ cấp,
chọn mẫu; phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu; phương pháp diễn dịch, quy nạp
6. Đóng góp của đề tài
Cung cấp tư liệu cho Thị xã Hương Thủy cũng như những địa phương khác xác
định phương hướng, hoạch định các chiến lược, chính sách để đẩy mạnh phát triển
Tiểu thủ công nghiệp gắn liền với việc phát triển nông thôn mới, qua đó góp phần phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị
cho những người quan tâm đến vấn đề này, nhất là sinh viên chuyên ngành KTCT.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, mục lục, phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, nội dung đề tài nghiên cứu khoa học này gồm kết cấu thành 3 chương
như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về Phát triển tiểu, thủ công nghiệp gắn với
xây dựng nông thôn mới.
Chương 2: Thực trạng phát triển Tiểu, thủ công nghiệp gắn với xây dựng nông
thôn mới tại thị xã Hương Thủy, Tỉnh Thừa Thiên Huế.
công nghiệp có quy mô nhỏ, không dùng máy móc hoặc dùng máy móc có công suất
thấp ở một số công đoạn sản xuất đã có từ trước. Mỗi quốc gia, trong các thời kỳ khác
nhau, có những khái niệm về tiểu thủ khác nhau:
Ở Nhật Bản, luật ban hành năm 1957 quy định: Các xí nghiệp sử dụng dưới 300
công nhân, mức vốn dưới 10 triệu yên, được thừa nhận hợp pháp là “tiểu công
nghiệp”, được hưởng những chính sách tài trợ về tiểu công nghiệp.
9
Ở Ấn Độ trước năm 1960 quy định TCN là những cơ sở có dưới 100 công nhân
nếu không dùng năng lượng, hay dưới 50 công nhân nếu có sử dụng năng lượng. Đến
1960 đã có sự thay đổi và căn cứ vào mức vốn không quá 500.000 Rupi hay 1.000.000
Rupi trong một số trường hợp đặc biệt.
Do có sự xác định khác nhau, năm 1952, Ủy ban kinh tế của Liên hiệp quốc đã
đưa ra định nghĩa để chuẩn hóa các thuật ngữ được sử dụng. Theo đó, công nghiệp sản
xuất quy mô nhỏ là loại xí nghiệp chủ yếu sử dụng nhân công được trả lương, số lượng
không quá 50 người ở mọi cơ sở sản xuất không dùng động lực hay dùng không quá
20 người trong một xí nghiệp có dùng động lực.
Ở nước ta, theo nghị định số 90/2001/NĐ - CP, tiểu công nghiệp là “doanh
nghiệp vừa và nhỏ, là các cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh
theo phát luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung
bình hàng năm không quá 300 người, và là doanh nghiệp được xếp hạng III tùy theo
ngành nghề nghề. Điểm xếp hạng, danh giới giữa doanh nghiệp hạng III với các hạng
khác quy định theo đặc điểm của các ngành đó”[4].
Trong Từ điển bách khoa Việt Nam (1995) thì Tiểu công nghiệp được định nghĩa
là: Tiểu công nghiệp, gồm những cơ sở sản xuất nhỏ, có trình độ trang bị kỹ thuật cơ
khí, nữa cơ khí, hoặc kỹ thuật tinh xảo; đa dạng hình thức sở hữu, với đa số quy mô
nhỏ và trình độ khác nhau; xu hướng tồn tại và phát triển lâu dài trong nền kinh tế hiện
đại; đặc điểm của mô hình này là: vốn ít, máy móc thiết bị và mặt bằng sản xuất nhỏ;
cơ cấu sản xuất đa dạng và linh hoạt; khả năng quản lý gọn nhẹ. Có thể kết hợp vừa
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu khái niệm TTCN là toàn bộ cơ sở sản xuất
có quy mô nhỏ, được tiến hành bằng các kỹ thuật thủ công kết hợp với máy móc cơ
khí, chuyên sản xuất các mặt hàng tiêu dùng phi nông nghiệp truyền thống được tiến
hành sản xuất ở nông thôn, ở làng nghề, thị trấn, thị tứ và đô thị.
