ĐỀ TÀI:
TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA FDI ĐẾN KHU VỰC KINH TẾ TRONG NƯỚC
1
MỤC LỤC
Chương 1:
KHÁI QUÁT CHUNG
I. FDI
1. Khái niệm
2. Các hình thức đầu tư nước ngoài
3. Vai trò FDI
3.1Đối với nước đi đầu tư
3.2 Đối với nước nhận đầu tư
II. TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA FDI
1. Khái niệm
2. Các kênh chủ yếu xuất hiện tác động tràn
2.1Kênh di chuyển lao động
2.2Kênh phổ biến & chuyển giao công nghệ
2.3Kênh liên kết sản xuất
2.4Kênh cạnh tranh
Chương 2:
TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA FDI ĐẾN KHU VỰC KINH TẾ TRONG NƯỚC
I. Tình hình thu hút FDI ở Việt nam trong những năm qua
II. Thực trạng tác động tràn của FDI đến khu vực kinh tế trong nước
1. Kênh di chuyển lao động
2. Kênh phổ biến & chuyển giao công nghệ
3. Kênh liên kết sản xuất
4. Kênh cạnh tranh
III. Nguyên nhân của tác động tràn đối với khu vực kinh tế trong nước
Chương 3:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA FDI
KẾT LUẬN
nhà đầu tư nước ngoài với một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước (sau đây gọi tắt là các
bên hợp doanh) thì nội dung hợp đồng hợp tác kinh doanh phải có quy định về quyền
lợi, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên hợp doanh.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí
và một số tài nguyên khác theo hình thức hợp đồng phân chia sản phẩm thực hiện theo
quy định của pháp luật có liên quan và Luật Đầu tư.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh được ký giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau để
tiến hành đầu tư, kinh doanh thực hiện theo quy định của pháp luật về hợp đồng kinh tế
và pháp luật có liên quan.
Trong quá trình đầu tư, kinh doanh, các bên hợp doanh có quyền thoả thuận thành
lập ban điều phối để thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh. Chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn của ban điều phối do các bên hợp doanh thỏa thuận. Ban điều phối không
phải là cơ quan lãnh đạo của các bên hợp doanh.
Bên hợp doanh nước ngoài được thành lập văn phòng điều hành tại Việt Nam để làm
đại diện cho mình trong việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh.
4
Văn phòng điều hành của bên hợp doanh nước ngoài có con dấu; được mở tài khoản,
tuyển dụng lao động, ký hợp đồng và tiến hành các hoạt động kinh doanh trong phạm vi
các quyền và nghĩa vụ quy định tại Giấy chứng nhận đầu tư và hợp đồng hợp tác kinh
doanh.
b) Doanh nghiệp liên doanh: là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác
thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định ký giữa Chính
phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh
nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam
hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng
liên doanh.
Nhà đầu tư nước ngoài được liên doanh với nhà đầu tư trong nước để đầu tư thành
lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp
danh theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và pháp luật có liên quan.
Doanh nghiệp thực hiện đầu tư theo hình thức liên doanh có tư cách pháp nhân theo
có thể giảm được giá so với trước đây nhập từ nước khác. Nếu sử dụng giá lao động rẻ
của nước ngoài để sản xuất linh kiện rồi xuất về trong nước để sản xuất thành phẩm, họ
có thể giảm được giá thành phẩm mà trước đây họ phải nhập khẩu.
Trong dài hạn, việc đầu tư ra nước ngoài sẽ đem lại ảnh hưởng tích cực cho cán cân
thanh toán quốc tế của nước đầu tư. Đó là do việc xuất khẩu thiết bị máy móc, nguyên
vật liệu cộng với một phần lợi nhuận được chuyển về nước đã đem ngoại tệ trở lại cho
nước đầu tư. Các chuyên gia ước tính thời gian hoàn vốn cho một dòng tư bản trung
bình là từ 5 đến 10 năm.
3.1.2 Các tác động tiêu cực
- Trước mắt, do sự lưu động vốn ra nước ngoài mà việc đầu tư trực tiếp này lại gây ra
ảnh hưởng tiêu cực tạm thời cho cán cân thanh toán quốc tế. Nguyên nhân là do trong
năm có đầu tư ra nước ngoài, chi tiêu bên ngoài của nước đầu tư tăng lên và gây ra sự
thâm hụt tạm thời trong cán cân thanh toán ngân sách. Vì vậy, nó khiến một số ngành
trong nước sẽ không được đầu tư đầy đủ.
- Việc xuất khẩu tư bản có nguy cơ tạo ra thất nghiệp ở nước đầu tư. Hãy xem xét
một trong những nguyên nhân mà các nhà tư bản đầu tư ra nước ngoài là nhằm sử dụng
lao động không lành nghề, giá rẻ của những nước đang phát triển. Điều này tất yếu làm
tăng thất nghiệp cơ cấu trong số lao động không lành nghề của nước đầu tư. Thêm vào
6
đó, nước sở tại lại có thể xuất khẩu sang nước đầu tư hoặc thay cho việc nhập khẩu trước
đây từ nước đầu tư, họ tự sản xuất được hàng hoá cho mình càng làm cho nguy cơ thất
nghiệp này thêm trầm trọng. Xu hướng giảm mức thuê mướn nhân công ở nước chủ đầu
tư và tăng mức thuê công nhân ở nước sở tại dẫn đến sự đối kháng về lao động ở nước
đầu tư và quyền lợi lao động ở nước chủ nhà.
3.2 Đối với nước tiếp nhận đầu tư
3.2.1 Tác động tích cực
FDI bổ sung vốn cho nền kinh tế: FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển
mà còn là một luồng vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác, bởi FDI
dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và không tạo ra nợ
cho chính phủ nước tiếp nhận đầu tư, do vậy, ít có khuynh hướng thay đổi khi có tình
lớn và 45% chi nhánh của các TNC vừa và nhỏ thực hiện các hoạt động R&D ở các
nước đang phát triển. Trong những năm gần đây, xu hướng này còn tiếp tục tăng nhanh
ở các nước đang phát triển châu á. Mặt khác, trong quá trình sử dụng các công nghệ
nước ngoài (nhất là ở các doanh nghiệp liên doanh) các doanh nghiệp trong nước học
được cách thiết kế, chế tạo từ công nghệ nguồn, sau đó cải biến cho phù hợp với điều
kiện sử dụng của mình. Đây là một trong những tác động tích cực quan trọng của FDI
đối với việc phát triển công nghệ ở các nước đang phát triển.
FDI giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm: Phát triển nguồn nhân lực và tạo
việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu của nhà đầu tư
nước ngoài là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố chỗ đứng và duy trì thế cạnh tranh trên
thị trường thế giới. Do đó, họ đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở
các nước tiếp nhận đầu tư. Số lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI
ngày càng tăng nhanh ở các nước đang phát triển. Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch
vụ và gia công cho các dự án FDI cũng tạo ra thêm nhiều cơ hội việc làm. Trên thực tế,
ở các nước đang phát triển, các dự án FDI sử dụng nhiều lao động đào tạo nhiều việc
làm cho phụ nữ trẻ. Điều này không chỉ mang lại cho họ lợi ích về thu nhập cao mà còn
góp phần quan trọng vào sự nghiệp giải phóng phụ nữ ở các nước này. FDI cũng có tác
động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nước chủ nhà thông qua các dự án đầu
tư vào lĩnh vực giáo dục đào tạo. Các cá nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ
và kỹ năng quản lý tiên tiến. Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến
việc cải thiện nguồn nhân lực ở các công ty khác mà họ có quan hệ, đặc biệt là các công
ty bạn hàng. Những cải thiện về nguồn nhân lực ở các nước tiếp nhận đầu tư còn có thể
đạt hiệu quả lớn hơn khi những người làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang
làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự mình thành lập doanh nghiệp mới.
8
Đầu tư nước ngoài còn có vai trò đáng kể đối với tăng cường sức khoẻ và dinh dưỡng
cho người dân nước chủ nhà thông qua các dự án đầu tư vào ngành y tế, dược phẩm,
công nghệ sinh học và chế biến thực phẩm.
FDI giúp mở rộng thị trường và thúc đẩy xuất khẩu: Xuất khẩu là yếu tố quan trọng
biệt là sau khi TNCs thu hồi vốn.
- Vấn đề việc làm không phải lúc nào cũng đi theo chiều hướng mong đợi của chúng
ta, những nước tiếp nhận vốn đầu tư. Những năm gần đây, do sự phát triển của khoa học
công nghệ, lao động không lành nghề trở nên có hiệu suất thấp. Thực tế cho thấy, các
công ty có vốn FDI nhìn chung ít sử dụng lao động tại chỗ (trừ những doanh nghiệp gia
công xuất khẩu hoặc doanh nghiệp chỉ sử dụng công nhân với lao động giản đơn, dễ đào
tạo) và để hạ giá thành sản phẩm, họ đã sử dụng phương thức sản xuất tập trung tư bản
nhiều hơn. Nó có tác động làm giảm việc làm, đi ngược với chiến lược việc làm của các
nước đang phát triển.