d. Khái niệm về Tiểu, thủ công nghiệp truyền thống:
Nghề TTCN ở Việt Nam thường được phát triển trong các thôn, làng xã và được
gọi là làng nghề. Làng nghề ở nông thôn Việt Nam có bề dày lịch sử lâu đời, nhưng
nhìn chung thì quy mô sản xuất nhỏ, lao động thủ công là chủ yếu và lực lượng lao
động trông làng nghề thường mang tính chất gia đình, không được đào tạo mà chủ yếu
dựa vào kinh nghiệm, cha truyền con nối tại quê nhà
Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công. Về cơ bản có hoạt
động sản xuất cùng ngành nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở từng hộ gia đình
11
và các cơ sở sản xuất trong làng; có sử dụng lao động trong và ngoài địa phương, phát
triển tới mức trở thành nguồn sống chính hoặc thu nhập chủ yếu của người dân trong
làng; có ít nhất một sản phẩm đặc trưng của làng đó [5]. Đặc trưng cơ bản của nghề
thủ công truyền thống là sử dụng công cụ, kĩ thuật và công nghệ sản xuất truyền thống
độc đáo với đội ngũ nghệ nhân và thợ lành nghề
Nghề TTCN truyền thống: Nghề TTCN truyền thống là những ngành nghề phi
nông nghiệp phát triển tới mức trở thành nguồn thu nhập chính, nuôi sống một bộ phận
dân cư cộng đồng; là những ngành nghề thủ công ra đời trong lịch sử được truyền từ
đời này sang đời khác, tồn tại đến ngày nay, trong đó bao gồm cả những nghề được cải
tiến hoặc sử dụng những máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ
những công nghệ truyền thống. Và đặc biệt sản phẩm của nó thể hiện được nét văn hóa
đặc sắc của dân tộc, có giá trị và chất lượng cao, vừa là hàng hóa vừa là sản phẩm văn
hóa nghệ thuật, mỹ thuật, thậm chí trở thành các di sản văn hóa của dân tộc [3].
1.1.1.2. Khái niệm Nông thôn, Nông thôn mới, kinh tế nông thôn
sống văn minh, môi trường sạch đẹp và an ninh quốc phòng vững mạnh; đời sống vật
chất, tinh thần của người dân được nâng cao. Điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với sự
nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp
cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Nông thôn mới không
chỉ là vấn đề KT - XH, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp. Ngoài ra, xây dựng
nông thôn mới còn giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết
giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh.
c. Kinh tế nông thôn:
Theo Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, kinh tế nông thôn (KTNT) là một
khu vực của nền kinh tế gắn liền với địa bàn nông thôn. KTNT vừa mang những đặc
trưng chung của nền kinh tế về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, về cơ chế kinh
tế... vừa có những đặc điểm riêng gắn liền với nông nghiệp, nông thôn. Vậy KTNT là
một phức hợp những nhân tố cấu thành của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất
trong nông - lâm - ngư nghiệp cùng với các ngành thủ công nghiệp truyền thống, các
ngành tiểu thủ công nghiệp chế biến và phục vụ nông nghiệp, các ngành thương
nghiệp và dịch vụ… tất cả có quan hệ hữu cơ với nhau trong kinh tế vùng và lãnh thổ
và trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Nếu xét về mặt kinh tế - kỹ thuật, kinh tế nông thôn có thể bao gồm nhiều ngành
kinh tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, TTCN, dịch vụ... trong đó nông
nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp là ngành kinh tế chủ yếu. Nếu xét về mặt KT - XH,
13
kinh tế nông thôn cũng bao gồm nhiều thành phần kinh tế: kinh tế nhà nước, kinh tế
tập thể, kinh tế cá thể... Xét về không gian và lãnh thổ, kinh tế nông thôn bao gồm các
vùng như: vùng trồng lúa, vùng trồng rau, vùng trồng cây ăn quả... [1].