- Các ngành công nghiệp mới mẻ, hiện đại của các nước công nghiệp phát triển đã có
điều kiện xuất hiện ở những quốc gia này song chủ yếu lại bị các nước đầu tư kiểm soát,
kết cấu kinh tế thì bị phụ thuộc vào đối tượng ngành hàng sản xuất mà nước đầu tư
quyết định kinh doanh. Không chỉ có vậy, sự dịch chuyển những kỹ thuật công nghệ
kém tiên tiến, tiêu hao nhiều năng lượng từ các nước đầu tư đã gây ra ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác quá mức
II. TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA FDI
Khái niệm: Kỳ vọng lớn nhất của các nước đang phát triển trong việc thu hút đầu tư
nước ngoài là nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế với hai lý do chính. Thứ nhất, đầu tư
nước ngoài được coi là một nguồn vốn quan trọng để bổ sung vốn đầu tư trong nước.
Thứ hai, đầu tư nước ngoài tạo cơ hội cho các nước nghèo tiếp cận công nghệ tiên tiến
hơn, dễ dàng chuyển giao công nghệ hơn, thúc đẩy quá trình phổ biến kiến thức, nâng
cao kỹ năng quản lý và trình độ lao động Tác động này được xem là tác động tràn của
đầu tư nước ngoài, góp phần làm tăng năng suất của các doanh nghiệp trong nước và
cuối cùng là đóng góp vào tăng trưởng kinh tế nói chung. Vậy Tác động tràn là tác động
gián tiếp xuất hiện khi có mặt của các doanh nghiệp FDI làm cho các doanh nghiệp
trong nước thay đổi hành vi của mình như thay đổi công nghệ, thay đổi chiến lược sản
xuất kinh doanh… Có 4 kênh xuất hiện tác động tràn nhiều nhất: kênh di chuyển lao
động, kênh phổ biến & chuyển giao công nghệ, kênh liên kết sản xuất và kênh cạnh
tranh.
1. Các kênh chủ yếu xuất hiện tác động tràn
bản xứ dùng nguyên liệu chất dẻo - plastic - do doanh nghiệp FDI cung cấp để sản xuất
các loại đồ dùng trong nhà). Trong cả hai trường hợp, công nghệ được chuyển giao từ
doanh nghiệp FDI sang doanh nghiệp bản xứ, và đây là hiệu quả lan toả lớn nhất, quan
11
trọng nhất nên các nước đang phát triển đặc biệt quan tâm và đưa ra các chính sách làm
tăng hiệu quả nµy.
1.3Kênh liên kết sản xuất
Kênh liên kết sản xuất là một kênh rất quan trọng tạo ra tác động tràn. Tác động
“ngược chiều” có thể xuất hiện nên các doanh nghiệp trong nước cung cấp nguyên liệu
hoặc phân phối sản phẩm của các doanh nghiệp nước ngoài. Mức độ tác động càng cao
nếu khối lượng sản phẩm phân phối hoặc nguyên liệu cung cấp càng nhiều, tức là quan
hệ tỷ lệ thuận.
Liên kết sản xuất bao gåm hai hình thức là liên kết dọc (sản phẩm của doanh nghiệp
này là nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp kia) và liên kết ngang (các doanh nghiệp
cùng sản xuất một loại sản phẩm).
1.4Kênh cạnh tranh
Sự xuất hiện của các doanh nghiệp FDI có thể tạo ra áp lực cạnh tranh lớn cho các
doanh nghiệp trong nước, trước hết là đổi mới doanh nghiệp trong cùng nhóm ngành.
Trong khu vực doanh nghiệp FDI chịu sức ép cạnh tranh lớn nhất giữa các doanh nghiệp
này với nhau thì các doanh nghiệp trong nước lại cho rằng họ đang chịu sức ép cạnh
tranh mạnh ngang nhau từ các doanh nghiệp FDI và chính các doanh nghiệp trong nước.
Trong khi doanh nghiệp FDI chịu áp lực mạnh nhất về sản phẩm như chủng loại, mẫu
mã, thì các doanh nghiệp trong nước lại đánh giá cao nhất về công nghệ có trình độ cao
hơn từ các doanh nghiệp FDI.