Vậy KTNT là tổng thể các hoạt động diễn ra trên địa bàn nông thôn, có quan hệ
chặt chẽ với nông nghiệp.
1.1.2. Đặc điểm của ngành tiểu, thủ công nghiệp tại Việt Nam
Với đặc điểm sản xuất nông nghiệp là theo mùa vụ chỉ tập trung vào một số
tháng trong năm và diện tích đất canh tác bình quân đầu người vào loại thấp, nên đã
dẫn đến tình trạng thất nghiệp thời vụ ở khu vực nông thôn ngày càng cao. Do vậy, vấn
đề giải quyết công ăn việc làm cho lao động ở nông thôn hết sức khó khăn, đòi hỏi sự
hỗ trợ nhiều mặt của các ngành nghề và khu vực. Việc mở mang, đầu tư phát triển
ngành nghề ở các làng nghề TTCN là một trong những biện pháp tốt nhất để huy động
nguồn lao động dư thừa ngày càng tăng ở khu vực nông thôn. Bởi vì, sản xuất TTCN
chủ yếu thực hiện bằng thủ công, không đòi hỏi cao về chuyên môn, kỹ thuật như đối
với các lĩnh vực khác. Người nông dân có thể xen kẽ phát triển TTCN trong thời gian
nhàn rỗi trong sản xuất nông nghiệp quanh năm. Theo kết quả điều tra của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, bình quân một cơ sở sản xuất chuyên ngành nghề tạo
ra việc làm ổn định trên 20 người, mỗi hộ gia đình tạo việc làm ổn định trên 6 người,
nhiều làng nghề tạo việc làm trên 50 lao động và sử dụng phần lớn lao động nông
nhàn. Thu nhập từ TTCN cao gấp 4 lần so với thu nhập bình quân trong nông nghiệp.
Điều này khẳng định vai trò rất lớn của các ngành TTCN trong việc cải thiện đời sống
ngày càng cao cho dân chúng.
Mặc khác, sự phát triển của các làng nghề đóng vai trò tích cực trong việc hạn
chế di dân tự do từ nông thôn ra thành thị. Người dân nông thôn khi có việc làm và thu
nhập ổn định, mà nguồn thu nhập này lại cao hơn thu nhập từ sản xuất nông nghiệp thì
họ sẽ không muốn đi tìm việc làm nơi khác. Bên cạnh đó, các cơ sở sản xuất thủ công
trong làng nghè còn là nơi thu hút được một lực lượng đông đảo, già trẻ, người tàn tật
tham gia sản xuất ở những công đoạn đơn giản. Qua đó, góp phần tạo công ăn việc làm
cho người lao động, tăng thu thập, cải thiện đời sống nhân dân, giảm tỷ lệ nghèo, góp
phần ổn định về chính trị vã xã hội. Đây cũng là một trong những chính sách của Đảng
và Nhà nước ta trong vấn đề quốc kế dân sinh. Vì vậy, việc phát triển TTCN là hết sức
cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
15
năng, lợi thế của địa phương.
16
1.1.3.5. Phát triển các nghề tiểu thủ công nghiệp sẽ góp phần bảo tồn và phát huy bản
sắc văn hóa dân tộc của địa phương
Làng nghề là một môi trường kinh tế, xã hội và văn hóa thu nhỏ. Lịch sử phát
triển kinh tế cũng như phát triển nền văn hóa Việt Nam luôn gắn liền với lịch sử phát
triển của các làng nghề truyền thống. Làng nghề là nơi bảo lưu những tinh hoa nghệ
thuật và kỹ năng từ đời này sang đời khác, được hun đúc từ bàn tay các thế hệ nghệ
nhân tài ba và những sản phẩm độc đáo mang bản sắc riêng. Bởi vậy, các làng nghề
truyền thống cần được coi trọng, bảo tồn và phát triển. Bảo tồn và phát triển các làng
nghề là tăng thêm sức mạng nguồn cội, gieo vào lòng mỗi người Việt Nam tình cảm
dân tộc, yêu quý, giữ gìn di sản và bản sắc dân tộc.