Chương 2:
TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA FDI ĐẾN KHU VỰC KINH TẾ
TRONG NƯỚC
I. TÌNH HÌNH THU HÚT FDI CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM
QUA
Đầu tư trực ếp của nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1988 -
2011 1191 15618.7 11000.1
13
Sơ bộ 2012 1287 16348 10046.6
Tổng vốn FDI đăng ký trong các điều ước quốc tế cụ thể từ năm 2000 đến 2012 đạt
trên 60 tỷ USD, Trong hai thập kỷ qua, tổng nguồn vốn FDI giải ngân đạt 11.5 tỷ USD.
14
15
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM THEO ĐỐI TÁC
(Lũy kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 15/12/2012)
Hiện có khoảng nhiều nhà tài trợ song phương và đa phương đang hoạt động, cung
cấp nguồn FDI cho nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội của Việt Nam. Riêng năm
2012, các doanh nghiệp Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam số vốn cấp mới và tăng thêm
đạt hơn 5 tỷ USD - chiếm gần 40% tổng vốn FDI vào Việt Nam 2012, tiếp tục là nhà
đầu tư Đài Loan đứng thứ hai với 24,9 tỷ USD. Hàn Quốc đứng thứ ba với 24,8 tỷ
USD. Singapore đứng thứ tư với 4,67 tỷ USD…
16
Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút được nhiều nhà đầu tư nhất
với tổng vốn đầu tư đăng ký là 103.5 tỉ USD, chiếm 50% tổng vốn đầu tư đăng ký năm
2013. Đứng thứ nhì là khu vực bất động sản, với tổng vốn FDI đăng ký là 49.7 tỷ USD,
chiếm 24% tổng vốn đăng ký năm 2013. Tiếp theo là dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm
5%
17
18
19
II. TÁC ĐỘNG TRÀN CỦA FDI ĐẾN KHU VỰC KINH TẾ TRONG NƯỚC
1. Kênh di chuyển lao động
Trong số lao động chuyển đi khỏi khu vực doanh nghiệp FDI, khoảng 42% là lao
động có kỹ năng, tỷ lệ thấp nhất trong nhóm ngành dệt may - da giày (37%) và cao nhất
là nhóm ngành chế biến thực phẩm (50,3%). Nếu so sánh chỉ tiêu này thì khả năng có
thể sinh ra tác động tràn ở ngành chế biến thực phẩm cao hơn là dệt may.
có nghĩa là khả năng xuất hiện tác động tràn cũng rất thấp theo kênh này.
2. Kênh phổ biến & chuyển giao công nghệ
Cho đến nay, chỉ tiêu hay được dùng để đo khả năng hấp thụ công nghệ là trình độ
học vấn hoặc chuyên môn của lao động trong doanh nghiệp và chỉ tiêu biểu thị cho đổi
mới công nghệ của doanh nghiệp thể hiện qua chỉ tiêu cho các hoạt động R&D. Năm
2003 các doanh nghiệp trong nước có tỷ lệ lao động có kỹ năng thấp hơn rất nhiều so
với tỷ trọng lao động kỹ năng của doanh nghiệp FDI. Đáng quan tâm hơn tỷ trọng này
còn có xu hướng giảm đi theo các năm
Các doanh nghiệp FDI chỉ tiêu cho hoạt động R&D cao gấp gần 3 lần so với các
doanh nghiệp trong nước, trong đó mức chênh lệch cao nhất ở nhóm ngành cơ khí - điện
tử. Nếu tính cả chỉ tiêu mức độ tập trung vốn thì có thể thấy sản phẩm có khí điện tử
của khu vực doanh nghiệp FDI có hàm lượng công nghệ cao hơn nhiều và vì vậy khả
năng năng xẩy ra tác động tràn là thấp.
Chi cho R&D ở nhóm ngành dệt may cao hơn hẳn so với ngành chế biến thực phẩm
và mức chênh lệch giữa doanh nghiệp trong và nước ngoài là thấp. Đáng lưu ý là xu
hướng giảm tỷ trọng chi tiêu bình quân cho R&D so với doanh thu trong khu vực doanh
nghiệp FDI, đặc biệt trong nhóm ngành cơ khí, điện tử. Điều này có thể có nhiều nguyên
nhân, chẳng hạn các doanh nghiệp không có đối thủ cạnh tranh trong nước.