1.1.4. Nhân tố tác động đến sự phát triển tiểu, thủ công nghiệp
Quá trình hình thành và phát triển các ngành nghề TTCN chịu ảnh hưởng của
nhiền nhân tố tự nhiên, kinh tế, xã hội. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến sự phát
triển gồm có:
1.1.4.1. Cơ chế chính sách về phát triển các nghề TTCN
Để phát triển các nghề TTCN thì vai trò của Nhà nước là hết sức quan trọng. Cơ
chế và chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng đến sự phát triển nghề TTCN. Nhà
nước phải tạo ra hành lang phát lý và môi trường kinh doanh thuận lợi, hệ thống chính
sách phải đồng bộ và phù hợp với thực trạng nền kinh tế trong từng thời kỳ, là động
lực thúc đẩy, kích thích ngành nghề TTCN phát triển, góp phần khai thác một cách tốt
nhất các tiềm năng của địa phương, bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống văn
hóa của dân tộc. Nếu chính sách đề ra tốt, phù hợp sẽ thúc đẩy TTCN và ngược lại nếu
chính sách không sát thực, không phù hợp thì sẽ kìm hãm sự phát triển của các ngành
Trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao
động, chất lượng và giá thành sản phẩm, đến năng lực cạnh tranh của các sản phẩm
hàng hóa trên thị trường. Hiện nay, phần lớn các cơ sở sản xuất TTCN vẫn sử dụng lao
động thủ công, bán cơ khí là chủ yếu nên sản phẩm làm ra chất lượng sản phẩm còn
thấp, không đồng bộ, giá thành còn cao, khả năng cạnh tranh trên thị trường còn kém.
Vì vậy, để có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, nâng cao
năng suất, chất lượng sản phẩm cần phải đổi mới trang thiết bị, khoa học công nghệ
vào các lĩnh vực sản xuất.
1.1.4.5. Nhu cầu người tiêu dùng
Tất cả các sản phẩm khi mang ra thị trường đều phải tuân thủ theo quy luật cung
cầu của thị trường. Sản phẩm phải đáp ứng được nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng
thì mới có thể tiêu thụ được như chất lượng sản phẩm tốt, mẫu mã đa dạng. Tuy nhiên,
sản phẩm của ngành TTCN của Việt Nam nhìn chung còn đơn điệu, chất lượng chưa
18
cao, kiểu dáng, mẫu mã chưa phong phú, chưa đáp ứng được thị hiếu tiêu dùng của
người tiêu nên đa số chỉ tiêu thụ trong nước, chỉ có một số ít mặt hàng được xuất khẩu
ra bên ngoài. Vì vậy, việc nắm bắt được thị hiếu người tiêu dùng và đáp ứng được
những thay đổi thị hiếu đó sẽ là vấn đề hết sức cần thiết cho quá trình tiêu thụ sản phẩm.
1.1.4.6. Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng là nhân tố có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi và thúc đẩy sản xuất
phát triển. Giao thông vận tải là yếu tố quan trọng trong việc vận chuyển hàng hóa từ
nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ, vận chuyển các đầu vào cho quá trình sản xuất. Do vậy,
hệ thống đường xá và các phương tiện giao thông vận tải phát triển sẽ bảo đảm cho
quá trình lưu thông hàng hóa được thông suốt, kịp thời.
Sự phát triển của các nghề TTCN cũng chịu ảnh hưởng bởi hệ thống cung cấp
điện, nước, và thoát nước. Vì chúng ảnh hưởng trực tiếp tới việc đưa thiết bị, công
1.2.1.1.