Một yếu tố khác ảnh hưởng đến việc xuất hiện tác động tràn là khả năng tiếp cận
công nghệ mới của chính các doanh nghiệp FDI. Nhiều nghiên cứu cho rằng công nghệ
mới chủ yếu do các Công ty mẹ tạo ra, trong khi các Công ty con ở các nước đang phát
triển hầu như chi tập trung vào khâu sản xuất chiếm lĩnh thị trường dựa trên các lợi thế
về công nghệ do Công ty cung cấp. Vì vậy, khả năng tiếp cận công nghệ mới của các
Công ty con hoạt động ở nước nhận đầu tư càng cao, càng có lợi cho quá trình sinh ra
tác động tràn tích cực qua rò rỉ công nghệ. Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy tới 70%
doanh nghiệp FDI rất ít khi tiếp cận với công nghệ từ Công ty mẹ chuyển giao và 36%
cho rằng ý tưởng đổi mới công nghệ bắt nguồn từ nhu cầu thực tiễn cũa. Như vậy, thực
tế là các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam hoạt động khá độc lập với Công ty mẹ ở nước
21
ngoài đặc biệt là trong đầu tư đổi mới công nghệ. Có 2 cách lý giải cho điều này. Một là
Xuất khẩu 79.96 79.43 79.81
Tiêu thụ nội địa 20.04 20.57 20.19
Bán cho doanh nghiệp trong nước 35.79 33.97 34.11
Bán cho doanh nghiệp FDI 3.16 2.78 2.78
Tự phân phối 61.06 63.25 63.11
Thực phẩm
Xuất khẩu 2.58 27.76 23.21
Tiêu thụ nội địa 7.42 72.24 76.79
Bán cho doanh nghiệp trong nước 60.08 48.39 48.39
Bán cho doanh nghiệp FDI 13.06 13.48 13.03
Tự phân phối 26.85 38.14 38.58
Nguồn: Điều tra doanh nghiệp của CIEM
Hiệu quả lan toả từ FDI đến các thành phần khác trong nền kinh tế càng cao thì nội
lực càng được tăng cường. Qua sự liên kết giữa doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp
trong nước (SOEs, doanh nghiệp tư nhân, các đơn vị cá thể, ), công nghệ và năng lực
kinh doanh được chuyển giao từ doanh nghiệp FDI đến các thành phần khác của nền
kinh tế. Để kiểm chứng hiệu quả này, xét ngành cụ thể là ngành may mặc:
Dệt vải và may mặc là những ngành công nghiệp quan trọng của Việt Nam. Năm
2001, hai ngành này chiếm độ 11% giá trị tính thêm trong toàn bộ ngành công nghiệp
chế biến.Từ đầu thập niên 1990s, may mặc trở thành ngành xuất khẩu hàng đầu của Việt
Nam. Vào giữa thập niên 1990, ngành này chiếm 15% tổng kim ngạch xuất khẩu và độ
50% kim ngạch xuất khẩu hàng công nghiệp. Với sự lớn mạnh của ngành da giày và một
số ngành xuất khẩu khác, vị trí của ngành may mặc có giảm nhưng vẫn chiếm 10% tổng
kim ngạch xuất khẩu vào năm 2001.
23
Trong hai ngành may mặc và dệt nầy, các nước, các nền kinh tế đầu tư tích cực nhất
là Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Hong Kong. Nhiều công ty Nhật cũng tích cực.
Trừ Singapore, các dự án của các nước nầy có tỉ lệ xuất khẩu rất cao và tỉ lệ K/L thấp.
Điều nầy cho thấy các nước công nghiệp mới ở Á châu và Nhật Bản đã tận dụng lao
động Việt Nam để sản xuất và xuất khẩu mặt hàng điển hình có hàm lượng lao động cao.
đổi mới để vươn lên đứng vững trên thị trường, từ đó năng suất sản xuất được cải thiện.
Đó chính là tác động tích cực của FDI. Kết quả nghiên cứu cho thấy các DN qui mô
lớn chậm đổi mới trang thiết bị sẽ bị tác động cạnh tranh nhiều, còn DN vừa và nhỏ
dường như có lợi thế về tính linh hoạt nên tránh được sức ép cạnh tranh hơn.
Vì vậy, để tận dụng tốt những lợi thế của FDI vào Việt Nam thì chính sách khuyến
khích FDI của Chính phủ và các địa phương cần hướng tới đạt được cả tác động tích cực
trực tiếp lẫn gián tiếp.
4. Kênh cạnh tranh:
Thực tế cho thấy, trong khi khu vực doanh nghiệp FDI chịu sức ép cạnh tranh lớn
nhất giữa các doanh nghiệp này với nhau, thì các doanh nghiệp trong nước lại cho rằng
họ đang chịu sức ép cạnh tranh mạnh ngang nhau từ doanh nghiệp FDI và chính các
doanh nghiệp trong nước. Trong khi doanh nghiệp FDI chịu áp lực mạnh nhất về sản
25