Nhật Bản
Nhật Bản rất quan tâm, chú trọng trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề
TTCN truyền thống. Qua thống kê, Nhật Bản có 867 nghề thủ công truyền thống như
đan lát, dệt chiếu, chế biến lương thực, thực phẩm, thủ công mỹ nghệ, dệt lụa, rèn
công cụ. Nhũng năm 70 của thế kỉ XX, ở tỉnh OITA có phong trào “Mỗi nông thôn
một sản phẩm” nhằm phát triển nghề cổ truyền trong nông thôn, và ngay những năm
đầu tiên của phong trào họ đã có được 143 loại sản phẩm với doanh thu 1,2 tỷ USD.
Phong trào này đã nhanh chóng lan rộng khắp nước Nhật.
Biện pháp hàng đầu mà Nhật Bản áp dụng để hiện đại hóa ngành TTCN là đầu tư
để đào tạo các nhà cố vấn dưới sự hỗ trợ của trên 300 viện đào tạo nghề. Biện pháp tiếp
theo là chú trọng tài trợ vốn cho phát triển TTCN thông qua việc thành lập nhiều ngân
hàng phục vụ TTCN phát triển. Năm 1974, “Luật nghề truyền thống” đã được ra đời.
Như vậy cho dù là một đất nước công nghiệp hiện đại và phát triển rất mạnh như
ở Nhật Bản thì ngành nghề TTCN vẫn được quan tâm, phát triển. Hiện nay, Nhật Bản
vẫn đang có nhiều mặt hàng dân dụng được sản xuất bằng phương pháp kỹ thuật
truyền thống, góp phần làm phong phú sản phẩm hàng hóa và phát triển kinh tế của đất
nước, của khu vực [2].
1.2.1.2.
Thái Lan
Trong những năm 60 của thế kỷ XX, Thái Lan vẫn còn là nước lạc hậu, yếu kém về
nông nghiệp và công nghiệp nên họ đã lựa chọn con đường công nghiệp hóa - hiện đại
hoá, để nâng cao mức sống của người dân nông thôn, đi đôi với việc khuyến khích phát
triển nông nghiệp theo hướng xuất khẩu. Chính phủ Thái Lan chủ động phát triển các làng
20
Tỉnh Bắc Ninh được cả nước biết đến không chỉ bởi những làn điệu quan họ
mượt mà, mà còn là địa phương có nhiều nghề tiểu thủ công nghiệp cổ truyền. Bắc
Ninh có một hệ thống với 64 làng nghề, sự tồn tại và phát triển của các làng nghề đã
góp phần quan trọng vào phát triển KT - XH của Tỉnh, tính từ năm 1997 - 2011, giá trị
21
sản xuất của khu vực làng nghề tiểu thủ công nghiệp chiếm 75 - 80% giá trị sản xuất
công nghiệp ngoài quốc doanh và trên 30% giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh; giải
quyết việc làm cho lao động nông thôn, tăng thu nhập, nâng cao mức sống và bảo đảm
an sinh xã hội. Trong những năm gần đây, với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành
phần, các làng nghề và ngành nghề truyền thống được khôi phục và phát triển mạnh
mẽ.
Để có được kết quả như trên, tỉnh Bắc Ninh đã và đang thực hiện nhiều giải pháp
quan trọng như xây dựng và quản lý các cụm công nghiệp làng nghề, đa dạnh hóa các
hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh, mở rộng và phát triển đồng bộ thị trường, nâng
cao chất lượng sản phẩm, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao,... Trong đó, nổi bật
nhất là chủ trương xây dựng các khu và cụm làng nghề tiểu thủ công nghiệp với các
chính sách ưu đãi để khuyến khích nhiều doanh nghiệp tham gia. Tỉnh Bắc Ninh đã
chủ trương phát triển làng nghề theo hướng đa dạng hóa hình thức sở hữ, mô hình tổ
chức sản xuất, ưu tiên áp dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, kết hợp với công nghệ cổ
truyền trong các làng nghề. Song song với phát triển làng nghề tiểu, thủ công nghiệp,
còn đặc biệt quan tâm tới vấn đề môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững
như quy hoạch hạ tầng cho các làng nghề, di dời các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp gây ô nhiễm nằm xen kẽ trong khu dân cư đến các khu sản xuất tập trung [5].
1.2.2.2.
Kinh nghiệm tỉnh Lào Cai
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, sản
có sự quan tâm hỗ trợ một cách toàn diện của Chính quyền địa phương, Đảng và Nhà
nước, như: ban hành những quy định, pháp chế, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho
việc sản xuất kinh doanh; hỗ trợ giúp đỡ cho người lao động, làm nghề tiếp cận được
nguồn vốn (vay vốn không cần thế chấp hoặc vay vốn với lãi suất thấp); tạo nền tảng
và động lực cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, hộ gia đình trong ngành TTCN phát
triển. Chính quyền địa phương phải đảm bảo nguồn nguyên liệu, nâng cấp cơ sở hạ
tầng, tăng cường mở thêm các trung tâm, trường dạy nghề để đào tạo lao động, quảng
bá sản phẩm của thị xã ra thị trường,...
Hai là, việc sản xuất các loại hàng hóa phải xuất phát từ nhu cầu thị trường. Các
doanh nghiệp, cơ sở sản xuất cần phải nghiên cứu, tìm tòi cải tiến mẫu mã; áp dụng
các công nghệ kỹ thuật mới, hiện đại nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm
đáp ứng được các yêu cầu cơ bản của thị trường và hạn chế ô nhiễm môi trường. Qua
đó, mới có thể cạnh tranh với những sản phẩm cùng loại trong và ngoài tỉnh.
23
Ba là, tăng cường việc đào tạo nâng cao trình độ học vấn, trình độ chuyên môn
cho người lao động thông qua việc mở ra các trung tâm đào tạo, trường dạy nghề, viện
nghiên cứu trên địa bàn thị xã. Việc dạy nghề cho người lao động phải phù hợp với
định hướng phát triển các ngành nhề của địa phương, đảm bảo sau khi học xong người
lao động có việc làm ngay. Bên cạnh đó, cần tôn vinh những nghệ nhân, người trực
tiếp làm nên các sản phẩm thủ công độc đáo; quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ để họ có
thể vững tâm tiếp tục làm nghề.
Bốn là, thành lập các tổ chức, hiệp hội, liên doanh hợp tác xã ngành nghề TTCN
và phát huy vai trò của nó trong việc hỗ trợ các vấn đề về vốn, thị trường tiêu thụ, đào
tạo, nguồn nguyên liệu,...
Năm là, phát triển các nghề TTCN, đặc biệt là các làng nghề phải xuất phát từ
những chính sách bảo tồn và phát triển truyền thống. Những làng nghề mang những
nét đặc sắc riêng biệt, tạo nên một quần thể văn hóa đặc trưng riêng của từng vùng
thường là nơi thu hút nhiều sự quan tâm của du khách trong và ngoài nước. Vì vậy, cần
Thị xã Hương Thủy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có nhiệt độ quanh
năm ở mức cao và có lượng mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 25 0C đến
270C, nhiệt độ trung bình năm cao nhất vào tháng 7 khoảng 29,9 0C, nhiệt độ trung bình
năm thấp nhất vào tháng 1 khoảng 19,90C. Lượng mưa trung bình là 2844mm/năm và
phân bố không đồng đều. Mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng 12, chiếm khoảng 60%
lượng mưa cả năm. Độ ẩm trung bình là 85% - 90%. Thời kì khô từ tháng 5 đến tháng 9,
thời kì ẩm từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau. Thị xã Hương Thủy có 2 mùa gió chính là
25